Thứ Tư, 24 tháng 6, 2009

Chuyện một gia đình - p1: Thánh, Thiện, thằng Bé

1.
Không biết tại sao sáng nay lại tỉnh dậy với giấc mơ về gia đình nọ. Tôi không biết diễn tả bằng từ nào để trỏ chính xác một cách ngắn gọn mối quan hệ của tôi với họ. Đó là một gia đình đã cùng ở trong một dãy nhà khu tập thể cấp 4 đến hơn chục năm tuổi nhỏ của tôi. Vậy trước hết họ là hàng xóm cũ. Lại có quan hệ cùng làm việc giữa những người lớn với nhau - mặc dù nó rất lỏng lẻo, tôi sẽ kể sau - nhưng tôi thấy hơi là lạ khi dùng từ hàng xóm cho những gia đình sống cùng một khu tập thể, cộng đồng này mới hơn bản thân từ "hàng xóm" và trong cuộc sống chúng ta cũng vẫn thường gọi đơn giản họ là "những người sống cùng khu tập thể". Tôi bằng tuổi thằng út-thằng Bé, chúng tôi chơi với nhau thứ tình bạn của trẻ nhỏ như bao đứa bạn khác nên cũng có thể coi nó là bạn cũ của tôi. Nhưng thậm chí ngay từ ngày đó việc tôi chơi với nó cũng không khác gì chơi với các thành viên khác trong gia đình họ nên cố định mọi người theo cách "gia đình người bạn cũ" lại thấy thiên lệch. Đây đâu phải trò chơi chữ, nhưng sự loay hoay này chính là cái cách để tôi bắt đầu những ký ức về họ, một gia đình mà tôi có mối quan tâm thật khác biệt.

Để rành mạch có lẽ phải kể đôi điều về khu tập thể, cái ốc đảo giữa nông thôn của chúng tôi ngày đó. Ký ức gia đình của tôi về nơi đó thường đọng lại bằng mấy hình ảnh "Căn nhà, Vườn điền thanh và Ô cửa sổ" nhưng với những người hàng xóm cũ sẽ thiếu sót rất nhiều nếu không nhắc đến hàng hiên và khoảng sân trước dãy nhà. Cũng như cho lũ trẻ sẽ là hàng xoan ở bờ mương đầu hồi. Tôi chép lại đây một đoạn ký ức cũ.

Khu tập thể 1 tầng 10 căn nhưng căn đầu vốn là nhà trẻ sau đó để hoang. Còn lại là 9 gia đình. Mỗi gia đình ở trong 1 gian nhà rộng khoảng 3,5m sâu độ 10m. Bếp nằm phía sau, ở giữa có 1 giếng trời khoảng 2m. Đằng trước chỉ có 1 cái cửa 2 cánh ở chính giữa. Phía sau có cái cửa sổ mở ra giếng trời. Góc giếng trời có 1 cái bể nước có nắp khoảng 1m3. Hàng ngày phải gánh nước đổ vào bể. Cạnh bể nước, bên dưới cửa sổ để 2 cái xô. Trong bếp gần 1 nửa bên tay trái là chuồng lợn, phần còn lại gồm 1 chỗ để trấu và củi, 1 phần là bếp củi. Cũng có thời gian nhà đắp bếp lò nhưng ít thôi. Trước mỗi nhà là 1 khoảng sân có chiều rộng khoảng hơn 3m. Thường là làm giàn mướp ở bên trên. Mỗi nhà thường trồng 1 cây gì đó, phần nhiều là xoan để có thể kết hợp bắc giàn mướp. Tiếp theo nữa là 1 mảnh vườn dài, chia làm nhiều phần, gần nhà trồng rau, tiếp theo có thể trồng khoai lang. Tiếp nữa là mảnh đất trũng ngập nước thường để hoang hay trồng điền thanh. Khu tập thể nằm giữa vùng đất trống. Một phía là cánh đồng, 1 phía là phía sau bệnh viện, gần nhà xác. Hồi bé lũ trẻ con chúng tôi thường ra rình ở đấy để được xem người chết hay mổ pháp y.

Khu tập thể ngày đó là như vậy, nó là một cộng đồng khá khép kín với vùng nông thôn xung quanh nhưng những sự kiện bên trong bản thân nó thì lại liên thông đến toang hoác. Nhưng gia đình mà tôi đang nhắc đến đây lại gần như khu biệt với mọi người do hoàn cảnh khá khác biệt của họ. Họ hầu như chỉ là một thứ họ hàng xa của cộng đồng (với người lớn, còn bọn trẻ con chúng tôi thì không có vấn đề ấy). Vì họ có hoàn cảnh khác biệt.

Hồi xa lắc, nhà họ chưa ở trong khu tập thể từ đầu mà còn ở biệt lập ngoài phía bờ sông, cạnh đường cái. Căn nhà mái ngói cũ rích mà tôi còn nhớ rất rõ những viên gạch đỏ loét gần như mủn ra trên những bức tường của nó sau khi lớp vữa đã bong tróc hầu như toàn bộ. Nhưng hồi đó khuôn viên của nó lớn hơn điều kiện căn hộ của chúng tôi nên nó thật đáng chú ý. Bác gái vốn là nhân viên sơ cấp của Hiệu thuốc (hình như còn gọi là Cửa hàng Dược) nhưng đã nghỉ mất sức từ rất lâu vì bị tâm thần nhẹ. Suốt ngày ngồi thơ thẩn và cười vu vơ. Chỉ luôn luôn như vậy và cũng vẫn hơi biết làm việc nhà cũng như vẫn nhận được mọi người quen xung quanh nhưng hình như không còn khả năng phán đoán về họ nữa. Nhà có đến bốn người con, một gái thứ nhì và ba trai; anh lớn nhất hơn tôi 7 tuổi đến đứa út thì cùng tuổi tôi. Khi tôi biết nhớ thì họ đã ở đấy rồi, trong căn nhà bờ sông, và còn có bà nội của thằng Bé. Lúc đó bà đã quá già và mất sau đó không lâu nên những điều tôi nhớ về bà thật ít ỏi: một cụ già răng nhuộm ăn trầu chống gậy tre với cái lưng còng sát đất, khá nhanh nhẹn mặc cho khuôn mặt đã móm mém và nhăn nheo hết sức. Bà hiền lành, cư xử hiểu biết thân thiện với mọi người; hàng ngày tất bật đôn đáo việc nhà thay cho con dâu ở cái tuổi đã ngoài 80. Nhưng tất cả những điều đó chỉ làm nổi bật sự tương phản buồn rầu trong một bức tranh tối mầu có bối cảnh ngổn ngang mà bà chỉ như một vệt sáng mờ phía hậu cảnh. Bác T là con trai duy nhất của bà, một người con rơi đối với ông bố hình như làm đến tận hàm tướng ở trong miền Nam. Thậm chí hình như bà là vợ cả nhưng điều đó đã không có ý nghĩa gì từ rất lâu và không còn tồn tại bất cứ mối liên hệ nào giữa họ nữa.

Không hưởng chút lợi ích nào từ ông bố tướng quân, bác T đi hết cuộc chiến tranh và giải ngũ với chân lính trơn và một nghề tay ngang là làm thầy lang-nhưng hầu như chúng tôi không thể biết bác cắt thuốc cho ai. Trong mắt những người cùng khu tập thể Dược bác đơn giản chỉ là một ông lang băm, không hơn. Có thể hoàn cảnh đã tạo ra tính cách của bác, một tính cách rất khó chịu với những người xung quanh: một kẻ tự cao không phải lối, rách bươm nhưng luôn tỏ vẻ kẻ sỹ bất cần, không lánh nghèo. Nhưng hình ảnh một kẻ sỹ mặc áo bộ đội cũ xách cái cần câu cá chuối với đàn con lộc ngộc lang thang ven sông bờ ao khuyến mại thêm bà vợ thất thần bên hiên nhà thật thảm hại và quá lố với mọi người xung quanh, bất kể những thiện cảm mà bà cụ đã cố gắng giữ được với họ. Tên thằng Bé là do bà đặt cho nó, một nỗ lực ngăn cản tính khí ngạo ngược của ông con trai khi khai sinh cho thằng út cái tên Trần Thế Thần Thánh! Một hồi bà gọi nó là thằng Thiện nhưng rồi mọi người quen hơn với cái tên hèm là thằng Bé. Thằng Bé lớn lên cùng chúng tôi và đương nhiên tất cả lũ chúng tôi tuyệt không bao giờ thèm để ý đến việc thực ra nó là Thần Thánh. Bà cụ mất trước khi chúng tôi đi học nên có lẽ cũng như mọi người bà lúc đó cũng đã không phải phiền lòng nghĩ đến việc có lúc thằng Bé sẽ gặp trở lại vấn đề của Thần Thánh.

Thật lạ, có những con người bằng lối sống chân thành tận tâm của mình, dù chỉ phớt qua trong cuộc đời một đứa nhỏ bốn năm tuổi, cũng có thể để lại những thiện cảm sâu xa và lâu dài trong tâm trí người khác đến vậy.

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2009

Phỏng dựng hay tạo mới?


Báo Vietnamnet có bài về việc phỏng dựng tháp Tường Long theo kiểu thời Lý.

Những dự án văn hoá lịch sử như thế này gần đây xuất hiện khá phổ biến. Mục tiêu chung của các dự án thường đều là "bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lịch sử của di tích". Đặc thù của những dự án loại này thường có mấy cái khó:

Văn hoá là thứ trừu tượng mơ hồ nên rất khó ra quyết định: Ai cũng cảm thấy có thể nói về nó một ít trong khi công trình kiến trúc là một thực thể vật chất nằm chình ình trong không gian ba chiều. Nhà văn hoá học có thể tuyên bố "văn hoá là cái còn lại" với viễn kiến hàng trăm năm nhưng công trình lại là "cái xây mới" và nó có một tiến độ thực hiện phụ thuộc khá sít sao vào tiến độ giải ngân của vốn ngân sách (thường là chạy mãi mới được ghi vốn trong năm kế hoạch). Hậu quả là rất khó để thống nhất các ý kiến để ra được quyết định thấu đáo đối với các vấn đề của dự án xây dựng. Một quyết định mà như ông Phan Huy Lê đã nhận định "Không thể dùng kết quả biểu quyết trong trường hợp này, đa số không thể quyết định chân lý".

Ở một khía cạnh khác, nói "tiếp cận văn hoá trong sự vận động và phát triển biện chứng của nó" thì dễ nhưng phương án đưa ra là gì, làm thế nào...thì lại là một thách đố chung cho mọi dự án xây dựng có liên quan về văn hoá lịch sử. Nôm na hơn, luôn có sự đấu tranh khá căng thẳng của 2 trường phái chủ đạo: phục dựng hay tạo mới? Giả thiết rằng người ta luôn tuân thủ các vấn đề về bảo vệ giá trị khảo cổ của di tích thì những dự án công trình được triển khai trên bối cảnh chủ đề liên quan thì vấn đề "phục dựng hay tạo mới" vẫn luôn là chủ đề gây tranh cãi. (Dẫu sao cũng phải nhận rằng tranh cãi là biểu hiện cho sự vận động :)

Xu hướng phổ biến nhất hiện nay là phục dựng. Có nghĩa là người ta sẽ cố gắng khai thác tối đa các bố cục, kiểu thức, vật liệu, phong cách kiến trúc của các thời kỳ lịch sử có liên quan để "xây dựng lại" các quy mô kiến trúc kiểu truyền thống. Sau mấy chục năm bị tàn phá bởi nhiều tác nhân, dấu vết của các danh lam không còn nhiều trên đất nước này; nếu còn thì cũng đã bị lèn cứng bởi sự phát triển quá mức và bị ràng buộc chằng chịt bởi các yếu tố kinh tế, pháp lý. Vô tình, một cách dễ hiểu những dự án về văn hoá lịch sử là cơ hội để tái tạo lại trong không gian những giấc mơ về những khung cảnh từ lâu chỉ còn trong hoài niệm "mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên". Những di sản về kiến trúc hay phong cảnh của đất nước đã trở lên xơ xác và manh mún đến nỗi chỉ cần tái tạo lại được quy mô cổ xưa của quá khứ huyền thoại (vầng, quá khứ và truyền thống luôn có tính cách huyền thoại hoá-dự án dựng phim 3D về phố cổ HN là 1 ví dụ) đã là một kỳ công thực sự.

Nhưng do những điều kiện đặc thù mà dấu vết vật chất của quá khứ còn lại quá ít ỏi để ngày nay có thể dựng lại hình bóng cũ. Chúng ta chỉ có thể chắc chắn về thời Nguyễn, tức là khoảng 200 năm đổ lại đây là tối đa. Những người theo chủ trương phục dựng thực sự gặp phải vấn đề nan giải: sự tầm thường hoá, phi bản sắc của một loạt các dự án tương tự nhau (oái oăm thay, vốn lấy mục tiêu phát huy bản sắc làm đầu). Những nỗ lực vô căn cứ còn lại (*) chỉ khiến cho công trình trở thành một mớ hổ lốn-một kiểu hỗn dung văn hoá (@TQV) một lần nữa chẳng lẽ vẫn là bản sắc Việt? Về điều này, một đại diện của chủ trương tạo mới đã đả kích "3000 năm nữa người ta đào lên chỉ thấy Đinh Lê Lý Trần Lê Nguyễn mà chẳng biết CHXHCNVN là cái gì?" Câu nói khơi khơi giữa hội nghị một Ban thường vụ tỉnh uỷ đủ khiến các bác chính quyền thay đổi chính kiến nhanh đến bất ngờ!

Về chủ trương "tạo mới", phải hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này: ngoại trừ việc không làm gì và việc phục dựng (giả cổ?) thì những cách làm còn lại đều có thể coi là tạo mới (**). Tạo mới trên cơ sở có giữ mối liên hệ với quá khứ. Nhưng tạo mới có vấn đề riêng của nó. Ít ra trong trường hợp giả cổ kia người ta còn có một chuẩn mực, cơ sở để đánh giá giá trị công trình, nhưng để đánh giá những công trình tạo mới thì hầu như mọi chuẩn mực đều mong manh cả. Huống hồ, ít ra công trình giả cổ có thể đáp ứng tức thời nhu cầu không gian văn hoá của đại đa số đám đông trong thời gian ngắn trong khi công trình mới cần có nhiều thời gian hơn để kiểm nghiệm-và không phải mọi thứ đều có thể dễ dàng làm lại. Hơn nữa, bối cảnh hiện nay là khi xã hội đang tìm kiếm lại những điểm tựa trong những giá trị truyền thống càng khiến việc "tạo mới" là một cái gì đó bấp bênh không đáng thử.

Vậy liệu có thể thử đưa ra vài tiêu chí có tính chất xây dựng trong việc ứng xử với di sản của quá khứ? Tạm nghĩ có 2 ý lớn: Một là yêu cầu về tầm nhìn toàn thể và một nữa là về cái tinh thần hướng đến của công việc.

Khi chúng ta nói về 1 công trình thời Lý chẳng hạn, chúng ta cần đặt nó trong bối cảnh "núi lở sông bồi cảnh biến thiên" hàng nghìn năm. Những nguyên tắc về toàn cảnh, điều kiện địa lý thuỷ văn, tỷ xích không gian, bản sắc phong cảnh, địa văn hoá khu vực là những điều cần ưu tiên trước nhất. Toàn thể còn bao hàm một nguyên tắc là: lịch sử cũng như văn hoá là một tiến trình liên tục và không thể tôn tạo một giai đoạn đặc thù bằng cách cô lập nó và xoá bỏ những giai đoạn lịch sử liên tiếp khác. Bảo tồn và phát huy là gì nếu như không phải là để có thể lần giở về đến cội rễ?

Nhưng xuyên suốt những chi tiết rời rạc cần phải có một sự thấu đáo: văn hoá không phải là một thứ nhất thành bất biến. Cái tinh thần lớn nhất của một dự án văn hoá chính là ở chỗ ý thức rằng "Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân mình" và "Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức, tự biết mình; luôn tìm tòi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên trên bản thân". (***).

Có vẻ mâu thuẫn nhưng quả thực, một công trình văn hoá phải đảm trách một lúc hai vai trò: làm điểm tựa truyền thống bền bỉ và khiến con người suy xét trở lại về bản thân mình-để đổi mới và vượt lên. Trong một tương quan cụ thể, điều đó sẽ quyết định hình thức biểu hiện của công trình: phục dựng hay tạo mới. Suy cho cùng chả phải tạo mới một cách nào đó sẽ trừu tượng hoá thêm một lần nữa những đặc điểm cụ thể của di sản văn hoá? Và đôi khi, phục dựng làm tái sinh sức sống của tâm thức văn hoá truyền thống đã khô cạn từ lâu. Chính ra bản thân kinh nghiệm của quá trình tranh luận phản biện mới là cái bản sắc đáng kể của một công trình như tháp Tường Long. Tôi nghĩ thay vì bày tượng Phật ở khắp mọi tầng ta nên đưa vào đó các nội dung tranh luận của các nhà nghiên cứu trong quá trình làm việc. Chỉ cần thờ một ông ba phải (****) ở trên cùng thôi!

--------------
(*) - "đặt làm tượng ngọc bên Myanmar...đặc biệt nhất", "tham khảo Đường, Chăm..."
(**) - Chủ đề Di sản và Phát triển là quá rộng để đề cập trong bài này.
(***) - Định nghĩa về văn hoá của UNESCO.
(****) - Ba đại đệ tử của Phật tranh luận về chân lý không dứt, bèn nhờ ngài phân xử. Lần lượt ba vị trình bày Thày đều bảo "phải". Chúng đệ tử tức quá mắng "Thày là đồ ba phải"!

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2009

Thiên nhai vô tửu đối Thanh minh

1. Nghe được câu thơ hay cũng có thể cứu được một ngày vô vị.

Câu thơ dịch "Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh" của bác Đông A dịch câu "Nhân tự bi thê thảo tự thanh" trong bài "Thanh minh ngẫu hứng" của Nguyễn Du là một câu thơ hay, nó có thể đứng một mình. Từ chữ "tự" sang chữ "cứ" đã thêm nhiều sắc thái tâm tình. Nhưng sẽ không cảm hết được câu dịch nếu không hiểu câu nguyên bản một chút. "Tự bi", "tự thanh" là từ chính mình mà tự nảy nở ra. Không phụ thuộc vào ngoại giới. Như vậy rồi mới thấy chữ "cứ" kia nó mới càng ngậm ngùi. Lúc trước thăm thẳm hồi sau mang mang.

Lại nghĩ, đã tự chính mình rồi thì can cớ gì còn "thương cỏ cứ xanh"? Câu trả lời về cõi_người_ta không thể là một tri thức thuần tuý được - mỗi người phải tự mình chứng nghiệm thôi.

2. "Nhân tự bi thê thảo tự thanh".

Tôi nhớ lại những tâm tình tuổi trẻ của mình ngày trước. Một nỗi đồng vọng thê thiết, ngậm ngùi.

"Tôi tự buồn rồi tôi sẽ tự vui"

Sự ngộ nhận về chính mình và sự ngộ nhận của những cái mình ngộ nhận. Khi nhận ra đôi chút về nó, tâm cảnh thật khác lạ: Đó là khi người ta đã ngậm cười mà lựa chọn mà nuôi dưỡng cái màu mắt môi Mùa Xuân ở phía trước như là cái cũng đang ngang qua-ngang qua chứ không phải là cái ảo ảnh mơ hồ giả dối của Hy Vọng...

Bây giờ, em nhớ ngày xưa
Bây giờ, tôi nhớ ngày xưa


3.
Trời đất cứ thế, kiếp nhân sinh bất quá chỉ như để lại một vệt trên cánh đồng cỏ xanh. Mùa xuân sang năm lại tươi tốt.

Bài thơ này ngày đó tôi viết để tặng chính tôi
...

Dòng sông trắng và bờ sông cũng trắng
Một vệt người
vô vọng
ngó thời gian.
Và họ chết.
Không còn lạnh nữa.


Lửa bồi hồi trong tim nến
Đêm nghẹn lời nhắc lại một ngày xưa
Rất mơ hồ tôi bắt gặp tứ thơ
Câu chuyện cũ tưởng như không hẳn thế
Tự luân hồi ta đã hẹn mai sau
Em sẽ khóc và sương và giá lạnh
Tôi sẽ đàn và lại hát vu vơ
Bài thơ buồn sẽ tan loãng theo sương
Trăng nhắc nhở bằng màu trăng dịu mát
Tôi tự buồn rồi tôi sẽ tự vui

Ừ -thì sương thì trăng thì chiều hôm nắng nhạt
Ừ -loang chiều là một mái chèo xuôi
Ừ -kỷ niệm, ngày xưa là kỷ niệm

Bây giờ, em nhớ ngày xưa
Bây giờ, tôi nhớ ngày xưa

Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Vịn câu thơ

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2009

Đêm tháng sáu uống bia tươi với bạn Deep nói chuyện nghệ thuật và tình zục*

1. Uống bia và tám với bạn Deep cả buổi tối. Chủ đề chuyển liên tục từ bia ngon sang nghệ thuật ẩm tửu đến làm chủ nội thể và cảm nhận ngoại giới trong thể thao, ca múa nhạc...etc. Biết thêm được 1 bí quyết hay của dân đánh golf: làm sao cú quất phải tựa như đấm vào mặt thằng bỏ mẹ đáng ghét nào đó thì ngon!

Hình như có bàn cả về Kinh Dịch-bia tươi 26K 1 vại 300ml chứ có đùa đâu. Bạn bảo tóm lược, ta nói cả cuốn là nói về cái đạo xử thế cho đắc 2 chữ: Thời, Vị (thế). Mỗi quẻ 1 thời, mỗi quái cũng là 1 thời, mỗi hào cũng là 1 thời. Cũng vậy, mỗi quẻ, mỗi quái, hào cũng là 1 vị (thế). Người xưa chiêm nghiệm từng thời vị mà hành xử cho đắc Trung đắc Chính. Chính là ngay thẳng, hợp đạo. Trung là không thiên lệch.

2. Không thiên lệch nên câu chuyện sau đó nhân bộ phim La belle mà bàn về tình zục. Bèn nhắc lại chuyện có bạn bên Tinh Vân đề nghị phong cô giáo Thảo làm điển hình Phụ nữ Việt Nam vì có công khai dân trí cho bao nhiêu thế hệ trai tráng (là phỏng chừng thế) nước nhà. Nghĩ cũng có lý. Chính vì lối giáo dục lệch lạc lờ mờ của nhà trường chúng ta mà nếu như không có sự uốn nắn của Cô và các đồng nghiệp thì không biết bao nhiêu gia đình còn sống đời buồn tênh. Nhưng vì không thiên lệch nên cũng phải nhận rằng việc gọi cô là Cô cũng chưa coi được. Bản thân cô thì cũng không ra gì nhưng nhờ cô mà chúng trai tráng nhận ra tình thế éo le của sinh tồn tồn liên (@Bùi Báng Giùi tiên sinh). Cô trỏ cho ta biết rằng cuộc gùn ghè hằm hè của chúng ta có nhiều lối xưa ngõ hạnh phơi mở mở phơi thấp thoáng sau sa mù. Kết cục cả 2 chúng tôi đều kết luận một cách hết sức đắc Trung (đắc Trung tất đắc Chính) rằng: phim Nhật thì thật nhưng mà thô, còn phim Hàn thì đẹp nhưng lại zởm. Và theo luật Phản Phục, nói chung phim xem 1-2 lần thì chán. Cái gì quá cũng không hay.

3. Cũng vì vui bia vui chuyện quá nên mới không hay là anh LCD đã "thành khẩn thú nhận và xin hưởng khoan hồng". Tình huống này quả có éo le cho anh và nhiều người. Bèn nhủ nếu cứ như tinh thần của Dịch thì đã tự thảnh thơi. Lúc bạn hỏi về phép bói, ta nói cổ nhân không lập thuyết để giải thích hay dự báo mà chỉ quan sát, chiêm nghiệm để điều tiết. Không nên gán cho tương lai sự mầu nhiệm từ những mong muốn hay lo lắng của mình. Xét việc là để xét mình trước. Tuỳ thời tuỳ thế mà hành xử cho đắc Trung đắc Chính. Nếu bạn hỏi mình anh í đúng hay sai, tốt xấu, hay dở thế nào thì thực tình là mình không biết chắc. Mình thấy đời rất éo le...

Đây, còn như quẻ Trạch Thuỷ Khốn nói về lúc nguy khốn thì:

- Khốn: Hanh, Trinh, đại nhân cát, vô cữu. Hữu ngôn bất thân. Dịch : Khốn: Hanh thông. Chính đính như bậc đại nhân (có đức) thì tốt, không lỗi. Dù nói gì cũng không bày tỏ được lòng mình (không ai nghe mình).

Cụ Nguyễn Hiến Lê bình giảng:

- Tuy nhiên, Khảm là hiểm, đoài là hoà duyệt, vậy tuy gặp hiểm mà vẫn vui vẻ hanh thông. Hanh thông chỉ là đối với bậc đại nhân, có đức cương, trung, giữ đạo chính thôi; vì hạng người đó càng gặp cảnh khốn, tài càng được luyện; đức càng được trau, chí càng vững dù có phải hy sinh tính mệnh để thỏa chí nguyện cũng không ngại, thân tuy khốn mà vẫn vui vẻ, đạo của họ vẫn hanh thông, cho nên Hào từ cho là tốt, không có lỗi.

Ở vào thời Khốn, chỉ có cường quyền, không có công lý, nên đừng nói gì cả, càng nói chỉ càng thêm vạ miệng, không biện bạch được gì đâu. Đây là lời khuyên chung, còn bậc quân tử có thể “sát thân dĩ thành nhân” thì lại khác.

Cụ nói nước đôi thế thì hiểu kiểu gì cũng có lý của nó. Thành ra mình nghĩ, như hào lục nói, với ta nên bắt đầu bằng tinh thần thế này:

- Thượng lục: Khốn vu cát lũy, vu niết ngột. Viết động hối, hữu hối, chinh cát. Dịch: Hào trên cùng, âm: Bị khốn vì dây sắn dây leo, khập khễnh, gập ghềnh; tự hỏi rằng; hoạt động thì ân hận chăng? Biết suy nghĩ như vậy thì hành động sẽ tốt.
------------------

(*): Lúc đầu định chỉ tập trung vào vấn đề tình zục, thế quái nào tình zục lại ẩn vào vô thức, lạc sang cả triết với chính trị. Chả hoá ra...

Nhưng mà cái tên entry này nó hiện lên ngay lúc bắt đầu nghĩ. Thế lại hay, mới nghĩ ra vì sao Lưu Quang Vũ lại có 1 bài thơ đặt tên loằng ngoằng như thế "Đêm đông chí...bala...". Chính là ở chỗ không muốn lạc đi đâu cao siêu quá mà khắc in lại cái ram ráp, dấp dáp éo le của thực tại-thực tại là ta đã uống bia uống rượu nói chuyện vĩ mô thành thực và ta nhỏ bé thôi. Nhưng ta thấy ta thế là ta cũng không phải là ta đó nữa rồi. Èo ôi, lại triết.

Lênh đênh ai hát ngoài song cửa
Bài ca thanh bình đêm cũ
“Hoa lá quên giờ tàn
Mây trắng bay tìm đàn”
Ngày xưa yên ấm quá
Trẻ hát đồng dao trên phố
Con trai xách điếu đi cày
Con gái quang liềm gặt lúa
Bao giờ hết loạn người ơi
Cạn cùng nhau chén nữa
Tàn canh là xa xôi
Lòng như vầng trăng nhọn
Chém giữa trời không nguôi

Mình thích đoạn cuối của bài thơ này, đoạn trên chính luận quá. Mà hình như đa số chúng ta đều thích thế: một giấc mơ, một bài đồng dao. Nhưng có thực thế giới tưởng như đồng dao đấy là không tưởng? Hay "sự không tưởng" tiên nghiệm này trong nhận thức chúng ta mới chính là định kiến của một sự giáo dục lệch lạc mù mờ mà sự hiểu biết phải trông chờ đầy may rủi và thậm thụt vào những Cô giáo Thảo???

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009

Tia sáng cũng có chuyện rút bài?

Trên talawas.org có bài giới thiệu về những bài viết của luật sư Lê Công Định-vừa bị bắt mới đây với tội danh "“có các hành vi cấu kết với bọn cầm đầu phản động nước ngoài chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” và làkẻ phản dân, hại nước“. Việc đâu còn có đó nhưng 1 chi tiết đáng chú ý là thông tin về bài viết "Khai dân trí" của LCĐ trên tạp chí Tia Sáng (báo mạng) đã bị rút xuống. Tôi có thử kiểm tra thì đúng là có bài viết này và đúng là link cũ không còn tồn tại. Không lẽ một tờ như Tia Sáng cũng làm cái việc bôi xoá?

"Một góc nhìn của trí thức"-không lẽ một số trí thức đã đổi chỗ rồi nên góc nhìn thay đổi???

Một bài thơ. Siêu thực.

Federico Garcia Lorca (1898-1936)

Trăng lên

Khi trăng lên
những tiếng chuông tan ra
và những lối mòn
bỗng không xuyên qua nổi

Khi trăng lên
biển lấn sâu vào đất
và trái tim ta cảm giác
một hòn đảo trôi trong cõi vô cùng

Không ai dám ăn những trái cam
dưới một vầng trăng tròn đầy như thế
chỉ trái cây xanh tươi và buốt lạnh
mới có thể chạm hờ lên những viền môi.

Khi trăng lên,
với hàng trăm mặt tựa như nhau,
tận sâu trong góc túi
đồng xu bạc thở dài.


Hải Ngọc dịch.
---------------

Comment: Khổ thứ 3 diễn đạt rất rõ cảm giác bồng bềnh mộng mị của tâm trí. Đặc biệt là sự đối chọi của hình ảnh và cảm giác "xanh tươi và buốt lạnh" với bối cảnh bềnh bồng. Nó diễn đạt cảm giác như là sự khắc khoải dưới đáy của những cảm xúc mơ hồ khác.
---------------

Không hẳn là quá thích nhưng bài thơ này tôi thấy dễ cảm. Gọi nó là thơ siêu thực cũng được nhưng tôi thích nghĩ đơn giản về những bài thơ hay và không hay hơn là những phân chia khác. Ý kiến này hàm chứa mấy ý về thơ mà bản thân tôi vẫn chưa thể triển khai:

- Tính thơ: có 1 cái gì đó phổ quát, như là nhạc điệu của ngôn từ và sâu hơn là nhạc điệu của cảm xúc.
- Một thứ logic đi kèm của cảm xúc, như là trật tự ẩn dụ, sự liên tưởng tự do, quy tắc của những ẩn ức mạnh mẽ...
- Hệ hình tư tưởng, mô thức văn hoá...etc...
--------------

Này em có nhớ

Giấc mơ xưa hoang hoải rồ dại. Khao khát và liều lĩnh. Dè dặt mà phóng túng. Đi không nhìn lại mình và bóng chính mình chỉ trở về trong những giấc mơ u u mang mang hoài vọng. Lạnh rỗng và mệt mỏi. Muốn nức nở giữa màu đen hỗn mang nhưng chính trong mơ vẫn không thể khóc trước ánh lam xanh lay láy trêu người.


Trăng ào ạt tạt rừng cây đổ bóng đen trời. Muốn yên lặng, vĩnh viễn lặn xuống đám lầy trước mặt. Cái gì ngăn ta lại?- Ngay cả khi mơ?


Buổi chiều nhạt nhẽo nổi đoá với chính mình những điều vô vị loãng toẹt. Cười với mình 1 lần soi bóng lạ. Những ám ảnh lập thể tuỳ tiện dễ dãi dán lên báo tường-cũng những thằng xuẩn dục tơ tưởng thiên tài ngẫu nhĩ. Kết quả xổ số chiều nay của thời gian báo tên em trên bảng điện tử ba chiều. Mất cả đêm để chọn áo hợp màu. Đểu thật. Ta nhỉ? - Hờ hờ ta.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2009

Nhân trường hợp anh Yeon Ha Nam

Phù, tra mãi mới ra tên anh này. Thấy bảo trên mạng chị em ngưỡng mộ chàng nhất. (Quên, một số bác ở nước ngoài thân mến, đây là đang nói về bộ phim "Những nàng công chúa nổi tiếng" của HQ trên VTV3). Nôm na là một anh lính con nhà giàu giấu tông tích đem lòng yêu đại uý già xinh đẹp và gặp 1 số trắc trở. Những gì anh í thể hiện có thể kết luận là:

- Trẻ, có sức khoẻ (hay thức trắng đêm ở đầu ngõ, thỉnh thoảng dầm mưa), lại có điều kiện (em đi Iraq-nghĩa vụ, anh đi I dắc-tự túc).
- Chung tình, hy sinh cao, biết chia sẻ (luôn luôn lắng nghe luôn luôn thấu hiểu), lãng mạn, bất cần-một chút (lăn ra đường vì đau khổ)...etc...

Bỏ qua những tình tiết hình thức túm lại mình cũng đồng ý với chị em phụ nữ là một người đàn ông trẻ, khoẻ, giàu, dẻo dai, hiểu ý đối tác, nhiều động tác phong phú...là rất đáng yêu và ngưỡng mộ. Nhưng mà thực lòng mình cứ tiêng tiếc cho thần tượng của mình: Đại uý Bang. Lại chú thích với các bác chưa biết-anh là một nhân vật phụ, sỹ quan hải quân hơi già (36) đối tượng cạnh tranh của anh Dôn Ha Nam kia (theo diện phụ huynh giới thiệu rồi đi xem mặt). Anh bị đạo diễn và đại uý Na đuổi ra hơi sớm nên mình càng tiếc! Tại sao mình ngưỡng mộ anh-lý do thoạt đầu có vẻ rất đơn giản: mình thích cảnh chàng trai quá lứa gặp cô gái và nói về kế hoạch khi nào chúng mình hôn nhau (thực ra anh ấy bảo sau khi đã ngồi nhìn nhau 1 lần, qua giai đoạn bắt tay/nắm tay ở lần sau thì sẽ tiến xa hơn nữa). Bạn trẻ đừng cười vội-vào cái tuổi của mình bây giờ mình cho đấy là một biểu hiện chín chắn rất cao :D mà chỉ khi nào các bạn đến thời điểm đó sẽ hiểu ra sự vụ đó.

Nhưng lý do nói thật là cũng còn một tí ti. Là thế này... (Từ đây trở đi vận dụng bút pháp phiếm chỉ). Lần nọ, có 1 đại uý Báng cũng bên hải quân đã cũng đi gặp mặt một cô em. Đại uý đến, đại uý uống, đại uý ăn và nói chuyện bâng quơ với đội chân gỗ (ở đời có 4 cái ngu: làm mai, lãnh nợ, nuôi cu, cầm chầu). Rồi khi mọi người đứng dậy chào nhau ra về thì đại uý mất tích một cách đột ngột.


Thật. Dù mình già và có mót đái đến mấy thì cũng không nên như thế chứ. Nhanh không thể tả!!!

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2009

Phẩm giá một dân tộc không thể được phát ra bằng những ngôn từ lí nhí. (Blog Osin)


“Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm.

Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm.

Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai.

Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận.

Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?”


Trích "Hịch Tướng Sỹ"-Hưng Đạo Vương TQT (Dụ chư tỳ tướng hịch văn)
-----------

Còn nhớ có người đã so sánh đại ý "So với Nam Quốc Sơn Hà thì Hịch Tướng Sỹ vắng bóng thần. So với Bình Ngô Đại Cáo thì HTS vắng bóng dân". Hồi đó tôi cho câu nói đó là độc đáo vì nó thể hiện được biện chứng phát triển nhận thức về quốc gia, dân tộc trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Nhưng nay nghĩ lại thì thấy cũng có điểm phải bàn.

Đại Cáo Bình Ngô là một diễn ngôn chính thức của một triều đại mới có vai trò kế tục lịch sử lâu dài của đất nước và nhấn mạnh đến tính chính thống của nó; do vậy khác với tính chất chức năng của NQSH hay HTS nên nội dung đề cập và tinh thần chủ đạo của chúng là không thể so sánh đối chiếu đơn thuần được. Xét về vai trò thì Hịch Tướng Sỹ với Nam Quốc Sơn Hà có chức năng và mục tiêu giống nhau. Đối tượng của nó đều là nhắm tới tướng sỹ của mình (LTK, TQT). Cùng là để khích lệ tướng sỹ nhưng như cách làm của LTK với NQSH là từ chữ Thuật còn như TQT viết HTS là từ chữ Thế. Một bên Kỳ một bên Chính. Ta chưa biết được liệu LTK hay nhà Lý* có những chiếu, hịch như thế nào để so sánh nên cũng khó mà so sánh được một văn bản trong 1 trận chiến với một văn bản trước một cuộc chiến. Nhưng từ những gì còn ghi chép lại thì rõ ràng trong kháng chiến Nguyên Mông ít thấy có những tình tiết liên quan đến sự thần bí để cầu thắng hay mưu thắng.

--------------
(*): về giả thuyết bài thơ này có từ thời Lê Hoàn đánh Tống tôi cho cũng không sáng sủa gì; vì dựa vào văn bản của Lĩnh Nam Trích Quái vốn có từ cuối đời Trần: dẫu truy đến thời LTK hay LH đánh Tống đều quá xa xôi và không khỏi có khả năng pha tạp. Vả lại đây có thể coi như 1 ca phân tích một biểu tượng lịch sử hơn là 1 sự kiện lịch sử.
--------------

Nếu như trong NQSH viện đến ý thức quốc gia (nhưng là Nam quốc sơn hà Nam đế cư), ý thức Nam-Bắc** thì có vẻ như HTS chỉ chủ yếu viện đến quyền lợi, danh dự cá nhân của kẻ làm tướng thì cũng không phải. Nên biết bối cảnh của HTS là vừa sau khi quân của Hưng Đạo Vương thất thế ở Chi Lăng phải lui về Vạn Kiếp nên Vương soạn bài hịch này để khích lệ dũng khí của tướng sỹ. Trước đó chính HĐV đã trả lời câu hỏi của vua Trần "hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân" là "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn-Miếu Xã-Tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!". Tôn-Miếu Xã-Tắc chính là quốc gia vậy. Chỉ là với chư tỳ tướng là những kẻ dũng phu trong thời loạn lạc lòng người chưa cố kết thì đem chuyện phù hợp mà khích lệ mà thôi.
-------------

(**): Nếu thực tế bối cảnh bài thơ được sử dụng là trong 1 cuộc chiến (hay nó được gán cho là như vậy) thì cái công dụng khích lệ xuất phát từ ý niệm tất thắng do Thiên Mệnh-tại Thiên Thư- chứ không phải chỉ như là ý thức Nam-Bắc.
-------------

Bài này viết nhân chuyện Biển Đông nhiều người nhắc Hịch Tướng Sỹ, nhưng thiết nghĩ, thời thế thay đổi, chuyện quốc gia đại sự phải để nhân dân tự lập Hội nghị Diên Hồng gom góp ý kiến thì lấy ai đủ tư cách để "dụ chư tỳ tướng" đây? Cái "Thế" của nước Nam độ rày là cái Thế nào?

-------------

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2009

Lăn tăn li ti...

Tôi vẫn chưa quen được hoàn toàn với blogspot. Nó vẫn hơi xa lạ và không dễ khiến ta viết lách ba vạ như Y360. Chỉ là vấn đề thói quen mặc dù đã gần như không còn sign in vào Y360. Những ngày đầu lại sẽ bỡ ngỡ và hơi trang trọng. Lần này trên blogspot hầu như không còn friends nào quen biết thực ngoài đời (một cách chính thức thì như vậy). Cũng tại độ này bận hơn nên như thế chăng? Hay đúng ra là lại một lần nữa cái cảm giác "chẳng là ai/chẳng là gì" tái hiện?

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2009

Rú Mọi-Henri Maitre-N'Trang Lơng



Một điều thật tình cờ và oái oăm của thời gian và lịch sử là khi những người làm dự án khu di tích N'Trang Lơng về chiến công của ông đã tìm thấy những tài liệu chi tiết nhất về người M'nong là từ cuốn "Rú Mọi" hay "Rừng người Thượng" của...Henri Maitre!

Cuốn sách là khảo cứu công phu về vùng Tây Nguyên do H.M thực hiện. Hình như ông ta chết cũng chính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này! Bản dịch tiếng Việt chỉ có phần thứ 3 (dày cộp), mà chưa có phần đầu-vốn theo kiểu hồi ký, ly kỳ rùng rợn mê li. Đấy là nghe Tây nó đồn thế chứ Ta thì chưa có dịch. Tài liệu này của Viễn Đông Bác Cổ.

Nguyên cái tên của nó là "Rú Mọi" nhưng mà lịch sự với đồng bào nên Ta dịch trang bìa thành "Rừng người Thượng"-bên trong để nguyên.

P/s: có điều đã mua cuốn này mà định đọc thì bà con nên chịu khó mua thêm cái bản đồ Tây Nguyên: Tên địa danh lạ hoắc chi chít như rú mọi, được 1 lúc có mà lạc tiệt.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

Gấu 18 tháng


"tô tô"
Bạn Gấu đi dự soutenance

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2009

ngày trước

Hồi Tưởng

Mưa làm ướt áo em không
Gió se se lạnh có hồng má em?
Thỏi son ngày trước bỏ quên
Hôm nay chắc lại làm ghen hoa đào!
Em còn bên ấy hay sao
Mà sao hương tóc, lúc nào cũng say
Hôm qua anh trót lỡ tay
Bóc nhầm tờ lịch của ngày hôm xưa
Trời mưa,vâng! cũng trời mưa
Chồng em khi ấy... còn chưa là chồng…
NB