Hiển thị các bài đăng có nhãn kiếm hiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiếm hiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

Trùm chăn luận kiếm. Tiếu ngạo giang hồ (c)

1.
Bây giờ khoảng 3 giờ chiều cuối mùa hè. Mùa hè của tôi thôi chứ đúng ra thì phải gọi là đầu thu. Ký ức thường ám nắng mùa này. Bây giờ dựa gió xiêu xiêu/Thoảng xanh nhạt trắng ven chiều bước đi. Tôi đi bộ, đổi 3 quán cafe quen để tìm chỗ thích hợp. Để viết. Cần viết ra, ghi chép lại, mô tả ra vài điều gì đó của những ngày đang trôi.

Cuốn sổ cũ còn sót vài ghi chép phác thảo cho loạt bài về truyện Kim Dung ngày trước phải tìm mãi mới thấy. Càng nên viết nốt ra trước khi cuốn số sẽ thực sự bị phủi bụi, lãng quên trên nóc giá sách theo đúng nghĩa đen. Có thể sẽ không hoàn chỉnh

Nhân mới đọc mấy bài cùng chủ đề trên soi: http://soi.today/?p=216427

2.
Tiếu ngạo giang hồ (c)


6.
Những lần trước là vòng quanh 1 câu hỏi chính "Làm thế nào mà Quỳ Hoa Bảo Điển lại thành võ công vô địch?". Từ đó dò dẫm tìm kiếm xem Kim Dung, theo mạch thủ pháp của mình, đã vẽ mây nẩy trăng, tả ra, củng cố những nét gì cho Quỳ Hoa Bảo Điển thành ra võ công vô địch. Bây giờ thử đi thẳng vào hệ thống của công phu này xem sao.

Theo thứ tự các phiên bản/tàn bản lưu lạc ngoài giang hồ thì có "Tử Hà thần công" - gắn với Nhạc Bất Quần và "Tịch Tà kiếm phổ" - gắn với Lâm Viễn Đồ, sau đó còn có Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi. Theo thứ tự thì THTC là đầu manh mối, sơ khai nhất; sau đó đến TTKP thì gần như chính là QHBĐ được phổ sang kiếm pháp. Vậy ta sẽ xem lần lượt từng chi tiết truyện liên quan để dựng lại các ẩn ý của Kim Dung xem sẽ đi đến đâu.

Tử Hà thần công chỉ là nhập môn công pháp so với QHBĐ mà đã làm cho Nhạc Bất Quần vang danh thiên hạ, nên NBQ ham hố tìm tòi là chuyện đương nhiên. Trong chuyện đại khái mô tả khi vận dụng THTC thì khuôn mặt chuyển sang màu đỏ tía (tử hà là cái ráng trời chiều màu tím), có tác dụng tăng khí lực, bồi bổ nội thương. Nhưng nhìn rộng ra quanh nhân vật Nhạc Bất Quần này thì cũng có những manh mối nhất định. NBQ dùng kiếm, THTC thì hỗ trợ cho kiếm pháp của y. Sau này TTKP cũng là kiếm, dù lúc đánh nhau với Tả Lãnh Thiền thì đã lòi ra ẩn chiêu dùng kim thêu - cái mà sẽ thành vũ khí chính tông của QHBĐ do ĐPBB dùng. Ta sẽ quay lại chủ đề về vũ khí sau đây, nhưng trước đó là cái món THTC này đã.

Trên quan điểm không có chi tiết nào Kim Dung không có dụng ý, tôi bắt đầu xét cái tên của môn công phu "Tử Hà thần công". Nếu nó không có liên hệ gì với mạch QHBĐ thì chắc chúng ta hẳn đều nghĩ tên quái gì chẳng được. Nhưng hãy xem: ít nhất về mặt trường nghĩa thì "Tử Hà" với "Triêu Dương" - ráng chiều tím với nắng sớm mai là một cặp đối ý nghĩa trong truyện - vì giáo chủ của Triêu Dương thần giáo là ĐPBB với môn QHBĐ. Mà bản thân Quỳ hoa - loài hoa hướng dương, hướng về mặt trời - cũng nằm trong phổ biểu tượng này; cùng với Đông Phương - phương của mặt trời. Hay có thể nói từ Tử Hà thần công đã là dấu chỉ cho con đường đi đến Quỳ hoa bảo điển của nhân vật Nhạc Bất Quần rồi. (Sau này có thể mở rộng ra trong Tịch Tà kiếm phổ cũng đã ẩn chứa cái ý Tà Dương, đối lại với Triêu Dương mà có thể ta sẽ xét thêm sau).

Nhưng từ NBQ đến ĐPBB thì có mối liên hệ gì nữa không? Nếu đúng theo nguyên lý nội kết của Kim Dung thì võ công và tính cách, hành động của nhân vật sẽ tương liên với nhau. Ở đây ta thấy ít nhất là ở phương diện hành động cả hai đều vì bản thân mà phản bội, tàn hại đến cả những người thân thiết của mình - bất chấp tất cả. Theo dấu đến điểm mấu chốt này, cộng với cái tính năng gia tăng nội lực, bồi bổ chữa thương của môn công phu này thì ta có thể nhận ra một dấu hiệu, ám chỉ bổ sung để làm cơ sở đặt tên môn công phu: trong đông y, có một phương thuốc gọi là Tử Hà Sa, lấy nhau thai (nhân bào) làm thuốc, có tác dụng chữa trị các chứng nam nữ hư lao tổn. Mặc dù mối liên hệ là mờ nhạt võ đoán đến đâu, riêng tôi vẫn thấy việc NBQ, kẻ luyện Tử Hà thần công, dùng con gái làm mồi nhử trong các âm mưu tranh đoạt - cái hành động ăn thịt con ấy - là hoàn toàn tương đương với cái vị thuốc thịt người Tử Hà Sa kia. Tất nhiên Kim Dung không cần người đọc mở rộng ra đến như vậy khi theo mạch tác phẩm. Nhưng đọc đi đọc lại thì càng thấy thêm ý vị này cũng không tồi.

Tịch Tà Kiếm Phổ được Lâm Chấn Viễn dùng như thế nào thì không được mô tả, nhưng có thể nhận thấy gián tiếp qua Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần sử dụng. Đặc biệt khi NBQ hạ TLT. Có thể hiểu TTKP chỉ còn khác QHBĐ ở vũ khí mà thôi. Về nội công tâm pháp thì đều phải tự cung nếu không sẽ bị hỏa dục tâm công mà chết. Từ môn bồi bổ dưỡng thương đến môn làm tăng khí lực con người đến độ nếu không tự cung (triệt sản, nhưng vẫn không hẳn triệt được dục như trong trường hợp ĐPBB) thì sẽ mất kiểm soát được dục vọng của mình, là con đường tiến triển nhất quán của tâm pháp QHBĐ. Cũng như từ chỗ phản trắc, tàn hại người thân đến tự tàn hại bản thân cũng là một con đường nhất quán trong hành động của những nhân vật chính luyện môn công phu này. (Lâm Viễn Đồ là ngoại lệ để so sánh vì đây không phải nhân vật chính, nhưng chẳng phải sâu xa cũng chính từ môn võ này với những hành động gian dối, phản bội sư môn của LVĐ mà sau 03 đời thì họ Lâm cũng tuyệt tự?). Ở đây cũng phải làm rõ lại là tôi đang quan tâm phân tích đến một khía cạnh trong thủ pháp sáng tác của Kim Dung để thưởng thức chứ không phải có tham vọng đặt ra vài quy luật cứng nhắc để mổ xẻ tác phẩm theo một lối hiểu duy nhất đúng.

Kiếm là vũ khí của hầu hết các nhân vật chính, nó cũng là vũ khí của Tịch Tà Kiếm Phổ. Nói võ công mà không gắn với vũ khí đặc thù thì rất hãn hữu và phi lý, chỉ dành cho một vài trường hợp đặc biệt được mô tả về sau trong trường phái kiếm hiệp. Lúc đó đại khái lấy tâm làm kiếm, cái gì hoa lá cỏ cây đều là vũ khí...Tất nhiên triết lý này không tồi, nhưng trong mạch truyện này của Kim Dung thì không có ý đấy ở đây. Vậy kiếm có ý vị gì trong tương quan với tính cách và hành động nhân vật của Kim Dung?

Kiếm hay được coi là vương giả chi binh ngay trong văn hóa truyền thống Trung Hoa chứ không nói gì đến riêng trong thế giới kiếm hiệp. Có lẽ rất đơn giản vì nó là vũ khí hiệu quả mà lại vừa tay, có thể đeo theo bên người mà không bất tiện, quá khổ, nặng nề như thương, giáo hay đao...cũng không quá nhỏ như các loại vũ khí ám sát khác mà mất tính biểu tượng cũng như thực chiến. Nhưng bất kể vì lý do gì, từ khi đã có tính chất biểu tượng trong văn hóa quyền lực thì trong thế giới kiếm hiệp, hầu hết các võ phái, các nhân vật chính đều dùng kiếm như là võ đạo tối cao, biểu tượng cho chính khí...Thực ra trong thế giới này thì lý luận về sự tiện dụng vẫn đúng, các nhân vật biểu tượng cho cá nhân độc lập, tự do, lang bạt trên giang hồ trong kiếm hiệp, thử tưởng tượng dựng thành phim thì y chỉ có thể mang kiếm mới đỡ chướng mắt bất tiện nhất so với các loại vũ khí khác. Nhất là khi thế giới giang hồ chưa thoát ly hoàn toàn thế giới xã hội cổ trang truyền thống như trong truyện Kim Dung.

Xét kỹ ra, còn có một số điểm đáng phân tích về kiếm, kiếm có kích thước tương đồng với cánh tay con người: gập lại thì dấu sau cánh tay, mở ra thì bằng thêm 1 tầm tay nữa. Trong tâm lý học, không gian 1 tầm tay với là có liên quan đến cảm nhận không gian của con người. Đây là tầm không gian giao tiếp. Hai người đối thoại với nhau thường đứng trong tầm kích thước này. Bằng hữu cũng là trong tầm kích thước không gian này.

(còn tiếp)

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Trùm chăn luận kiếm. Tiếu ngạo giang hồ (b)

4.
Lại nói chuyện về nghệ thuật phúng dụ chính trị của Kim Dung, cảnh giáo chúng Nhật Nguyệt Thần Giáo rõ ràng là ám chỉ chuyện ngoài xã hội đương thời, ai cũng chán ghét cả nên mới dễ bị cuốn hút vào mạch truyện, ngõ hầu được cùng Lệnh Hồ lãng tử cười ngạo giang hồ một phen. Nhưng sự ấy sự thường, có lần khác, rõ ràng là Tra Lương Dung tiên sinh chế truyện tiếu lâm vào trong kiếm hiệp mà hầu như không ai để ý cho đến lúc có người nói ra - văn chương như thế mới gọi là đỉnh cao:

Có thanh niên nọ yêu mấy cô trong xóm về nhà xin cưới đều bị bố gạt đi bảo là em con đấy. Chàng kia buồn đời muốn chết thời may bà mẹ kéo lại rỉ tai bảo "Thích đứa nào cứ chén đi, lão ấy không phải bố mày đâu!".

Đấy nếu chỉ như thế thì đúng là hài thật, hài nhảm, dung tục bình thường. Kể phát chọc cười xong quên ngay. Nhưng đến đây hẳn mọi người cũng nhớ đấy lại chính là đại khái chuyện đời chàng Đoàn Dự trong Thiên Long Bát Bộ. Con người đẹp đẽ, con người si tình loạng quạng, ai cũng hảo cảm là nhờ cả ở tài dựng chuyện của Kim Dung.

5.
Tháng giêng ngồi quán quán thu phong
Gió Nhạn Môn quan thổi chạnh lòng
Chuyện cũ nghe đau hồn tứ xứ
Thương Kiều Phong, nhớ tiếc Kiều Phong.


(Thơ Nguyễn Bắc Sơn)

Cũng trong Thiên Long Bát Bộ, có nhiều tình tiết hay ho rải rác về sau được liên kết lại trong các bộ truyện khác thành một thế giới kỳ vỹ của kiếm hiệp Kim Dung. Ví dụ như Tiêu Dao phái thời Bắc Tống của Hư Trúc về sau hóa ra lại là cội nguồn có liên quan chặt chẽ đến Ma Giáo - Minh Giáo - Nhật Nguyệt Thần Giáo. Nếu như trong bộ Ỷ Thiên Đồ Long Ký hai nhân vật Quang Minh Tả Hữu Sứ của Minh Giáo có hiệu chung là Tiêu Dao Nhị Tiên (Dương Tiêu & Phạm Dao) cùng với bộ nhận dạng phong lưu tiêu sái anh tuấn...chỉ thoáng qua chút liên hệ thì trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ lại có lai lịch hẳn hoi.

Công phu Hấp Tinh Đại Pháp của Nhậm Ngã Hành là một trong bốn môn công phu tối cao trong bộ truyện (ba môn kia là Độc Cô Cửu Kiếm, Quỳ Hoa Bảo Điển và Dịch Cân Kinh). Theo lời Nhậm Ngã Hành giới thiệu thì môn võ công kỳ đặc này được truyền thừa từ phái Tiêu Dao thời Bắc Tống. Tuy nhiên việc truyền thừa có điểm bất toàn, công phu bị thất thoát yếu lĩnh nên mới thành đầu mối bao nhiêu vấn đề cho người luyện công về sau. Đặc trưng võ công của Tiêu Dao phái là vẻ đẹp hình thức tiêu diêu thoát tục của nó, nhưng đồng thời lại vô cùng độc địa kỳ quái. Đến khi Kim Dung xây dựng nhân vật Nhậm Ngã Hành thì vẫn nhất quán về điểm độc địa kỳ quái này.

Việc so sánh liên hệ mấy món võ công tối cao trong bộ TNGH là có ý tứ của nó. Nếu giả thuyết về thủ pháp sáng tác dựa trên nguyên lý nội kết thống nhất của Kim Dung về các bộ nhân vật thì rõ ràng sẽ phải tìm ra được mối liên hệ giữa đặc trưng nhân vật và võ công, từ đó lý giải tại sao chỉ Quỳ Hoa Bảo Điển mới là chân chính vô địch thiên hạ! Ví dụ như nhân vật Nhậm Ngã Hành của Ma Giáo thì nhận dạng nôm na khái quát là trường phái bá đạo "ông thích là ông làm" dựa vào món nghề cướp công (phu) người khác. Trường phái này có đặc điểm là cậy mạnh làm càn, bất chấp lý lẽ nên đương nhiên là một phương nguy hiểm cao cường.

Nhưng cậy mạnh cướp công chỉ hữu dụng khi tranh đấu với kẻ có nhiều sở dục, thích tranh giành đối kháng. Công phu này đối kháng với môn Độc Cô Cửu Kiếm vô chiêu thắng hữu chiêu của Lệnh Hồ Xung thì coi như huề vốn. Là bởi tinh yếu kiếm thuật của phái này lại là dựa vào việc thấu hiểu lòng người mà đi trước một bước, là một phép nghịch đảo của câu "kỷ sở bất dục vật thi ư nhân". Hành động theo tình, theo lòng mình - là tấm lòng cho người khác, vì người khác - thấy trước cái dục vọng của đối phương mà đón đầu khắc chế, võ công như vậy thì không tranh với người khác nên môn cướp công làm càn không có chỗ thi triển sở trường. Nhậm Ngã Hành chỉ thắng Lệnh Hồ Xung khi dùng nội lực thâm hậu chấn động chàng trong hầm sắt dưới đáy Tây Hồ. Đấy, hiểu người vì người là một chuyện, nhưng còn phải có sức mà làm nữa. Nên môn công phu của Lệnh Hồ Xung còn quan trọng ở chỗ nội lực tới đâu thì khả dụng tới đó. Yếu ớt mà tốt thì cũng được nhưng chưa ăn thua (lol).

Dịch Cân Kinh là vương đạo công pháp, chú trọng chuyển hóa bản thân nên đương nhiên cũng cao cường. Nhưng muốn chuyển hóa kẻ khác thì phải trông vào thiện chí của họ nên thành ra cũng có chỗ bất tiện khi tranh cường. Thủ hòa thì được nhưng chế thắng thì còn phải xem. Làm theo chánh đạo nó có cái khổ như vậy, nên Khổng Tử mới phải khuyên người ta nên "cư kính hành giản" - chiến đấu với mình thôi. Vậy nên trong chuyện mới có cảnh Phương Chứng đại sư dỗ dành bao lần mà Lệnh Hồ công tử có chịu luyện cho đâu! Cũng là vì chỗ vi tế này mà ra cả.

Như vậy rõ ràng là ba phương võ công kể trên đều có chỗ mạnh chỗ nhược nên tầm tầm ngang hàng nhau. Thực tế cốt truyện cũng xây dựng theo logic này. Phương Chứng đại sư khi bị thua Nhậm Ngã Hành cũng là thua theo logic: nguyên lý chỉ dùng cho mình đã bị vi phạm, Nhậm Ngã Hành dùng mưu đánh vào lòng từ bi làm ông san xẻ năng lực ra cho kẻ khác nên bị bại.

Vậy Quỳ Hoa Bảo Điển dựa trên những nguyên lý nào mà thành vô địch thiên hạ, khắc chế được cả võ công của mấy phương võ bá kia? Nếu Kim Dung đã có ý vị sâu xa như vậy đến từng chi tiết cho mỗi nhân vật thì cái lý thú của logic này hẳn sẽ còn nhiều chỗ hay ho.

(còn tiếp)

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Trùm chăn luận kiếm. Tiếu ngạo giang hồ (a)

(Phần 1)
------------
1.
Như đã nói, truyện Kim Dung nhiều lớp lang tình điệu, ẩn ký vốn liếng văn hóa truyền thống Trung Hoa thâm hậu của họ Tra nên đọc rất hấp dẫn và có thể đọc lại nhiều lần. Các tình tiết, ý tứ rất tinh tế như thể là một bộ toàn bích chứ không phải viết gấp gáp theo kỳ đăng báo nữa - thực không phải giống phàm chúng mình! Về sau nhờ đọc thêm một số tác giả bình Kim Dung thì tôi cũng lỗ mỗ hiểu ra phương pháp sáng tác của ông.

Trong cuốn "Vô Kỵ giữa chúng ta hay là Hiện tượng Kim Dung" của Đỗ Long Vân có phân tích đặc trưng chia tuyến nhân vật theo bộ (Ngũ Bá, Nhị Tiên, Tứ Vương...) kiểu cơ cấu luận tạo ra sự nội kết giữa các tuyến nhân vật. Tác giả cũng điểm đến những điểm mới trong thủ pháp của Kim Dung như sáng tạo về nội lực, tinh thần duy tự nhiên, từ bỏ kết cấu tất thắng cổ điển chuyển sang thời kỳ sụp đổ của các đại tự sự...

Thực ra một số thủ pháp là có kế thừa truyền thống võ hiệp chương hồi TQ, ví dụ như kết cấu các bộ nhân vật thường được xác định trước, xây dựng theo luật ngũ hành tương sinh tương khắc. Nếu một viên tướng mặc áo bào trắng (Kim) thì thế nào cũng tất bại nếu gặp tay nào mặc áo bào đỏ (Hỏa khắc Kim). Ngũ Bá của Kim Dung cũng là một điển hình: Tây Độc áo trắng (Kim) thì sợ món Nhất Dương Chỉ của Nam Đế (Hỏa - khắc Kim), thỉnh thoảng xơi được Đông Tà áo xanh (Mộc - bị Kim khắc), hay bị Bắc Cái (Thủy) chơi khăm (vì Kim sinh Thủy)...Vậy mới có chuyện Hồng Thất Công làm sư phụ cho con gái Đông Tà. Cái vòng tương sinh tương khắc mà châm chước ra đã biến hóa thành bao nhiêu tình tiết hấp dẫn. (Còn một nhóm bộ nhân vật khác cũng sẽ rất thú vị để bàn vào dịp khác là Giang Nam Tứ Hữu).

Tất nhiên cái luật ẩn tàng kia không phải là tuyệt đối hóa nhưng trên đại thể cấu trúc lớn các tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung đều có thể nhận ra ảnh hưởng của nguyên tắc này. Nhưng luật Ngũ Hành chế hóa thì là một vòng quanh nên để xây dựng cao thủ đệ nhất thì cần phải bổ sung yếu tố giá trị gia tăng khác; thường thì cũng lấy từ vốn triết lý phương đông kiểu như vô chiêu thắng hữu chiêu (hoặc là để khuyết như trường hợp Vương Trùng Dương).

Có điều mọi người ít khi để ý: trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, tuy vô chiêu thắng hữu chiêu của Lệnh Hồ Xung là  cảnh giới tối cao của kiếm thuật/võ thuật nhưng đâu đã ăn được Quỳ Hoa Bảo Điển? Chân chính vô địch phải là nó nhưng vì sao lại là nó? Huống hồ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ còn được coi là có ẩn ý chính trị rõ ràng, liên quan đến nhiều nhân vật chính trị đương thời. Cái gì được ẩn ký trong Quỳ Hoa Bảo Điển mà bằng thủ pháp vẽ mây nẩy trăng Kim Dung đã cho nó vượt cả Ngũ Hành cả Hữu Vô? Nương theo nguyên tắc lý giải nội kết ta có thể dò ra vài ba manh mối thú vị, nhiều ý tứ.

2.
Về bối cảnh chính trị, TNGH bắt đầu được viết từ năm 1967 trên Minh Báo; lúc này ở TQ đang là giai đoạn Đại nhảy vọt (1966-1976). Tôi cũng chưa đọc được ở đâu nói gì chi tiết về mối liên hệ hay những ẩn ý chính trị cụ thể của Kim Dung. Nhưng ngoài những nét khoa trương mông muội đồng dạng dễ thấy trong Nhật Nguyệt Thần Giáo thời kỳ của Đông Phương Bất Bại thì tôi chú ý đến một sự kiện quan trọng khác của thời kỳ này: nạn đói. Các tài liệu khác nhau nói khác nhau về con số người đã chết đói (30 triệu), nhưng chuyện người TQ đói phải ăn hạt hướng dương thì đã có Ngải Vị Vị làm chứng (http://soi.com.vn/?p=16929).


Vấn đề bắt đầu trở lên thú vị nếu chúng ta để ý rằng trong tiếng Hán, Quỳ Hoa chính là hoa Hướng Dương! Nhưng nếu chỉ có như vậy thì đã không phải là Kim Dung. Với chút manh mối, thử rà lại một loạt các chi tiết mới thấy nhiều cái hay.

3.
Đệ nhất cao thủ luyện Quỳ Hoa Bảo Điển là Đông Phương Bất Bại, giáo chủ Nhật Nguyệt Thần Giáo. Ngay tên của giáo phái này đã có một lai lịch dày dặn. Khởi đầu vốn Kim Dung đặt tên cũ cho nó là Triêu Dương Thần Giáo. Chữ Triêu Dương có nghĩa là ánh sáng mặt trời buổi sớm - một thứ Đông Phương Hồng (xem thêm về Đại học Phương Đông ). Nên giáo chủ là Đông Phương Bất Bại thì cũng dễ hiểu. Dù đổi thành Nhật Nguyệt Thần Giáo thì cũng không khó để nhận ra phiên bản của Minh Giáo (chữ Minh bao gồm 2 chữ Nhật Nguyệt cạnh nhau). Kim Dung không giải thích nhưng cũng không phủ nhận ám chỉ này (ví dụ như khi ông cho Nhậm Ngã Hành kể về lai lịch của môn võ công Hấp Tinh Đại Pháp có nguồn gốc truyền từ phái Tiêu Dao đời Bắc Tống - vốn là chi tiết trong truyện Thiên Long Bát Bộ).

Minh Giáo vốn là Ma Giáo, được truyền từ nước ngoài của mấy ông Ba Tư rậm râu vào, tuy đứng chân trong giang hồ một mình một thế ở trên Quang Minh đỉnh thuộc Hoàng Sơn (Ngũ nhạc quy lai bất khán sơn, Hoàng sơn quy lai bất khán Nhạc” - Từ Hà Khách), đối chọi uy quyền với Ngũ Nhạc kiếm phái nhưng riêng nó là vẫn khác biệt vì nó là một giáo phái sinh hoạt theo thể thức của một tổ chức tôn giáo! (Thiếu Lâm Tự hay Võ Đang ở đây thật mờ nhạt và khác biệt đầy dụng ý). Người khác có thể không thừa nhận nó nhưng nó vốn dĩ không coi người khác ra gì, mục hạ vô nhân, như cỏ rác. Nhận thức bình nhật của chúng ta thực tế rất dễ thao túng, coi nhiều chuyện là hiển nhiên cho đến khi được dịch sang một bình diện khác thì sẽ thấy những chuyện đó hóa ra rất lố bịch, rất buồn cười. Lệnh Hồ Xung năm xưa coi cảnh giáo chúng Ma Giáo đỏ choe choét, xếp hàng hùng vĩ mấy ngàn người thi nhau tung hô "anh minh thần vũ","muôn năm trường trị" thấy rất tức cười, ngán ngẩm nhưng mấy trăm năm sau có đến hơn một tỷ người cho là bình thường hiển nhiên.

(còn tiếp)

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2011

Trùm chăn luận kiếm ^_^

1.
Vợ vắng nhà.
Con đã gửi ở quê.
Đêm đông lạnh, khoá chặt cửa phòng, ngồi trong giường mở máy tính nghe ngâm thơ và viết blog thì còn cái thú nào hơn!

Lúc chiều ghé hiệu sách cũ chơi, tình cờ thấy mấy cuốn Anh hùng xạ điêu thế là nổi hứng phi một mạch lên Nguyễn Xí mua cho đủ bộ về đọc. Vụ này thực ra đã toan tính từ lâu. Cứ mỗi lần ốm đau chán chường thì vấn đề lớn nhất là nhìn cả kệ sách to đùng mà không tìm nổi một cuốn muốn đọc. Những lúc ấy chỉ muốn có cuốn truyện chưởng trong nhà để đọc một mạch cho rỗng rang đầu óc. Nhưng mỗi lần đi mua sách lại tiếc tiền, còn bao nhiêu thứ muốn mang về nhà. Haizz mới hay dẫu biết nhân sinh nhược đại mộng mà cái gì là quan trọng cũng có rành mạch được đâu! Em thân yêu, anh quyết định rồi, cứ hết một chương anh lại quay sang viết blog rồi lại một chương nữa. Cho tan nát cái u sầu tương tư dằng dặc này mới thôi :)

2.
Mấy hôm trước cho Gấu về quê trước với ông bà xong tự nhiên hai vợ chồng thấy hoang mang kinh khủng. Ngày thường thì cứ đùn cho nhau chơi với Gấu để bố mẹ còn...chơi. Gấu đi vắng rồi mới thấy cuộc sống của mình ngổn ngang lổn nhổn chả đâu vào đâu. Chính Gấu làm cho cuộc sống của mình trở thành chấp nhận được mà mình còn không biết điều nữa. Con là cái dây, vợ là ống sáo cho lá diều đời ta vi vu lãng đãng là đây chứ còn gì nữa!

3.
Trên facebook có một bác hiệu là Thái Phong Quyền, võ lâm cao thủ lại kể chuyện rất duyên, thâm sâu mạc trắc. Hôm nay đọc thấy bác ấy bình về chuyện luyện quyền thuật trong võ thuật nên tôi cũng phát sinh tình cảm tự nhiên muốn mặc kệ bác ĐHP, thản nhiên tung ra vài chiêu luận kiếm cho thoả :D

4.
Giống như bộ phận khá đông đảo các thanh niên Việt Nam khác, tôi cũng có một thời trẻ (đẹp) trai, cũng từng thích đọc truyện chưởng. Tôi thấy những người không thích đọc truyện chưởng (ví dụ như cụ Nguyễn Hiến Lê chẳng hạn) có một điểm rất khác với những người thích đọc truyện chưởng: họ không chia sẻ được cái kiểu tâm thế "tin là thiêng". Đọc truyện chưởng là phải có cái tâm thế ấy - tin là thiêng - không so đo gì sất. Tức là mình thuộc cái nòi cảm tính, ưa làm theo ý thích, thường thì lười nhưng nhiều cao vọng nên mộng toàn chuyện viển vông thôi :P

Trong hàng tác gia cao thủ kiếm hiệp thì nổi bật là Kim Dung và Cổ Long. Hai người họ nổi lên theo hai thái cực khác hẳn nhau. Kim Dung viết theo thủ pháp biên kịch điện ảnh, giàu bố cục tình điệu lớp lang, dựng phim rất dễ. Nhân vật sung mãn, kiến văn dồi dào, phong cảnh hùng vĩ, võ thuật bác đại tinh thâm chiêu chiêu thức thức đều độc đáo li kỳ mà vẫn gắn liền với những triết lý thâm sâu của phương đông. Cổ Long bắt chước lối viết truyện trinh thám hiện đại, tránh sở đoản học thức của mình nên ưa đặc tả tâm lý, tình huống, suy luận. Có khi đọc cả chục trang giấy thì dễ nhưng bảo dựng thành phim thì đố mà dựng nổi. Võ công các nhân vật của Cổ Long không có lộ số nhất định, đặc kiểu choảng nhau đường phố (Cổ cũng xuất thân từ đây), miễn giết được đều là võ nên ai đọc Cổ Long thì phải tin ngay vào chất võ tả mồm này thì mới thiêng. Bằng không đang quen từng chiêu từng thức tinh kỳ của Kim Dung sang gặp Cổ Long thấy cứ tức anh ách.

Nhờ lối đặc tả võ công thâm thuý của mình nên các tuyến nhân vật của Kim Dung được khắc hoạ tính cách rất đặc sắc sống động. Nhân vật của Cổ Long thì được đặc tả thiên về tâm tính, triết lý rồi dựa vào tình tiết mà biến ảo. Nếu bảo là thích thì tôi thích đọc Kim Dung hơn, nhưng nếu nói về phân tích bút pháp thì tôi từ lâu rất muốn thu xếp một phen những suy nghĩ của mình về trường hợp Cổ Long. Nhưng hãy để dành vào dịp khác, hôm nay là muốn luận bàn chuyện luyện quyền, luyện khí, luyện tâm trong võ thuật theo mạch của bác Thái Phong Quyền đã nêu ở trên: quyền thuật (kata) chả có ích lợi gì rõ ràng trong đối kháng thực chiến cả!

Tôi tuy không phải loại tiên thiên bất túc nhưng xin trình bày ngay đầu tiên là thân thể hư nhược, tính tình dát chết ngại va chạm chứ đừng nói chuyện đã từng tập võ. Vậy nên luận kiếm ở đây là đánh võ mồm cho thoả đêm đông, không sợ sai không cầu đúng làm một phiên mãi võ mua vui cuối năm.

5.
Người đọc Kim Dung đều biết đến võ công của Lệnh Hồ Xung học được là thứ võ công vô địch thiên hạ. "Vô chiêu thắng hữu chiêu" của y được người đời nhắc đi nhắc lại trong nhiều cảnh huống khác nhau, phần vì nó cũng bàng bạc như đạo lý vi vô vi của Lão Tử khó hiểu dễ dùng trong cõi đời bung xung thường nhật. Trước đây tôi cũng không nghĩ ngợi gì nhiều cho đến khi có một lần tự nhiên nằm nghĩ ra một ý: người tập quyền thì đánh theo lộ số, án chiếu vào mình trong khi thực chiến là đánh vào đối phương. Đối phương thì gầy béo cao thấp bất định, nhảy nhót biến hoá liên tục. Vậy thì đạo lý của thực chiến phải là án vào tình thế chứ! Đến đây thì vỡ lẽ ra cái món Độc Cô Cửu Kiếm của Kim Dung cũng không đến nỗi không tài nào hiểu được. Cũng giống như thi đấu thể thao, đánh nhau theo quy củ, đối thủ đánh đòn gì đều có ước định, chỉ còn lại là chuyện nhanh chậm biến hoá thêm thắt nữa thôi. Đến hồi thực chiến gặp phải đối phương không thèm quy củ gì cả, chiêu nào cũng độc địa tất sát thì có mà quy củ vào mắt. Đạo lý này thực ra rất bình thường nhưng lâu nay cái bầu không khí mê ảo ngập tràn các từ Hán Việt nó làm ý thức của mình bị gấp nếp, không để ý hay suy nghĩ gì nữa.

Nhưng vậy các tác gia như Kim Dung có biết việc này không, tả như vậy có phải là sai hay không thì xét về phương diện văn học lại chẳng sai tý nào cả. Cũng giống như võ thuật trên phim ảnh, chúng là thứ ngôn ngữ trình diễn để truyền tải. Chúng tuân theo luật tượng trưng là chính. Khán giả cần theo dõi được, hiểu được diễn tiến, đủ để cảm thụ được các động tác theo kiểu thưởng thức màn vũ đạo (ở đây là múa thôi :) Ví dụ như trong chụp ảnh thể thao, chụp ảnh trình diễn thời trang, các bức ảnh đẹp đều là những bức ảnh nắm bắt được khoảnh khắc điển hình nhất, mô tả rõ nhất thần thái đặc trưng của bộ môn. Thô thiển hơn, kỹ thuật thuần tuý thì các nhiếp ảnh gia tổng kết lại rằng chụp ảnh phải chụp đúng được lúc người mẫu đang chân vung tay quăng thì ảnh thể nào cũng đẹp. Có một sự hội tụ ở đây: tính thẩm mỹ của động tác, tính có thể nắm bắt, tính triết lý trong biểu tượng...tất cả đóng vai trò như những đơn vị nghĩa trong một diễn ngôn. Nó dùng để "đọc" theo nghĩa rộng nhất của từ này. Muốn choảng nhau ngoài phố ngàn vạn lần không nên học theo kiểu Kim Dung!

(còn tiếp)