Hiển thị các bài đăng có nhãn đọc lại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đọc lại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023

Đọc, ghi chép và viết lại

 1. Bạn ghi chú như thế nào khi đọc:
 

Tôi nhất định phải ghi chú khi đọc thì mới tính là có hiệu quả. Nên ghi chú ngay từ lần đọc đầu tiên dù có thể sẽ quay lại sau. Việc ghi chú vắn tắt hay đầy đủ phụ thuộc vào chủ đề quan tâm, thời điểm nhận thức và kinh nghiệm tích lũy trong quá trình đọc. Càng ngày tôi ghi chú càng ngắn hơn và do đó đọc được nhanh hơn, bao quát nhanh hơn cuốn sách.


Tôi ghi chú văn bản thường theo cấu trúc logic các luận điểm mà tác giả trình bày. Sử dụng nhiều sơ đồ khối và đánh dấu các từ khóa. Khi trình bày bằng sơ đồ, đôi khi thay đổi màu mực theo 1 tiêu chí nhất định, giúp tôi có thêm trí nhớ đa phương tiện với nội dung mà tác giả trình bày.


Việc ghi chú theo dòng - như một phiên bản tóm tắt của bản gốc được tôi thực hiện chủ yếu vào thời kỳ đầu của tự đọc tự học, hồi 20s với chủ yếu các tác phẩm của Erich Fromm. Tôi chép dạng cấu trúc hình cây các luận điểm theo văn phong tác giả có rút gọn, bút đỏ ghi ngay những thắc mắc, liên tưởng tức thời lúc đọc (kể cả ngây ngô), lúc sau chỗ nào hiểu được ý tác giả rồi thì ghi chép thêm bằng bút xanh tự trả lời, thảo luận với phần ghi bằng bút đỏ. Như vậy tôi phân biệt được lời tác giả với lời của mình, dò dẫm được nhịp tư duy của tác giả và thậm chí đoán được những lỗi dịch sai hay trượt ý của dịch giả dù mình không có điều kiện hay trình độ đọc thẳng bản gốc. 


Nhưng cách đọc và ghi chép này có nhược điểm là quá tốn thời gian, nhất là khi không có bạn hữu hay thầy để thảo luận trao đổi. Sau này tôi cố gắng tìm cách cải thiện tốc độ hiểu bao quát ý tác giả hơn là quá đi vào chi tiết ngay từ đầu. Hiện nay tôi thấy vừa đọc vừa ghi note trong laptop là rất tiện cho biên tập và đọc lại. Viêc ghi chép tay chỉ dùng lúc cần suy nghĩ. Sách giấy thì tôi thường xuyên dùng cách gập lại trang có ý cần quan tâm. Góc nhọn của tờ giấy lúc gập chỉ thẳng vào chỗ mình muốn lưu tâm. Việc này rất có lợi khi cần đọc lại. Tất nhiên là trên sách của mình. Sách cần đọc kĩ thường ít nhất tôi có 2 bản. Để đọc thì viết vẽ thoải mái và để lưu giữ dự phòng thì giữ nguyên bản.


Tôi giữ gìn những gì ghi chép: tài liệu viết tay trên giấy 1 mặt (tôi rất có cảm xúc với việc lấy giấy đã dùng để viết ghi chép lên mặt sau, nó đem lại cảm giác của bản thảo và riêng tư); bản viết tay trên thiết bị điện tử, trên điện thoại đến các file máy tính. Đôi khi dù mình không nhận ra nét viết tháu của mình thì việc có file ghi chép riêng sẽ giúp mình tái hồi trí nhớ và cảm xúc về nội dung cuốn sách nhanh nhất dù đã gián đoạn 1 thời gian dài. Gần đây tôi thấy vứt 1 ít lên Fb để tận dụng tính năng nhắc kỉ niệm của Fb giúp mình đọc đi đọc lại có cảm xúc hơn và có tương tác với bạn bè. Tuy nhiên với cách đọc và ghi chép kiểu phác thảo và đối chiếu như thế, việc đưa lên Fb thường khó đảm bảo rằng chúng ta sẽ hiểu nhau muốn gì.

2.  Làm sao để đọc cùng với một người bạn?


Đây là câu hỏi trong sách dành cho sinh viên nhưng tôi cũng muốn trả lời 1 chút. Nếu là môi trường học tập thì thuận lợi chứ như tôi phần lớn là đọc một mình. Bản chất việc đọc cũng có tính chất riêng tư như thế. Đọc là đọc cái được viết ra và do đó cũng giống như viết, nếu hiểu viết nhọc nhằn thế nào thì sẽ hiểu đọc tử tế cũng nhọc nhằn như viết và cũng khá riêng tư như viết. Có chăng khi thuần thục đến một độ nhất định, đọc đủ 1 vòng nhất định, đôi khi ta có thể trải nghiệm được tâm tình trải nghiệm người viết, mà qua đó có thể coi được người xưa như thầy như bạn.


Nhờ vào không gian mạng, cảm giác chia sẻ khi đọc được dẫn dắt một phần nhờ vài mẹo nhỏ. Tham gia, theo dõi các nhóm, các người đọc khác có chia sẻ thông tin và các loại văn bản. Thấy ai hay ai vui thì tìm cách mà kết giao, đừng ủ mãi trong đầu những tâm tư theo kiểu "hệ tâm linh", không ai biết được bạn muốn gì đâu. Bạn là cái hành động mà bạn làm. Thu thập tài liệu theo chuyên đề quan tâm, hỏi han, nhờ vả chia sẻ các kiểu. Viết ra, chia sẻ để gợi cảm hứng của vòng bạn bè. 


Có một khía cạnh nữa là đọc chỉ là một trường hợp rất cụ thể của hành động tương giao. Trò chuyện, thăm viếng, cùng thở, cùng nhâm nhi với nhau trong một tương giao tinh thần nào đó...cũng là những khía cạnh khác của thông diễn giữa mình với thế gian. Viết chỉ viết ra những gì có thể viết. Đọc phải đọc được những gì không thể viết thì mới giữ được nguồn mạch suy tư không dừng. Với tôi, việc đọc là cái gì đó khá riêng tư nhưng là chỗ nương tựa chính như cây gậy cho người đi dạo trên đường rừng.

3. Nhân tiện đọc lại: Về trò chuyện.


Trò chuyện chỉ có khả năng trở nên hữu ích khi đó là trò chuyện giữa hai người. Ít nhất với khả năng trò chuyện của tôi thì là như vậy. Nhưng không phải gặp mặt nào cũng là trò chuyện - "mỗi người thăm thẳm một chiêm bao".


Thậm chí hầu như tôi nghi ngờ khả năng thông giao của trò chuyện, ngay cả với những người được coi là thân thiện và biết nhau nhiều nhất. Có điều gì đó từ bản chất của phương thức giao tiếp, nhận thức của con người hơn là vấn đề ý tứ cá nhân. Chúng ta có gì để-nói và một diễn ngôn thì nói được gì?
Hầu hết những suy nghĩ của tôi về chủ đề này nằm tản mạn trong các label như "đọc", "bằng hữu", "đọc lại", "bạn"...Đấy là cách khả dĩ nhất đến nay mà tôi thấy: sắp xếp các mảnh rời và nhìn vào giữa những chệch choạc hay đồng điệu để từ đó gợi ra một tầng phía sau của thông hiểu. Có thể gọi nó là phương thức chỉ hiệu (từ của F.J).


Mỗi lần gặp bạn, tức là những người ít nhất tôi nghĩ chúng tôi sẽ có nhiều khả năng trò_chuyện_về_điều_gì_đó, rốt cuộc tôi thường lựa chọn bắt đầu bằng những điều tầm phào nhất. Hai người dọ dẫm trao đổi, một kiểu khai quang, chuẩn bị cho một đối thoại. Nhưng rồi hầu hết sẽ trượt đi ngoài ý muốn. Điều muốn chia sẻ nhất thường không được nói ra. Và nếu có chạm đến thì cũng thật khó để biết nói thế nào. Chỉ có thể trong một sự chiêm nghiệm, quan sát theo dõi nhau trong thiện chí, tư lường nghiêm mật, tâm tình bao dung thoáng đạt, may ra mới có gì đó để trao đổi. Một loại tương tác giao tình, hành động tương liên.


Nhưng quy chiếu về một đối tượng đặc biệt, một ai đó thân thiết nhất, là một sai lầm. Hành động dạng thông diễn không thể có tính cách sở hữu được. Nó có tiềm năng vô hạn và vô ngã.


Mặt khác, tôi nghĩ không thể nhấc lên khỏi bình diện cá nhân của câu chuyện. Mỗi câu chuyện đều là câu chuyện của ai đó, với một lịch sử riêng. Nên cuộc đời thú vị không thể chỉ là ngồi ngẫm nghĩ lan man, viết tản mạn và mong chờ những ai đó cũng viết cũng đọc được. Vẫn cần những quán cafe, những buổi chiều, những bóng người, những tay bắt mặt cười, những trò chuyện chú tâm. Cho dù rốt cuộc cũng chẳng biết nói gì cho phải.

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

vài tưởng tượng về cộng đồng

(Xét tương quan "Họa sỹ - Bức tranh - Người xem" thì) Sự_thấy bị quy định bởi nhiều yếu tố: (1) trong sự định vị với bản thân người nhìn, (2) ý thức có thể bị thấy, (3) thấy đã là lựa chọn bị chi phối bởi nhiều tiên kiến, xu thế giáo dục, cá nhân tính...(4) hình ảnh là sự tái sản (cả với họa sỹ lẫn người xem). Đặc trưng của thời kỳ xuất hiện camera (tái sản): có thể tái sản hàng loạt dưới nhiều dạng thức, đa điểm nhìn, đa ngữ cảnh...có tính chất của thông tin (ngôn ngữ hình ảnh). Tức là có thể áp dụng nó trong đời sống của mỗi cá nhân, nghĩa có thể bị biến cải hay xuyên tạc. "Nghĩa của 1 hình ảnh bị thay đổi theo những gì người ta nhìn thấy đồng thời bên cạnh hỉnh ảnh đó, hay những liên tưởng mà hình ảnh đó tạo ra". Do vậy nó từ chối thẩm quyền truyền thống, mở ra nhiều cách_thấy. Hồi trước đọc cuốn "Những cách thấy" của John Berger thấy mình có tóm tắt lại mấy ý trên. Nay nhìn thử vào hiện tượng chụp mấy cái ảnh check-in đi ăn cuối tuần thấy có mấy liên hệ khá gắt nhân đang đọc lại cuốn "Cộng đồng tưởng tượng-nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc" (Benedict Anderson). - Check-in là một kiểu nghi thức quần chúng gắn với cảm thức về định vị: (1) trong một lịch biểu xuyên qua thời gian đồng_nhất, trống_rỗng; (2) trong một khung cảnh xã hội. Nó vừa riêng tư trên smartphone mỗi người lại vừa ngay lập tức (được coi là) đồng hiện trên dòng tin của mọi người (trong cộng đồng của họ - của người post). - Lớp thông tin đầu tiên thì nó ở ngay bề mặt đấy: ví dụ như cái ảnh đi ăn cuối tuần hôm trước. À thì đại khái kiểu nhà này khá bảnh, gia đình yên ấm, vợ đẹp con ngoan, yêu sách, biết ăn đồ tây...bala bala. Nhưng cũng giống như chụp ảnh cưới ở Bờ Hồ (tình cờ ăn cũng ở Bờ Hồ), thông điệp có thể thể đọc được thì không hẳn chỉ như thế. Ngay cả trong điểm nhìn và cách nhìn đầu tiên này nó cũng không hẳn đã hiển nhiên như thế. Đầu tiên là việc khoe mình đang ăn gì ở đâu ngay_lúc_này mới chỉ trở nên được xem là bình thường, không phải bàn trong thời kỳ mạng xã hội và trên giao diện mạng. Hãy thử hình dung như ngày xưa, kể cả thời ở trong các dãy nhà tập thể là nơi tính riêng tư bị xói mòn nhất thì cũng chỉ có bọn nhi đồng thối tai mới cả gan sang nhà hàng xóm khoe là nhà cháu hôm nay ăn gì. Tại sao lại khoe ăn, và làm sao mà nó lại có thể trông bình thường như thế được chứ? Chụp ảnh đăng facebook trước khi ăn còn hay được mọi người gọi là "cúng facebook". Thật tình cờ, nó - hành động có tính chất nghi thức này - rất dễ làm liên tưởng đến cách nói về hành vi đọc báo hàng ngày trong CĐTT: "Ý nghĩa của nghi thức quần chúng này - Hegel cho rằng báo chí phục vụ con người hiện đại thay cho lễ cầu nguyện buổi sáng - có tính hai mặt." Tính hai mặt này là ở chỗ nó được thực hiện trong sự riêng tư âm thầm nhưng mỗi người chịu lễ đều ý thức rất rõ rằng nghi thức này đang được sao nhân đồng thời bởi hàng nghìn triệu người khác, những người mà anh ta tin vào sự tồn tại của họ, dù không hề có ý niệm về căn cước họ mang. Hơn nữa nghi thức này cứ liên tục lặp lại một hoặc nửa ngày xuyên suốt thời gian lịch biểu. Tức là một minh họa sống động về một cộng đồng tưởng tượng thế tục. (đoạn này tóm lược). Đến đây có thể nói rõ là giả thiết của mình là việc check-in, cúng facebook có tính chất nghi thức, đáp ứng nhu cầu nghi thức trong hình hài mới để thấy mình thuộc về một cộng đồng (tưởng tượng), qua đó chống lại sự bất an và cả sự tự do ý chí. (cont)

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Đọc lại. Chất lượng sống

Nghĩ về chất lượng sống. Mình từng nói đâu đó rằng có ba khái niệm quan trọng về cuộc sống: mức sống, chất lượng sống và thái độ sống. "Mức sống" thì qúa vật chất nên khỏi bàn. Ai chả muốn một mức sống cao hơn, nhưng cao đến đâu thì phải nói sang chuyện "chất lượng sống". "Thái độ sống" là khái niệm thuần tinh thần. Có màu duy tâm chủ quan này nọ, khó tả khó đạt nên cũng để đấy mà thôi. Nhưng về khía cạnh phi vật chất thì "thái độ sống" có quan hệ với "chất lượng sống". Vậy thế nào là "chất lượng sống"?

Chất lượng sống là khái niệm để chỉ sống một cách có chất lượng. Có chất và có lượng. Nhiều lúc mình cứ suy nghĩ về cuộc sống của mình, về những điều đang diễn ra hàng ngày. Điều gì làm cho mình hài lòng và tạm tin tưởng rằng ngày đang qua là ngày đáng sống? Những ngày đã qua, những ngày nào khiến mình tạm cho là đã đáng kể? Thật khó trả lời. Thật bối rối.

Bối rối thì thực ra cũng phải thôi. Chả ai nói được hạnh phúc là gì. Hoặc là nói lung tung linh tinh loạn cào cào cả lên. Cũng vậy cả.

Nghĩ lại từ ngày 18 tuổi, có ba giai đoạn mà mình phân biệt ra được trong ký ức. Những ngày ở một mình trong một căn nhà nhỏ cạnh bãi đất trống. Mờ mờ trong rượu và lang thang trong đêm. Hoang phí sức lực và gần như đày đoạ bản thân. Có những ngày đóng cửa ba ngày đọc một cuốn sách triết lý nọ. Không biết giờ giấc, không ngày tháng và cả không cần biết đến ngoại giới. Tuổi trẻ thật đáng thương dù đáng yêu. Khi phải tự gánh vác cuộc sống của mình với một sự giáo dục không đầy đủ thì những nỗ lực thật là vô vọng. Điều đáng kể nhất còn lại là cái thái độ khao khát với tuyệt đối, tinh thần dấn thân của tuổi trẻ. Ngày đó một vài cuốn sách, một vài chuyến đi xa làm mình cảm giác thỉnh thoảng đã sống có chất lượng một chút. Nhưng nghĩ lại thấy tự thương mình đã loay hoay ngờ nghệch biết bao nhiêu. Cũng vì vậy mà mình rất nhiệt tình và rộng lòng muốn giúp đỡ chia sẻ với những bạn trẻ tuổi đôi mươi đi tìm một lẽ sống tuyệt đối chân thực với chính mình. Tiếc là ít gặp những người như thế. Thiên hạ có lẽ cười hoặc nghi ngờ những nhiệt tình thái quá như vậy. Không bao giờ nói chữ "nếu" vì không bao giờ rời mắt khỏi thực tại hiện tiền, nhưng quả tình cũng khó mà nói những ngày đó là đã sống cuộc sống chất lượng tốt.

Nghề nghiệp ảnh hưởng đến tính cách có khi còn nhiều hơn việc tính cách hướng đến nghề nghiệp như thế nào. Nghề nghiệp của mình khiến mình luôn làm những công việc duy nhất với những ám ảnh về mối liên hệ với cái thoả đáng, cái đẹp, cái cá tính, bản sắc. Nên cuộc sống sẽ khó mà chấp nhận được những đều đều máy móc. Khi nào cuộc sống đi vào đều đều buông xuôi nền nếp là khi đó mình cảm thấy bản thân vô dụng. Nhưng thò đầu ra ngoài đối diện với thực tại chênh vênh bất hoặc thì lại cũng thấy thật đơn độc, yếu đuối. Điều mình hàm ơn bác D nhất chính là đã truyền cho mình niềm tin vào sự tự tín nhiệm bản thân. Một thái độ sống bất uý nhiều lúc cứu vớt cảm giác về những ngày tháng đã qua.

Những ngày chúng mình sống trong căn phòng 10m2 nép trong khoảng sân trong sau nhà, sát với bếp của HTX Đông y cũng đáng nhớ một chút. Chối bỏ hoàn toàn thế giới bên ngoài, xin được 4 triệu đủ ngồi không mấy tháng, hai đứa đều không đi làm, ngày ngày lên thư viện QG ngồi. Chở em đi rải hồ sơ dự thi vào các công ty lớn-để được làm việc chuyên nghiệp-cứ thi, bao giờ đỗ thì thôi - 3 hay 4 tháng liền như vậy. Không thèm làm trò đứng núi này trông núi nọ, không thèm ăn cắp của công ty 1 phút hay 1 xu. Cũng đáng để coi là đáng nhớ, có chất lượng. Những ngày đó mình hoàn toàn chìm đắm vào những điều lý tưởng. Mình tìm thấy ở Nguyễn Hiến Lê sự đồng cảm về thái độ tự lập thân, tinh thần nâng đỡ chia sẻ với người trẻ tuổi tự học. Tìm thấy những phân tích sắc sảo, xác đáng của Erich Fromm về con người hiện đại, bằng sự tự vấn và đòi hỏi sự tuyệt đối chân thực và tự lập nơi con người. Tìm thấy tấm tình bát ngát, mơ màng của Bùi Giáng, sự thấu hiểu và sự oái oăm của tinh thần. Tìm thấy vẻ điềm đạm và lòng yêu thương khôn nguôi của tuổi trẻ từ Albert Camus. Sự mịt mù phiêu lãng của Saint Exupery. Nương tựa và tìm thấy lối vào giữa những hàng chữ giản phác thăm thẳm của Thầy Khổng. Và kính mộ tầm vóc triết gia của Francois Jullien trong lối trình bày tinh tế về những nếp gấp uẩn khuất của tư tưởng. Bạn bè tìm đến mình. Để kể một câu chuyện. Hay để hỏi một đôi điều về cuộc sống. Hay để được lắng nghe. Hoặc cùng nhau uống vài ly rượu trong im lặng. Đấy cũng là những ngày đáng nhớ và có chất lượng chứ nhỉ?

Nhưng rồi con đường độc đạo này càng ngày càng thăm thẳm. Bây giờ hình như mình không có bạn như trước nữa. Hoặc giả là không còn cảm thấy cần có bạn cho dù vẫn thấy yếu đuối và đơn độc nhiều khi. Bây giờ chất lượng cuộc sống là gì? Phải là gì? Nhiều lúc cố gắng gạch đầu dòng ra: đi du lịch, đi thăm bạn bè, đi xem phim, đi uống cafe, đi mua sách và đọc sách. Hay là đi thả diều ở ngoài Mỹ Đình? Hay là đi học Yoga hay Thái Cực quyền? Hay là rủ nhau đi học chơi piano cho nó sành điệu :) Có thầy ngay đấy rồi còn gì? Hay là dẫn vợ đi học vẽ màu cho vui? Hay là lên mạng lê la luyên thuyên? Vậy mà cuộc sống cự chuồi đi như cát khô qua kẽ tay.

Những ngày này chất lượng cuộc sống là gì? Hay là phải chăm chú vào và đừng nghĩ đến nó?

Xã hội đang trong cơn rùng mình nhè nhẹ, chuẩn bị cho những ngày tháng ăn sống nuốt tươi con người hiện đại. Ngồi cafe vỉa hè bây giờ người ta bàn chuyện chứng khoán râm ran. Chịu, mình không thể tham gia cái trò ngày đêm tính toán hóng hớt để kiếm tiền ấy được. Quán cafe gần một ngân hàng, một công ty chứng khoán, một công ty thiết kế. Tất cả đều râm ran rì rầm những câu chuyện làm ăn, kiếm tiền. Có hôm nhìn một bàn gần chục người đàn ông trung tuổi. Tất cả đều ngoài 40 trở lên và bàn tán về chứng khoán. Mình tự hỏi ngày mình sang cái tuổi đấy thì chất lượng cuộc sống của mình sẽ là gì?

Bây giờ làm một việc rất yếm thế và nước đôi là lựa theo dòng, đi học lấy vài cái chứng chỉ, update chuyên môn để tránh thành lạc hậu sau 10 năm nữa. Bây giờ chất lượng cuộc sống của mình là gì nhỉ???

Nghe nói cảm giác làm cha làm mẹ rất tuyệt vời-mệt, vất vả nhưng mà vui. Vậy đó là chất lượng cuộc sống? Hay là người ta đã tìm thấy lý do để cúi gằm mặt xuống và mơ màng về một ngày mai xa lắc huyễn hoặc?

Nhìn chăm chú vào thực tại và chính mình là như thế nào???

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Nhớ lại. Nothing

Nhớ lại thời Gấu tập nói.
---------------------

1.
Dạo này thường viết về đêm. Lý do cũng đơn giản: phải chẳng vì cái gì cả thì mới viết được. Giờ ban ngày có vì cái gì rồi nên đêm đến mới linh tinh được. Chẳng vì cái gì, chẳng có gì cũng đang an ủi bác Gauxx nhà bên kia. Mỗi lần xem phần Map overlay của Google Analytics tôi thích theo rõi xem ai ở đâu đã đọc blog của mình. Những chấm trên bản đồ địa cầu gợi liên tưởng đến cái nhìn những đốm sáng dưới mặt đất khi bay đêm của S.Éxupery trong Terre des homme. Tôi chú ý những thành phố chỉ có một người thường xuyên theo rõi blog mình và tưởng tượng về họ, trong những thành phố ước lệ-đâu đó ở VN, đâu đó ở các châu lục xa lạ. Tưởng tượng cứu rỗi cuộc sống nhiều ngang với những tác dụng phụ của nó. Chúng ta có thể hiểu được thế giới không là một câu hỏi khó và khá rắc rối. Nhưng chúng ta đang cảm nhận thế giới và cần nuôi dưỡng khả năng cảm nhận thế giới vì đó là cách chúng ta đi đến cuộc đời này. Hai bố con tôi chơi trò bắt chước tiếng chó sủa khi xem ảnh con chó trên xe ô tô thò đầu ra. Gấu đang tập nói và đó là hầu hết vốn liếng về chó của Gấu lúc này. Âu âu âu âu...Hehe, bố chợt nghĩ rằng những bài viết khuya của bố rất giống những tiếng tru đêm Gấu ạ. Auuuuuu...

2.
Ngẫu nhiên thế quái nào ô tô cũng đang là chủ đề của Hà Nội tối nay qua bài viết của 2 bác VMC (Khai giảng trường con nhà giàu) và TQ (Bốn bánh bay lên đỉnh). Bây giờ bạn bè gặp nhau chủ đề ô tô cũng thường là sôi nổi nhất. Các bác sĩ phu chơi hoa lan (không nói 2 bác trên :), mình nghĩ câu chuyện nhàn đàm tối nay nên hướng vấn đề về phía không phải là cái ô tô mà là ý nghĩa của việc đã sở hữu nó chứ nhỉ? Đó là câu hỏi về ý nghĩamột lúc nào đó chúng ta sẽ suy nghĩ về ý nghĩa. Việc câu hỏi đó buột ra trong lúc ngồi ô tô hẳn là một tình huống thiết thân hơn rất nhiều trường hợp đau đáu sau khi đọc một cuốn sách 1ooo trang? Tất nhiên ô tô chỉ là một ẩn dụ và có thể thay nó bằng bất cứ cái gì. Nói chuyện với bạn cũ, vấn đề ý nghĩa cứ lởn vởn khăm khẳm xung quanh. Sẽ tốt hơn nếu bạn nhìn nó một cách trực diện và chân thành. Khả năng cao là khá hẫng hụt. Hơi buồn cười khi được/bị nghĩ là "chuyên về văn hóa". Nếu văn hóa là cách thái ứng xử với xung-quanh và với chính mình thì không thể có chuyên gia văn hóa mà chỉ có con người - Người-thật-là-người như cách diễn dịch của Nhượng Tống - và văn hóa không phải là để làm dáng theo sở thích hay trào lưu. Do vậy theo mình văn hóa là thứ có thể mày mò tự học nhưng nhất định không nên chỉ là học lỏm. Một cái nhìn chăm chú, có thể nói như thế nếu không thích dùng chữ Học trong trường hợp này.

3.
Nhưng nếu không có ý nghĩa (tuyệt đối) thì sao? Thì cũng chỉ là không có ý nghĩa thôi mà! Câu hỏi về ý nghĩa sẽ trở thành câu hỏi về tính chính đáng của nhu cầu phải có một ý nghĩa. Trong phương pháp luận NCKH người ta có tiêu chuẩn về vấn đề nghiên cứu là: vấn đề nên phát biểu dạng câu hỏi và câu hỏi tốt thì không phải là dạng câu trả lời tiềm năng. Trong trường hợp này chúng ta sẽ cùng nhau chuyển thẳng sang vấn đề về sự bận tâm ("vì nó được hình thành về mặt thời gian, tồn tại con người là sự "bận tâm" (Sorge) xét về cấu trúc"-MH).

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Đọc lại - Bên cạnh đúng-sai

Suy nghĩ bất chợt về nghệ thuật

Nghệ thuật, cốt yếu ở chỗ tái tạo cảm xúc và bắt đầu từ cảm tính. Không hẳn ý nghĩa đến sau mà có vẻ nó đến trong nhập nhằng. Khi xem 1 vũ công khiêu vũ trên băng thì cảm hứng mỹ cảm đến trước hết với tôi. Nhưng cũng có thể vì tôi chưa am hiểu và có kinh nghiệm về kỹ thuật của bộ môn này. Lại là nói về sự đào luyện. Rõ ràng những người có kinh nghiệm luyện tập trong 1 bộ môn nào đó sẽ thường có khả năng cảm nhận tinh tế hơn về bộ môn đó. Phải chăng ngay cả xúc cảm thẩm mỹ cũng chỉ quy về việc "tập và quen" trong 1 ngữ cảnh văn hoá nhất định?

"Mọi sự miêu tả cảm tính bất kỳ một vật thể sống hay hiện tượng nào từ giác độ trạng thái cuối cùng của nó, hay là dưới ánh sáng của thế giới tương lai, sẽ là tác phẩm nghệ thuật.” - Soloviev.


Dụng học của tri thức tự sự

Dưới hình thức 1 Báo cáo thẩm định nhưng sự thực thì cuốn "La condition Postmodern"/Hoàn cảnh hậu hiện đại-của F.L có tính chất như 1 đề cương lớn cho những ai muốn tìm hiểu những điều ông đã thực sự phát biểu trong những dòng giản lược. Nhưng hễ có thân phận con người thì thảy đều có quyền triết lý (K.Jasper), cuốn sách vạch ra những khía cạnh căn bản của 1 tổng thể tri thức thời đại (1979).

F.L tiếp cận vấn đề bằng khái niệm "các trò chơi ngôn ngữ" (ngữ dụng học, Wittgenstein hậu kỳ-theo BVNS) và nếu chấp nhận sự tiếp cận này thì sẽ đi cùng ông đến các khái niệm về "tri thức tự sự", "tri thức khoa học", "phát ngôn sở thị", "nhận thức"...Theo cách này tôi thấy rõ ràng hơn khi nhìn lại câu chuyện về "học lệch" rất phổ biến ở VN (mà trong 1 entry của chị HY có đề cập đến-trong câu chuyện với con trai). Bản thân tôi cũng có những kinh nghiệm khá sâu sắc với chuyện này. Từ hồi cấp 1, các giáo viên trường tôi luôn vận động các học sinh khá giỏi rằng "học năng khiếu là học lệch".

Bệnh thành tích của GD địa phương đã sáng tạo ra những giải pháp chiết trung tiện lợi: chúng tôi thường tham gia "thi hộ"-"thi cùng" với các đội tuyển của trường NK. Coi như là học sinh của cả 2 trường. Càng học lên thì tâm lý "môn chính-môn phụ" càng nặng nề. Lễ, Tết theo đó cũng có nặng nhẹ khác nhau. Còn nhớ năm lớp 7, cô giáo Sinh và thầy giáo Hoạ có phê phán công khai chúng tôi trước lớp về tâm lý này. Ông thầy có nói 1 câu "sau này ra đời chưa chắc các em sẽ sống bằng kiến thức Văn, Toán. Rất có thể là Nhạc, Hoạ. Lúc đó hãy kiểm nghiệm lại lời tôi.". Điều này kể cũng có tác dụng phản tỉnh và cuộc sống về sau cũng cho những phản tỉnh thường xuyên.

Nhưng có 1 điều canh cánh mơ hồ thường trực là cảm giác hình như câu chuyện có cái gì đó lệch dòng, chệch choạc khi tri thức được phân chia thành các ngăn riêng rẽ. Sau này lại thấy thêm 1 cái gì đó chệch choạc hơn nữa khi mọi thứ (chủ yếu ở VN) đều tìm cách hợp thức hoá bằng mấy chữ "có tính khoa học". Ngay cả các ngành nhân văn cũng tìm cách "khoa học hoá" bộ môn của mình. Xa hơn nữa thì là câu chuyện lược quy chân lý vào Logic hình thức. Định lý bất toàn của Kurt Godel trong Toán học thường được viện dẫn trong nhiều diễn ngôn phong phú thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trong mục 6 "Dụng học của tri thức tự sự", Lyotard phân biệt các khái niệm "nhận thức", "tri thức", "khoa học" đồng thời bàn về các hệ tiêu chí khác nhau. Theo ông, "tri thức không đồng nhất với khoa học, đặc biệt dưới dạng hiện nay của nó" và "tri thức nói chung không quy về khoa học và thậm chí về nhận thức". Để hiểu rõ điều này cần nắm được cách định nghĩa của Aristote về "sở thị": "Mọi lời nói đều biểu thị cái gì đó, nhưng không phải mọi lời nói đều là sở thị. Chỉ là sở thị cái mà có thể nói về nó là đúng hay sai. Nhưng, điều này không phải bao giờ cũng làm được: chẳng hạn lời cầu nguyện là một lời nói nhưng nó không đúng không sai" (Péri herménèias; 4,17a)-(dẫn theo sách).

Nhận thức, do vậy, được giới hạn bằng tiêu chí "có thể qui về đúng sai". Khoa học là tập con của nhận thức. Nó kèm theo 2 tiêu chí là đối tượng mà chúng phản ánh phải dễ đệ qui, và do đó, phải ở trong hoàn cảnh được quan sát rõ ràng; hai là có khả năng quyết định mỗi phát ngôn này là thuộc về hay không thuộc về 1 ngôn ngữ mà giới chuyên gia cho là thích đáng.

Nhưng tri thức thì dù tất nhiên là phát ngôn sở thị nhưng nó được trộn lẫn vào những ý tưởng về tri thức-làm, tri thức-nghe, tri thức-sống...Nó vượt ra ngoài việc xác định và áp dụng tiêu chí chân lý duy nhất. Còn có những tiêu chí về tính hiệu quả (nhân tiện-Bàn về tính hiệu quả; F.Jullien), sự công bằng (Xác lập cơ sở cho đạo đức-F.J) và/hay hạnh phúc, vẻ đẹp của âm thanh/màu sắc..."Tri thức là cái làm cho ai đó có năng lực nói ra được những phát ngôn sở thị "hay", cũng như phát ngôn mệnh lệnh hay lượng định "tốt"->Tri thức cho phép thu được những thành tựu "tốt" về nhiều đối tượng của diễn ngôn: để hiểu biết, quyết định, đánh giá, thay đổi...

Đặc điểm chính yếu của tri thức, do đó, vẫn theo F.L: nó trùng với 1 sự "đào luyện" bao trùm nhiều thẩm quyền: nó là hình thức duy nhất được hiện thân trong một chủ thể, và chủ thể này là 1 tập hợp gồm nhiều loại thẩm quyền khác nhau cấu tạo nên nó. (sdd, tr105)
-------------


Phản tư
Khi xuôi chiều nhận thức thì không có vấn đề gì, nhưng tôi thường có cảm giác truyền thống tư tưởng Phương Tây không thể tách khỏi ảnh hưởng của cái tinh thần "Lời làm nên xác thịt" trong Cựu Ước. "Khởi đầu là Lời.".

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Đọc lại - Bằng hữu. Tản mạn về chữ "Chí"



- Khi nào một người coi một người khác là bạn? Điều tối thiểu là họ phải "biết" nhau. Như vậy chưa đủ, họ còn phải có thể "thông - cảm" được với nhau ở một phương diện nào đấy. Do đó họ chia sẻ một sự tín nhiệm về "đồng cảm". Và "tín nhiệm" thường được coi làm tiêu chuẩn của tình bạn - tin cậy lẫn nhau, chúng ta thường nói như vậy. Điều kiện của tín nhiệm như vậy chính là một môi trường chung để có thể "cảm - thông" với nhau. Họ có thể không hiểu nhau ở chỗ bất đồng chính kiến, nhưng họ không "hại" nhau. Tức là họ chia sẻ với nhau niềm tin vào một sự liên đới nhân bản giữa các cá nhân với nhau. Chính điều này sẽ phát động hành vi giúp đỡ nhau lúc khó khăn một cách vô vụ lợi. "Làm cho bạn được như mình được". Mà vẫn duy trì, tôn trọng sự độc lập trong khai triển nhân tính của mỗi người. Tình bạn chia sẻ cảm nghiệm chúng ta chung một bản thể và hơn thế tất thảy đều gắn chặt trong bản thể của tự tính sự sống.

- Có bạn tốt là một điều hay. Có nhiều bạn tốt càng đáng mừng. Nhưng khai triển những năng tính của tình bạn hữu ra đến vô tận mới chính là điều tốt đáng hâm mộ. "Tứ hải giai huynh đệ".
Tình bạn thường được so sánh rất tự nhiên với tình anh em. Có thể nói tình anh em là mẫu hình lý tưởng cho tình bạn tốt? Ta thử tìm kiếm một vài ví dụ ngẫu nhiên xem sao.

Tình anh em. (Erich Fromm)

Tình anh em là tình yêu căn bản nhất, nền tảng cho mọi kiểu mẫu tình yêu.
- Với tình anh em, tôi chỉ cho ý nghĩa về trách nhiệm, quan tâm, trọng thị, nhận thức về một con người khác nào đó, ước muốn giúp đỡ sự sống của nó.
- Tình anh em là tình yêu đối với tất cả loài người: nó có đặc điểm là không cực đoan.
- Tình anh em dựa trên cảm nghiệm rằng tất cả chúng ta đều là một.
+ Những sai biệt trong tài năng, trí năng, tri thức đều có thể bỏ qua so với đồng nhất tính của tâm điểm con người chung cho tất cả mọi người. (Xem “Sự hình thành con người” và “Lý luận không có con người” của Trần Đức Thảo).
+ Mối thân thuộc từ trung tâm tới trung tâm: Simone Weil: “Cùng lời nói ấy (thí dụ, một người nói với vợ mình: tôi yêu mình) có thể là tầm thường hay phi thường tùy theo cách nói lên của chúng. Và cung cách này dựa trên miền sâu của vùng, trong thể tính của con người mà chúng diễn tiến từ đó; không cần đến ý chí với khả năng làm một việc gì đó. Và bằng một thỏa thuận kỳ lạ chúng tiến vào vùng ấy trong kẻ đang nghe chúng” (Điều này thật ý nghĩa khi so với thế giới lý tưởng của Plato).
- Tình anh em là tình yêu giữa hai kẻ ngang hàng: nhưng sự thựcchúng ta không bình đẳng như là những kẻ ngang hàng; vì chúng ta là người nên chúng ta cần có sự giúp đỡ. (Bản chất xã hội của loài người – xem các thảo luận liên quan của K.Marx).
+ Nhưng nhu cầu giúp đỡ này không có nghĩa rằng người này thiếu sức người kia dư sức.
Bất hạnh là một điều kiện tạm thời; khả năng đi và đứng bằng đôi chân của chính mình là một khả năng thường trực và chung. (Liệu có liên quan gì đến những phê phán xung quanh vấn đề “luật pháp và đạo dức là khế ước của xã hội những kẻ có bản chất xấu xa” của các nhà ngụy biện Hy Lạp?)
- Tuy nhiên, tình yêu một kẻ yếu ớt; tình yêu một người nghèo, một kẻ lạ, là khởi đầu của tình anh em.
+ Chỉ trong tình yêu của kẻ nào không phục vụ cho một chủ đích, tình yêu mới bắt đầu thổ lộ.
> Cựu Ước: đối tượng trung tâm tình yêu của con người là kẻ nghèo, kẻ lạ, quả phụ và cô nhi, và cuối cùng là kẻ thù quốc gia, người Ai Cập và người Edomite.
+ Bằng lòng lân tuất với kẻ yếu ớt, con người bắt đầu phát triển tình yêu với huynh đệ mình, và trong tình yêu của nó với chính nó, nó cũng yêu kẻ đang cần giúp đỡ, kẻ bạc nhược và bất an.
Lòng lân tuất bao hàm yếu tố nhận thức và đồng nhất hóa: Cựu Ước: “…vì bạn là những khách lạ trong lãnh thổ Ai Cập; vậy nên bạn hãy yêu khách lạ” (Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm/Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân)
- E.F đã phát biểu với tinh thần và cung cách diễn đạt của Phương Đông. Nó đòi hỏi một sự "cảm-thông" và hướng tới "sự suy tư vô tận" về cái vô hạn, cái vô điều kiện.
Luận ngữ V.25 bản dịch NHL.
Nhan Uyên, Quý Lộ thị. Tử viết: "Hạp các ngôn nhĩ chí?".
Tử Lộ viết: "Nguyện xa mã, ý khinh cừu, dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám"
Nhan Uyên viết: "Nguyện vô phạt thiện, vô thi lao"
Tử Lộ viết: "Nguyện văn tử chi chí"
Tử viết: "Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi".
Dịch:
Nhan Uyên và Quí Lộ theo hầu.
Khổng Tử bảo "Sao không kể chí hướng của các anh cho ta nghe?".
Tử Lộ thưa: "Con mong có xe, ngựa, có áo lông cừu nhẹ để các bạn cùng hưởng, dù có hư nát, con cũng không hận".
Nhan Uyên thưa: "Con không muốn khoe điều hay, kể công lao con".
Tử Lộ thưa: "Xin thầy cho chúng con biết chí thầy?"
Khổng tử đáp: "(Ta muốn) các người già được an vui, các bạn bè tin lẫn nhau, các trẻ em được săn sóc vỗ về".

- Tại sao tôi lại chọn đoạn văn trên trong khi Luận Ngữ có rất nhiều đoạn nói trực tiếp về bằng hữu? Thứ nhất là bởi vì do ngẫu nhiên, nói đúng hơn là do đoạn văn này mà tôi nảy ra ý thú viết đoạn luận này. Thứ hai, qua nó, tôi muốn gợi ra phương thức suy tư vô tận để có thể thực sự "cảm - thông" được ý niệm "thông - cảm" của tình bạn làm cơ sở suy tư sâu xa hơn về tình bạn - cũng là làm cho tình bạn thực sự được khai triển, lân mẫn.

Tản mạn về chí. Người xưa nói về chí hướng với một sự thận trọng, trân trọng và đầy chú tâm. Vì sao vậy? Vì sao người ta thường nói về chí như là chí hướng? Là bởi vì chí không hoàn toàn là một mục đích cụ thể như người ta dễ lược quy nó như vậy. Trong truyền thống của triết lý điều tiết, triết lý "Trung thứ" (vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã) thì chí hướng có tính cách phát khởi, khích lệ con người ta phấn phát hơn là một đích đến. Nội dung cụ thể có thể được điều chỉnh, nhưng cái tinh thần, ý hướng hàm ngụ trong đó mới thực sự quan trọng. Nhất là trong truyền thống của lời nói gián tiếp, hàm ngụ, ẩn ý. (Phải nói thêm rằng lối đi vòng này là một lựa chọn có tính nguyên tắc chứ không phải một trào lưu thời trang diêm dúa). Ngày nay người ta chua chát nhận ra rằng: bây giờ những gì nghiêm trang quá, đúng đắn quá lại bị chuyển sang sắc thái hài hước thậm chí là hơi "sến" - như cách nói của người hiện đại. "Đời là bể khổ, tình là dây oan" - Ai hay đó là lời từ cửa Phật từ bi lân mẫn nữa? Chỉ còn lại một kiểu tán thán có phần giễu cợt! 

Bây giờ, trong ngôn ngữ của người VN hiện đại, người ta có phần ngượng ngập khi nói về chí và chẳng còn hỏi nhau "Chí của anh là gì?" nữa. Nó suy biến thành những câu hỏi về mục tiêu - mục tiêu luôn luôn nông cạn; và về mong muốn - mong muốn luôn luôn yếm thế. Không thể nào nói được cái sắc thái phấn phát, hướng thượng của một hoài bão khởi lên từ bên trong nữa. Thời đại của hoài nghi là như vậy - người ta chỉ biết đến hoài nghi và chờ đợi.

Chu Hy nói rằng người ta phải nghiền ngẫm những lời nói của cổ nhân. Nghiền ngẫm, chứ không chỉ đọc, người ta mới cảm nhận được cái dư vị của lời nói, cái phần không hiển ngôn của lời nói Thánh Hiền. (Từ khi con người đã quen thói lý sự, sự khích động kín đáo của một Danh sư không đủ nữa và những trường phái lao vào một cuộc tranh luận vô tận. Trong sự loạn đả tranh cãi, những điều tế vi của Đạo của cổ nhân thánh hiền bị đe doạ…(F.J). 

Hãy thử bắt đầu một cách chậm rãi: Nhan Hồi và Tử Lộ theo hầu Thầy". Họ noi theo và chờ đợi những chỉ dẫn, những tín hiệu từ thầy. Khổng Tử khơi nguồn từ trong chính họ "hãy nói_với_ta về chí của các anh". Tử Lộ nói trước. Ở trong văn bản, đây là một điều tinh tế. Có thể là vì Tử Lộ nhiều tuổi hơn nên Tử Lộ nói trước. Có thể vì Tử Lộ hấp tấp nên nói trước. Bề nào cũng có ngữ nghĩa của nó cả. Thời xưa, người ta không viết tuỳ tiện bao giờ. (Hãy nhớ lại câu chuyện Khổng Tử viết Xuân Thu). Cái gì quan trọng, cái gì xảy ra trước thì trình bày trước. (Vậy tại sao ngay từ đầu lại đặt tên Nhan Uyên lên trước Quí Lộ? Phải chăng trong trạng huống "theo hầu Thầy" trên con đường "Đạo" thì Nhan Uyên đang ở phía trước Quí Lộ?). 

Người học trò cương trực nhưng có phần kém nhạy bén kia đã thưa với thầy về những tiện nghi tượng trưng cho sự thành đạt trên quan lộ (người Trung Hoa luôn quan niệm triết lý là triết lý chính trị - tu thân là để trị nước cứu đời, con người luôn gắn chặt trong xã hội, ngay cả dù ở những trường phái cực đoan nhất cũng khởi đi từ điểm này). Điều quan trọng là Tử Lộ bày tỏ trong sự chia sẻ cụ thể với các bằng hữu - những người cùng trên con đường đạo lý của anh ta. 

Chúng ta giữ lời nói này trong tương quan giữa trò và thầy - người thầy chỉ dạy vê Nhân - về làm người thế nào cho phải lẽ. Từ đó có thể nhận thấy quan niệm của Tử Lộ về viễn cảnh đạt Đạo trong chiều hướng tin tưởng vào khả năng đạt tới một thái độ sống (dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám) nhưng trong đó còn vương vấn sự phân ly với thực tại khi dựa vào những tiêu chuẩn của thành tựu chất lượng sống (không phải mức sống). Sự phân ly này được dội lại ngay trong lời nói của Nhan Uyên "nguyện vô phạt thiện, vô thi lao". 

Nhan Uyên chăm chú vào thực tại nội tâm nhưng ý hướng vẫn có thể gợi ra một viễn cảnh mà đồng thời không chia tách với thực tại bởi khoe điều hay thì chưa thực hay, kể công lao thì chưa thực có công lao. Hãy đối chiếu ý kiện này với nhận định của E.F "chỉ tình yêu của một kẻ nào không phục vụ cho một chủ đích, tình yêu mới bắt đầu thổ lộ". Đây chính là điểm mà Nhan Uyên hằng dõi theo Thầy mình: "Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã". Tất cả đều khơi gợi đến viễn cảnh hoà nhịp với thực tại. (Phải ghi chú thêm rằng cũng theo Luận ngữ, Tử Lộ là người khi chưa thi hành được lời thầy dạy thì luôn sợ nghe thêm điều mới. Chúng ta so sánh, nhưng so sánh trong sự chú tâm cao độ vào không gian vang vọng lời tán thán của Bậc Hiền "Vi nhân nan - làm người khó lắm thay!"). Trong sự đạt nhân của Tử Lộ có sự phân lớp "xa mã, ý khinh cừu" là thành quả của người quân tử (người đạt nhân - tôi muốn thay bằng từ này cho nó sát với cổ nghĩa) đã trị nước, cứu dân, giúp đời. "dữ cộng bằng hữu" là một lớp nữa, "tệ chi nhi vô hám" lại là một lớp nữa - lớp cao nhất của một thái độ. 

Đến đây tôi chợt nhớ đến mẩu chuyện trong phần đầu của tiểu thuyết "Anh em nhà Karamazop" của F.M. Dotoiepxki. Về lời than thở của nhân vật đạo mạo với trưởng lão rằng y ta mặc dầu rất tin vào tình thương yêu con người (nói chung) của mình, nhưng càng chìm đắm trong tình thương đó, thì y ta lại càng không thể yêu thương được những con người cụ thể thường nhật. Mặc dù khập khiễng, nhưng ý niệm của Tử Lộ còn có cái gì đó như là một khuôn mẫu, một nguyên lý…là cái mà Khổng Tử không xiển dương.

Lời nói của Thánh Hiền có giá trị chỉ hiệu (valeur indicielle), mở ra sự suy tư vô tận - một "lối nói tinh tế". Ở giữa khoảng lời đáp của Nhan Uyên và câu hỏi lại của Tử Lộ với Khổng Tử có lẽ đã có một khoảng lặng. Thầy Khổng đã im lặng vì như thế là đủ. Tự sự cọ xát giữa hai lời đáp của Nhan Uyên và Tử Lộ đã đầy đủ. Chính độ chênh ấy đủ tạo ra thế năng cho sự vận hành tâm trí của các học trò trên con đường "Đạo", mà thầy Khổng đã gián tiếp tạo ra. Nhưng có lẽ hoặc là Tử Lộ không nhận ra, hoặc Tử Lộ không có chỗ bấu víu để chuyển đổi nên Tử Lộ muốn hỏi "Nguyện văn Tử chi chí?".

- "Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi". Người già an vui, bằng hữu tin cậy lẫn nhau, trẻ em được quan tâm săn sóc. Bối cảnh đã xô đẩy và chúng ta chờ đợi một hình ảnh toàn thể - bao gồm cả cái xã hội lý tưởng đáng hâm mộ của những con người đạt nhân và chính con người đạt nhân là Khổng tử. Cái điều mà chính Nhan Uyên cũng chưa rõ được. Trong lời đáp cô đọng này có quá ít chi tiết để đáp ứng yêu cầu ấy. Có thực là như vậy không. Thoạt đầu ta dễ hiểu cơ cấu ba thành phần này theo lứa tuổi: người già, người trưởng thành, và trẻ em. Nghĩa đen có vẻ như vậy. Nhưng có điều gì đó không ổn ở đây. "bằng hữu" tự nó không giới hạn ở độ tuổi nào cả. Hơn nữa, nếu triển khai theo các lát cắt, đáng lẽ ít ra chúng ta phải tìm thấy dấu vết của nhân luân, tam cương…Đó là những đặc điểm của một thiết chế xã hội mà Khổng tử muốn duy trì. Hơn nữa lại vắng bóng "ta" ở đây - thậm chí như cách dịch thì ta ở trên (ban phát) và chia tách với mọi người. Mặc dầu có vẻ hợp với vị thế của một "sư biểu" thừa mệnh trời kế chí Chu Công đi nữa thì nó vẫn thiếu sắc thái qui hướng về chính ta - người đạt nhân.

Lật sang một phía khác. "An chi", "tín chi", "hoài chi" - "được an vui", "tin cậy lẫn nhau", "được quan tâm săn sóc" từ mặt trái của các tiêu chuẩn này là những vấn đề gì? Chúng có thiết thân và phổ cập ở mức độ xã hội như là những đặc điểm vốn có của "Đạo lớn" không? Tất nhiên, ta có thể vượt qua những vấn đề của xã hội đương thời Khổng Tử và đẩy chúng đến vị trí của một khuôn mẫu xã hội lý tưởng mà ngài theo đuổi. Nhưng xem xét chúng theo những mẫu hình cũ như nhân luân, cương thường…ta thấy có cái gì đó không sát lắm. Đành rằng nó có thể diễn đạt được những điều ấy nhưng nó có phần xa rời khuynh hướng tự nội do vậy thiếu tính chất phát khởi như một nguồn sinh động của sự sống trong dòng vận hành của Tự nhiên - của Đạo.

Cơ may đến với chúng ta khi ghép hai phía khiếm khuyết này lại. Mọi sự sẽ nhất quán và có sức lan toả hơn rất nhiều khi nhìn nhận cơ cấu 3 thành phần này như 3 giai đoạn của một đời người trên con đường học Đạo tiêu biểu: thuở chưa định hướng được chí hướng của mình. Người ta chỉ mới ý thức về sự thôi thúc vươn tới Đạo lớn, nhưng còn thiếu mọi bề. (Đối chiếu với lời tự thuật của Khổng Tử: "Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập nhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất dụ củ" - "Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo lễ mà làm); bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa (tức là có trí đức, nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết được việc sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi đã biết theo mệnh trời; bảy mươi tuổi theo lòng ham muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý (không phải suy nghĩ hay gắng sức mà hành động tự nhiên, hợp đạo lý).

Vậy là theo mạch đấy có thể thấy khi còn non trẻ ("thiếu" không nhất thiết là trẻ nhỏ) để đến được với Đạo lớn, điều cần thiết nhất là có được sự khuyến khích định hướng dẫn dắt. Vào Đạo rồi (nhưng chưa đạt Đạo), con người ta còn thấy mặt này bỏ mất mặt kia…người ta cần "bằng hữu tín chi". Nó đảm bảo cho hai vế của một phương trình, một bên là tự thân người học Đạo (làm người), phần còn lại là tương quan của anh ta với xung quanh. Cuối cùng đạt Đạo rồi, người ta đạt đến sự chín muồi (lão) - sự chín muồi của tinh tấn xuyên qua thời gian sống. Phần thưởng là cái "an chi". Khỏi phải nói trong triết lý "Trung thứ" thì "an chi" chính là dấu hiệu của sự hoà nhịp và đồng điệu với Tự Nhiên - với Trời. Tựu trung lại, tự phẩm giá của 3 giai đoạn này đã gợi ra mối liên hệ theo chiều dọc, sự lưu chuyển của Đạo lớn. "Mặc nhi chí chi, học nhi bất yếm, hối nhi bất quyện, hà hữu ư ngã tai!" - Trầm mặc suy nghĩ rồi ghi vào lòng, học không chán, dạy người không mỏi, ngoài ra ta có cái gì khác đâu!

Trên cái phông nền của bạn hữu, chúng ta thấy được điều gì? Phải chăng đó là sự lân mẫn, liên thông và đồng đẳng của những nhân vị với khả năng khai triển nhân tính đến vô hạn, vô điều kiện của nó. Và trên con đường lớn chung đó người ta mới thực sự có bạn hữu, và sự tương thông làm lên phẩm giá của tín nhiệm? Nếu không thế, người ta rơi xuống bình diện của bè nhóm ("giấu cô đơn trong cảm xúc bầy đàn" @HY). Và đặc điểm nổi bật là sự đồng loã khi các xung đột chưa thực sự xảy ra. Xung đột theo hai chiều hướng: xung đột tiêu cực mù quáng ngộ nhận, sai lầm; và xung đột nội tâm xô vỡ tấm màn che mắt ta!

Cuối cùng, câu hỏi suýt trượt mất khỏi viễn tượng "lão giả an chi" vốn quá hiển nhiên và thậm chí là mờ nhạt (mờ nhạt là một phẩm giá - phẩm giá của nước, của không khí, của bao dung thể). Câu hỏi đó là "tín nhiệm" và các quan hệ bằng hữu đã chuyển hoá đi đâu trong bức tranh này? Bức tranh vốn được đưa ra đầu tiên trong dãy liệt kê chí hướng của Thầy Khổng!

Tôi thích hình ảnh thâm viễn mà Bùi Giáng sử dụng từ M. Heidegger: "Thi nhân và triết nhân đứng trong ngôn ngữ là đứng trên hai chóp núi xa biệt nhau vô cùng nhưng vòi vọi như nhau nên cùng đón nhận như nhau mọi sương tuyết phiêu bồng hiu hiu về với Chị - Chị Kiều là thiên thu Hồn Logos.." Người - điên này khích liệt quá nhưng một vẻ nào nhận thức của ông có phần đồng vọng với những điều Thầy Khổng nhận xét "Quân tử chi giao đạm nhược thuỷ - người đạt nhân giao tiếp với nhau đơn sơ như nước lã".


Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Đọc lại về việc đọc

Dạo này cứ lấn cấn cảm giác có vấn đề về sự đọc của bản thân. Muốn thay đổi để hiệu quả hơn: đọc chậm quá; nhanh hơn thì không chịu được cảm giác nửa vời. Suy cho cùng có lẽ từ khởi thủy là tại quan niệm đọc cũng phải nhọc nhằn như viết.

Giở lại bài viết cũ từ hồi Y360 (ít nhất 5 năm trước) thì thấy đã từng viết về vấn đề này rồi. Mà cũng đã làm như thế rồi. Vậy sai ở đâu ta?
-------------

1

Dạo này mình gặp vấn đề về đọc. Đành rằng cách đọc phụ thuộc vào loại sách nhưng nếu trước đây mình có thể đọc lướt rất nhanh thì hiện nay lại luôn bị cảm giác cầu toàn làm cho việc đọc tài liệu trở lên chậm chạp. Nhất là những lúc đọc những thứ chỉ vì công việc chứ không phải vì hứng thú.

Cũng nói về cách đọc, thời gian gần đây cũng có sự thay đổi trong cách đọc sách của mình. Trước đây khi đọc mình thường kết hợp việc đánh dấu những ý quan trọng và ghi những nhận xét bất chợt bên lề - những nhận xét này phần nhiều là thoáng qua và thường không liên quan chặt chẽ đến văn bản, nhưng nó là cách hay để đánh dấu cảm nghĩ lúc đọc và dễ làm tái hiện cho những lần sau - cho đến khi kết thúc trọn vẹn 1 ý nào đấy thì ghi lại những logic chính ra giấy như 1 kiểu rút gọn. Cách đọc này mình đã thử như trong phần tóm lược tiểu luận phân tâm học của EF ở 1 số entry trước. Cách căn lề theo cấu trúc logic hình cây cũng tiện cho việc theo dõi văn bản. Tuy nhiên cũng chỉ là cách làm linh động không nên máy móc quá vì xét cho cùng có phải bài viết nào cũng chặt chẽ và tuân thủ duy nhất logic hình thức như toán học đâu. Ưu điểm nữa của kiểu đọc này là có thể nhận ra được bằng cảm nhận và logic những chệch choạc sai lệch nếu là đọc 1 bản dịch ngay cả khi mình không đọc được nguyên bản (Nhất là trong khi đa số những sách mình tìm đọc đều chịu cảnh chệch choạc không thể tránh khỏi này). 


Bằng vào việc giữ 1 tinh thần "để mở" như những nhận xét tạt ngang kia, nương theo mạch lạc của tác giả, nương nhẹ và lưu ý những chệch choạc, độ chênh, khoảng lùi, nếp gấp của văn bản...ta có cái thú được gần như tái tạo lại, tham gia vào quá trình suy tư của tác giả, nhận ra cả chỗ khó nói của văn bản. Nhiều khi, trong lúc đọc cứ tưởng sẽ viết lại những cảm nhận suy nghĩ thật sâu sắc, đầy đủ nhưng rốt cuộc khi gấp sách, nhìn lại những gì đã qua chỉ thấy không thể diễn đạt được điều mình đã thấy. Lại thấy cứ gạch đầu dòng, viết vu vơ bên lề là đúng nhất, vừa vặn nhất những gì cần nói. Càng lúc mình càng lảng tránh cách viết những diễn từ quá hoàn chỉnh, trau chuốt - viết như từ 1 thẩm quyền/mình tưởng tượng hơi tuyệt đối về cái thẩm quyền ấy! Lời nói chỉ có xu hướng như 1 sự điều tiết. Chình vì kinh nghiệm này mà mình đánh giá rất cao những tiểu luận của Francois Jullien về lối suy tư phương Đông - nó giúp ta nhìn lại chính ta 1 cách sáng tỏ, mạch lạc có căn nguyên.

Nhưng nhược điểm lớn nhất của cách đọc trên là mất quá nhiều thời gian dẫn tới sự trễ nải và đánh mất tính bao quát hiển ngôn thay vì những chiêm niệm. Vì vậy mình càng thấy bí quyết đầu tiên của việc đọc trong 1 cuốn sách gì đã được đọc ở nhà bạn etibohk là rất chí lí "Trước tiên phải đọc hết cuốn sách". Các bạn đừng coi thường điều này. Hãy thử kiểm nghiệm lại xem, tất nhiên chúng ta ngầm hiểu là đọc ở đây đồng nghĩa với đọc được điều gì đó

Do vậy, dạo này mình thay đổi 1 chút: cố gắng theo dõi logic lớn ngay trên trang sách và đánh dấu những chỗ quan trọng hay thú vị. Viết bên lề là cách rất hay để ghi lại dấu ấn trí óc. Phần nhiều chỉ là viết lại những từ khoá quan trọng. Về mặt logic thì ko có gì nhưng về mặt kinh nghiệm thì rất hay - nó giúp ta nhanh chóng tái tạo lại ấn tượng, suy nghĩ của lần trước mỗi khi mở sách. Cũng nhắc lại là mình thường không đánh dấu chỗ đọc dở, nếu lần sau mở ra bắt nhịp từ đâu thì tiếp tục từ đấy-không nhớ thì cố làm gì. Cuối mỗi chương thì gạch đầu dòng những nét chính và nhận định của bản thân ngay trên trang sách đang đọc. Thường thì khi kết thúc tất cả rồi nhìn lại mới thấy về mặt nghĩa thì những nhận định phần nhiều vì chưa hiểu hết ý, ngộ nhận, hời hợt hay lệch lạc; nhưng về mặt ý thì chính nó đã be bờ cho dòng chảy được tái tạo 1 lần nữa cùng tác giả. Cách đọc này đã cải thiện đáng kể thời gian và công sức viết lách của mình. Tuy nhiên lại nảy sinh vấn đề khác: thấy chuyện này là kinh nghiệm chứ không phải là kiến thức và thật khó vô cùng để chia sẽ kinh nghiệm về điều gì đó. Hậu quả là ăn nói nhiều lúc rất dấm dớ ^-^


0.


Đọc cũng phải được coi như là một sự sáng tạo lại (H.Banzac) -sự cùng sáng tạo lần 2, lần 3. Chừng nào đọc cũng khó nhọc như viết thì tương giao tinh thần mới phơi mở!

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Người thơ ăn vận như trăng

Bài viết từ hồi 4-5 năm trước.
-----------------------------

Mỗi ngày tôi chọn 1 niềm vui...


Có nên viết lại (và liệu có thể?) những cảm nghĩ đang lan man lăn tăn trong tâm trí mình này không? 

Vì mình vừa chạm nhẹ vào khoảnh khắc mà thốt nhiên mọi điều đều sáng tỏ minh bạch. Về cuộc đời. Về những gì mình đã/đang cảm nhận-như về những nét nhạc của TCS, những vần thơ BG. Về việc diễn giải để trả lời cho câu hỏi (băn khoăn) của chị HY-rằng ta có hiểu giống nhau không từ một sự vụ nọ.

Thường khi là lúc nửa đêm hay tàn canh bất chợt tỉnh giấc, trong tâm trí mình ngân nga 1 đoạn dài tự sự, như 1 bài luận văn đang trầm bổng bên trong. Về một điều gì rất hay, lạ và thoáng qua. Mình tỉnh dậy, tái hiện lại trong mơ màng. Biết rõ nếu tỉnh ra sẽ quên hay bất lực để níu kéo. Dù là viết ra hay nói thành lời.

Vừa rồi mình lại tỉnh giấc khi trong tâm trí ngân nga giai điệu "mỗi ngày tôi chọn một niềm vui" (của TCS) từ 1 đoạn quảng cáo của ACB Bank trên TV. Hồi trước mình đã chú ý nó vì khung hình sạch, đẹp, gọn gàng, khoẻ khoắn. Đi kèm là cách hát mới mẻ, trẻ, khoẻ khoắn, thoát ra như dòng suối đổ vậy. Nó hợp và mới. Cả về âm sắc cũng như nội dung. Dù xa lạ với ngữ cảnh gốc của bài hát đến nhường nào.

Mình nằm miên man và tưởng tượng đến giọng TCS hát mấy câu này. Giọng hát nhẹ và hơi yếu nên thường xử lí cao độ bằng cả âm sắc và lấy hơi bằng kỹ thuật rất tự nhiên. Câu hát sẽ nhẹ nhõm, thong thả và giàu âm sắc. Run rẩy, thoảng qua, phân vân, vô định như tơ mây...là 1 điều gì đó vân vi bất hoặc của 1 dòng xúc cảm không giới hạn. Miên viễn, thảng hoặc và lồng lộng. Con người nhỏ bé và yếu đuối. Rung rinh chạm nhẹ vào điều đó. Cũng nhẹ nhàng như mây. Con người phân vân và hoang mang. Rụt rè, khẽ khàng chạm vào nó. Chút tình như gió thoảng. Nghẹn ngào nhỏ lệ giữa buổi chiều lồng lộng. Giữa thinh không vô cơn cớ.

Rồi mình nghĩ đến giọng hát của KL. Nếu cô hát sẽ thế này: giống trong đoạn quảng cáo kia về sự liền lạc của giai điệu, nhác giống màu phân vân trong sắc thái nhả âm từ cách hát TCS. Nhưng nó chỉ nhàu nhĩ, mê muội, đáng thương cảm mà không tự thức. Phải, điều khác biệt lớn nhất chính là sắc thái tự thức, tự nội, run rẩy mà dạn dĩ, phân vân lại quả quyết, hoang mang và khoáng đãng-không đầu không cuối, vô thường mà thường, vô cớ mà lại tự nguồn căn rất xa xôi đâu đó muôn thuở gió. Vì thế cả 2 cách kia đều thiếu sự khiêm nhường vô ngã vô tỉ li ti thơ thẩn đây đó nọ kia giữa dòng đời oàm oạp tứ bề.

Tất cả là vì trải nghiệm, nguồn cơn, thời khắc không đồng tuy cùng khởi ra từ 1 nét giai điệu "tén tèn ten tẻn tẹn tèn ten". Nếu đường ký âm đầu của giai điệu trơn tru liền lạc và thanh thoát khoẻ khoắn thì đường ký âm của cách hát KL sẽ tiêu tao run rẩy hao hao 1 đường. Nhưng cách hát TCS có lẽ sẽ khác. Từng chỗ 1 đang lên sẽ có bề đi xuống, đang ngang bỗng ngửa, đang đứng bỗng ngồi. Thoảng hoặc, đậm nhạt vô hồi. Mỗi lát cắt đều tiêu tao thanh thoát. Nhưng chẳng có 1 tổng thể nào cả.


Rồi mình nghĩ về những vần thơ của BG. Cũng cùng 1 sự vụ phiêu bồng, sơ khởi miên viễn như nhau. Cũng vô cơn cớ và không hình hài. Cũng những tâm sự riêng tây rưng rưng thoắt nhiên chạm nhẹ vào hư vô. Cũng đương nhiên thấy riêng đời mình là không đáng kể. Cũng mịt mù trong ngộ nhận tả tơi. Ngộ nhận là đương nhiên phải thế. Và lật mặt kia là sương khói vô bề của vô ngã vô thuỷ vô chung.

Em không nghe mùa thu
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng rơi


Nên chi tương phùng ngẫu nhĩ gặp nhau thì xướng hoạ thản nhiên. Rồi lại miên man vô căn cớ. Trong nỗi tự nội đau đáu khôn cùng. "Xin chào nhau giữa con đường/Mùa xuân phía trước miên trường phía sau".

Người thơ ăn vận như trăng. Cái người thơ ân cần nâng niu là xướng hoạ thản nhiên chứ chẳng phải chỗ nguồn cơn này nọ, Và đầu kia của cán cân tinh thần không phải là một đối lập. Thực ra là bên kia. Bên kia là nguồn cơn đa đoan, phân vân, bộn bề giữa đời oàm oạp tứ bề. Đa đoan là duyên cớ mọi điều. Và nỗi đau là sợ mình hết đa đoan. Lại ghét mình đa đoan. Vì ngã mạn còn đầy. Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.

Ô hay đất bằng mà có sóng. Vần vụ ba đào xoáy xiết tâm can. Mà cũng chỉ như vừa thoảng qua 1 giấc ngủ trưa hè. Đấy là sự vụ đa đoan ngang ngược ngửa ngang của một niềm an ủi thanh thản vô chừng.

Người thơ ăn vận như trăng
Chiều tàn nắng cũng quy y cuối trời

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Ngoại đạo - Đọc lại

Post lại 1 bài cũ để gần entry về E.F - minh họa ý tưởng về tôn giáo (không comment vụ Thái Hà).
Thêm món "đọc lại"  vào thực đơn loanh quanh ^ ^


 -----------
Dạo này nhân việc xử phúc thẩm vụ Thái Hà, trên các diễn đàn lại thấy rộ lên những tranh luận liên quan đến tôn giáo. Và như thông lệ, những tranh luận thường rất nhanh chóng rơi vào cảm tính và định kiến. Ngay cả những người có ý định tranh luận nghiêm túc cũng nhanh chóng mất bình tĩnh. Một lần nữa cho thấy những tranh luận trên diễn đàn thường là chẳng đi đến đâu. Vì sao vậy? Tôi nghĩ có mấy ý sau:


- Bản chất của những hình thức forum-diễn đàn phổ biến (trừ một số ít rất chuyên sâu trong những lĩnh vực dễ định lượng đúng sai kiểu như về vấn đề toán học hay kỹ thuật) là 1 loại sân chơi để "nhàn đàm"-như Lâm Ngữ Đường từng mô tả trong cuốn "Sống đẹp" (NHL dịch). Tức là nó không nặng về đúng sai bằng việc chia sẻ, khơi gợi và dựa trên sự thông cảm nhau ít nhiều. Không thông cảm được thì sẽ có thành viên ra đi. Nên nói chung rồi một ngày các forum cũng sẽ chìm lắng xuống trong một không khí "cộng thông" nhàn nhạt bạn bầy.

Hiện tượng này theo tôi xuất phát từ đặc điểm của internet: nó hình thành quá nhanh và trước hết là để giao tiếp, chia sẻ thông tin. Nếu người ta thực sự nghiên cứu và tranh luận học thuật thì sản phẩm sẽ là những cuốn sách hay những bài báo trên tạp chí chuyên sâu. Nên lẽ tự nhiên đến với các forum người ta chủ yếu chỉ dừng lại ở hành trang là những ý tưởng cùng những cảm xúc-thường mang đậm tính thất thường của đời sống từng ngày. Hệ quả tự nhiên những người "chơi 4rum" đều đồng ý rằng "để thư giãn"-để lại sau vô số ví dụ về những rắc rối do đồng nhất net với life. Một số ít đủ tự tin thì lui về làm hot blogger. Hot 1 thời gian rồi khăn đóng áo the lên báo lên sách :P

- Một điểm cũng phải nhắc tới nữa là khía cạnh tâm lí của các "công dân mạng"-từ trỏ những người thường xuyên lang thang trên net, tất nhiên là có làm việc :D Người ta đã nhận thấy ở nhóm đối tượng này những biểu hiện vấn đề tâm lí của chứng nghiện: bồn chồn, mất khả năng tập trung, khó kiểm soát cảm xúc...Trong một bối cảnh người ta mặc định phải "cộng thông" mà lại muốn kèm thêm ý định tranh luận-thường lại là những vấn đề to tát vĩ mô (chính trị-tôn giáo-triết lý)-gay gắt nhưng gói gọn trong vài dòng, vài trang thì việc không đi đến đâu là dễ hiểu. Nhất là khi hành trang chỉ là những ý tưởng, luận chứng rời rạc nặng cảm tính.


Quay trở lại với chủ đề tôn giáo. Muốn minh bạch thì phải có một sự rõ ràng về định nghĩa từ đầu. Nếu lấy cơ sở là đức tin (hiển nhiên tôn giáo gắn với đức tin-cho dù nó mang sắc thái và được đưa đến bằng con đường nào) thì thậm chí người ta có thể nói về một tôn giáo mà ở đó người ta "không tin gì". Cho rằng mình không tin gì thì cũng chỉ là một niềm tin mà thôi! Nhưng từ "đức tin", "xác tín"...đến "mê tín" là cả một phổ rất dài. Cơ hồ định nghĩa như trên cái được cũng ngang với những cái mất nếu chẳng may nổ ra 1 cuộc tranh luận giữa các giáo dân.

Nói về đặc điểm tâm lí của những người "có tôn giáo thực sự" Karl Jasper có đề cập đến một đặc điểm-chính ông cũng né tránh cái bẫy logic luẩn quẩn của việc 1 định nghĩa (như trên) không loại trừ cái gì này bằng cách nói "dường như"-là sự phổ biến và tương đồng trong các mô tả về những "trải nghiệm tâm linh" của họ. Một cảm giác "đồng nhất", "hiệp thông", "tràn ngập", "thấu thoát"...vượt qua khỏi giới hạn của nhân ngã nhỏ nhoi (*). (Mô tả tốt nhất cho điều này có lẽ xin giới thiệu cuốn sách của Eckhart Tolle "The power of Now-Sức mạnh của hiện tại"). Bất chấp việc những từ như từ "thẩm quyền" đã bị ô nhiễm khỏi ngữ cảnh tâm linh đến thế nào thì cũng có thể tạm dùng nó ở đây như thế này: Chỉ khi xuất phát từ những thẩm quyền tâm linh như thế, những bàn luận tâm linh-hay tôn giáo, một khái niệm cũng đã bị suy thoái trầm trọng-mới có thực chất và ích lợi. Và những bậc Thầy như Eckhart cũng luôn thống nhất ở một điểm: luôn phủ nhận việc thông điệp chỉ đơn giản nằm trong lời nói hay ngữ pháp của chữ viết. Ngón tay trỏ mặt trăng không phải là mặt trăng. Lĩnh vực tâm linh là lĩnh vực của trải nghiệm. Và việc hoằng đạo là việc khơi mở những trải nghiệm tâm linh tự thân chứ không phải là "rao giảng".


Có điều oái oăm là: một khi đã tự tách mình ra khỏi lĩnh vực cứng nhắc của logic thì sẽ rơi vào cái cảnh huống trớ trêu: mở miệng đã là sai rồi. Bạn sẽ dễ dàng phản công tôi bằng chỉ một câu ngắn ngủi: nói nhiều thế làm gì? Hình như với những người có cùng trải nghiệm họ có thể nhận biết được nhau nên không cần nói. Ví dụ như những mô tả trong cuốn "Thiền trong nghệ thuật bắn cung" (NTB dịch)-một bậc Thầy sẽ nhận ra khả năng của người khác qua động tác giương cung của anh ta. Nhưng những mức độ phân biệt vi tế nông sâu, nghi ngờ, khảo nghiệm, ấn chứng...trong vấn đề trải nghiệm tâm linh này thì Thiền sử cũng tràn ngập các câu chuyện ví dụ.


Đến đây mới nhận thấy cách phân chia định vị khái niệm "Tôn giáo" như của Erich Fromm trong cuốn "Phân tâm học và Tôn giáo" là có ích lợi nhất-cho những người có ý định tìm hiểu nội tâm mình: mình có tôn giáo không? Tôn giáo nào?

E.F phân biệt tôn giáo thành 2 loại: Tôn giáo chối bỏ tiềm năng nhân bản cuả con người để thừa nhận những thẩm quyền phi lí và thứ Tôn giáo tin vào thứ thẩm quyền duy nhất là thẩm quyền của chính bản thân con người tiềm tàng bên trong mỗi cá nhân. Và như vậy, con đường đúng đắn là con đường tự soi vào chính nội tâm mình, không tìm kiếm đâu xa ngoài chính bản tâm mình.

Ở VN người ta hay dùng từ "ngoại đạo" để chỉ kẻ không trong lĩnh vực, tôn giáo với mình. Tuỳ từng tôn giáo mà có thể là những kẻ từ bàng quan đáng thương hay thậm chí là "phải đoạ địa ngục". May mà chúng ta chưa gặp mấy bạn Hồi giáo kiểu Thái Lan cho mình cái quyền chặt đầu người khác! Một lần tôi đọc 1 tài liệu cố gò cái nghĩa "ngoại đạo" thành ra là "đạo tìm kiếm ở bên ngoài" để đối lập với con đường của Phật giáo "đạo tìm ở trong chính mình"-Đạo nội. Tôi không am tường Hán văn nhưng cảm thấy việc gán ghép này không theo ngữ pháp thông thường. Vả lại nói rốt ráo, chân tâm linh nào chẳng phát xuất từ bên trong? Nhưng khi theo dõi những tranh luận về tôn giáo, tôi thường nhớ đến từ "ngoại đạo" như là một phản nghĩa của cái cảm giác thiếu vắng những trải nghiệm tâm linh đích thực. Sinh ra trong một tôn giáo đâu có nghĩa là sẽ sống tâm linh trong tôn giáo đó? Chẳng phải Phật, Jesu, Mohamed...đều như thế sao. Và con đường nội tâm là con đường bấp bênh gian nan khắc khoải sinh tử quan đầu chứ có phải thứ quà tặng dễ dãi được ban phát trưởng giả, phách lối đâu.

Đời sống nội tâm và ngoại cảnh bồng bềnh
Đều như cây cầu khỉ đối với người mù
Mà kẻ dẫn đường tốt nhất là tinh thần quyết vượt

(Bạch Ẩn Huệ Hạc)
---------------

(*) Thực ra cái nhu cầu hiệp nhất, cảm thông, đồng nhất hoá, trở về với bản lai...vốn là xuất phát điểm chân thực, suối nguồn duy nhất của đời sống tinh thần và không phải độc quyền của riêng Tôn giáo. Mọi Triết lý nói chung đều xuất phát từ đấy. Bởi "Khổ", "Bất An", "cảm thức chia cắt", "những câu hỏi về vô hạn, toàn thể", "mong muốn dự đoán được, kiểm soát được"...là cái SỰ THẬT thứ nhất, căn bản và hiển nhiên của mọi thân phận con người trong mọi thời đại.

Thường xã hội quy ước cứ 18 tuổi thì có quyền công dân, 30 tuổi ở phương Đông là lập thân, lập chí. Nhưng không đơn giản như vậy: người ta có quyền không đồng nghĩa với có khả năng. Các nhà Phân tâm học nhận thấy một cách có phần chua chát rằng về mặt tâm lí, đại đa số nhân sinh mắc kẹt lại ở khoảng tuổi 16 mà không lớn thêm được bao nhiêu suốt chặng đời còn lại. Nhưng cũng phải thôi, làm bất cứ việc nhỏ nhoi nào cũng phải học nhưng có đại sự nhân sinh lớn nhất thì tuyệt đại đa số lại học không được bài bản lắm.

Một cách hình ảnh, nếu mỗi một chu trình hoài thai của một sinh linh đều lặp lại hình ảnh tiến hoá của loài thì sau khi sinh ra cũng vậy: người ta bắt buộc phải đi lại bằng đấy đoạn trường để trưởng thành. Để trở thành "người_thật_là_người" như cách Nhượng Tống dịch chữ "chân nhân" của Trang Tử. Và trên con đường này, một cách cá nhân, tôi cho rằng bản sắc là thứ tầm phào, không cần phải cố.