Hiển thị các bài đăng có nhãn Esmile Durkheim. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Esmile Durkheim. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

Cấu trúc 1 trò chuyện. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải

Đã lập ý cho bài này nhưng viết lại sau khi đọc được tiểu luận Gadamer và khoa học nhân văn, (hay làm thế nào để hiểu người/cái khác) của Charles Taylor (Như Huy dịch).


-------------


1.
Trong phần trước, khi nhắc câu slogan của HSBC, tôi có ý hướng gợi đến nhánh câu chuyện: đa văn hóa, dịch văn hóa, giải cấu trúc - vốn dĩ sẽ là một hệ quả hợp lý của diễn biến câu chuyện phải bàn đến. Vì nói đến truyền thông là nói đến tương quan xã hội, liên cá nhân. Khi bàn chuyện dịch chuyển giữa các trình độ phát triển của xã hội thì sẽ phải bàn đến sự qua lại giữa các mô hình xã hội, các hệ hình văn hóa khác nhau. Và một thuyết về liên văn hóa (hoặc chừng sẽ là 1 khả thể khác) cũng sẽ phải dành vị trí cho mối quan hệ liên cá nhân.


Thời may, bài tiểu luận về lý thuyết (triết học) của Gadamer đã giúp tôi có thể kết nối mạch lạc lại tất cả những điểm quan trọng rời rạc mà tôi đã đánh dấu trên bản đồ nhận thức của mình về một số chủ đề mà tôi quan tâm; trong đó câu chuyện về truyền thông này là một nhánh thử nghiệm.


2.
Các kiến thức, tác giả tôi đề cập trong mấy bài liền đây đều có 1 đặc điểm: chúng rời rạc, chắp vá, không đều và không hề do 1 ý thức nghiên cứu hệ thống chuyên sâu tổ chức. Nhưng chúng đã có được vẻ liền lạc, sống động và chính những độ chênh lại tạo ra thế năng cho tư tưởng chuyển động và kết nối. Thực tế đó là nhờ kết cấu của trò chuyện (đối thoại) mà ở đó sự phân vai người này/kẻ khác đã tạo ra được. Một cách vô tình, trò chuyện này đã có những đặc điểm căn bản của hành động tương liên mà anh Gauxx đề cập "khi mà những cuộc nói chuyện đặt trên nền tảng duy lý của sự tương hiểu/tương liên, chứ không phải duy lý vì một mục đích, mặc dù không phủ nhận hoàn toàn cái thứ hai". Cái nền tảng đạo đức diễn ngôn của Habermas có thể diễn dịch sang thành thiện chí đối thoại trong trò chuyện là điều hiển hiện giữa chúng tôi trong mấy ngày này. 


Điều này sẽ được rọi chiếu từ Gadamer khi đề cập đến việc làm sao để hiểu người/cái khác: Tuy nhiên, việc đạt tới một sự hiểu không bao giờ sở hữu đặc tính tối hậu này. Bởi một điều đơn giản, chúng ta luôn đạt tới một sự hiểu cùng với những người đối thoại được xác định cụ thể. Và những sự hiểu được đạt tới với những người đối thoại này sẽ không nhất thiết giúp được chúng ta khi chúng ta tìm cách hiểu những người đối thoại khác. Các sự hiểu của chúng ta đều phải phụ thuộc vào người tham gia đối thoại với chúng ta. Và thậm chí, còn phải tính đến việc, chính những người đối thoại cùng chúng ta có lẽ cũng không bất biến. Hoàn cảnh sống hay mục đích sống của họ có thể thay đổi, và sự hiểu trước đây của chúng ta về họ có thể bị đặt nghi vấn. Đúng là chúng ta cũng có thể chế ngự tình huống này bằng các thực hành như ràng buộc qua hợp đồng hay bản thỏa thuận, song điều này chỉ làm rõ hơn việc chúng ta đã ý thức hoàn toàn rằng những gì thiết cấu nên sự hiểu có tính đối ứng hoàn hảo và tự giác vào lúc này có thể sẽ không còn hiệu lực vào lúc khác.


3.
Điều hay ho của cấu trúc trò chuyện này (mà tôi sẽ từ từ dựng lại đặc trưng của nó) là dù từ xuất phát điểm nào, sự ý thức về việc đạt tới sự hiểu (lẫn nhau) cũng sẽ kết nối được một trật tự mới cho các tri thức đồng thời vẫn không làm tiêu biến vị trí lịch sử của nó (trong văn cảnh rộng lớn hoặc trong chính lịch sử của trò chuyện). Điểm đặc biệt là tôi vừa đọc xong bài tiểu luận của Charles Taylor (CT) tối nay, và tôi cũng chưa kịp tìm hiểu thêm gì về Gadamer nhưng tôi sẽ dùng nhiều cách diễn đạt từ bài tiểu luận này để cũng là minh họa luôn hai điểm quan trọng trong ý tưởng ban đầu  của tôi về cấu trúc đối thoại: đối thoại làm giàu cho mỗi bên và chỉ trong đối thoại sự biến đổi, cập nhật, hiểu biết hóa...mới diễn ra tự nhiên nhất - sẽ là liên tưởng của tôi về mô hình phát triển của xã hội như ở VN, điều mà anh Gauxx hẳn có ý ám chỉ về phát triển đi hai hàng. 


Có thể cho đến lúc này, nền tảng triết học của chúng tôi (trong tiềm tàng) không hẳn đã trùng nhau, nhưng nó có xu hướng hội tụ dần. Điều này sẽ rất thú vị nếu bạn biết tôi đủ lâu để hiểu là tôi chỉ xuất phát điểm từ một tâm thức rặt Á đông và không được trang bị hệ thống về tư tưởng hiện đại. Điều đó không ngăn cản dần dà tôi nhận thấy mẫu hình về những gì gọi là những người có một khung tâm thức hậu hiện đại. Như khi tôi bàn về Roland Barthes (RB), điều đáng ngạc nhiên là sự tương đồng gần như hội tụ trong cách đọc văn bản mà không cần gán thêm học thuyết nào ngoại trừ 1 vị thế lập trường ý hệ. Và như vậy dần dà tôi nghĩ đó là do có một khả thể nào đó về sự tương đồng ở thượng lưu giữa Đông và Tây, "chúng ta chia sẻ chung yếu tính con người (humaness)", về "một phương cách để ứng xử với cái thân phận làm người mà chúng ta cùng chia sẻ" (CT).


4.
Một cách tự phát, tôi cũng đã cho rằng một trò chuyện đúng nghĩa sẽ chỉ có thể là một đối thoại cẩn trọng giữa hai người. Mỗi khi xuất hiện thêm một người khác, chúng ta sẽ có cơ hội đồng thời tổ chức thành một tổ hợp của các nhóm đôi. Những biến dịch của các khả thể này sẽ đem lại thế năng và liên tục tương tác, biến dịch làm phong nhiêu bản ngã cho mỗi người. 


Ví như khi trao đổi với anh Gauxx về một chủ đề, tôi hoàn toàn có thể đồng thời một cách khác cũng cởi mở như thế, trao đổi với người thứ ba (^^) nương theo tri thức khác của họ (NL). Giữa hai tương quan kia sẽ lại thiết lập một tương quan mới đa bội và toàn bộ lịch sử trò chuyện này sẽ đem lại sự đào luyện lợi lạc cho tất cả những đối tác thiện chí. Và tất yếu, trong trường hợp cụ thể là ở blog này, với những người bạn mà tôi đã kết nối và chia sẻ nhiều năm, thiện chí là lợi thế mà chúng tôi không cần phải kêu gọi nữa. Sau nhiều năm online, cuối cùng tôi cũng hiểu ra được cách nào thì sẽ vượt qua được sự phân biệt on/offline mà được ích lợi nhất - cho nhau.


5.
@Gauxx: Khi nhắc đến E.Durkheim, thực tế em còn đang đọc dở. Nhưng nếu không đem ra vứt bừa vào đấy ngay (kiểu cao thủ cái gì cũng là vũ khí ấy mà ^^) thì công đâu mà học thuộc hết tri thức nhân loại được (lol). Và không đợi anh giải thích thì vừa may đã có CT nói về điều đó: Gadamer không tin rằng, trong các vấn đề thuộc con người, thậm chí chỉ là về mặt nguyên tắc, người ta có thể đạt tới một kiểu nhận thức tạo ra được sự chế ngự hoàn toàn về mặt trí tuệ đối với đối tượng được nhận thức. Có lẽ có thể mơ tưởng về điều này trong bộ môn vật lý học phân tử, thậm chí có thể xác lập nó như một trong các mục đích của bộ môn ấy, song điều này sẽ là bất khả khi đối với sự hiểu về con người.


Tự nhiên em hiểu ngay ngữ cảnh mà anh phản bác trích dẫn ED và đề cập đến network society. Và lúc nào bàn đến đó, tự nhiên em đã có cái thế năng để mà thao tác, bất chấp anh có biết đến Gadamer hay không trong mạch lạc của mình :)


Và việc Habermas cho rằng "những quốc gia không giao tiếp theo kiểu communicative action là những quốc gia không biết giao tiếp" liệu có phải là một uyển ngữ thay vì là một khúc mắc rơi về cái nhìn của thuyết vị chủng? Việc này rõ ràng phải bổ sung dữ liệu và rọi chiếu tiếp (ví dụ chính là với tiểu luận của CT).


Và việc rẽ nhánh khi bàn về yếu tố power trong tương tác xã hội của Habermas liệu có thể bổ khuyết từ cái nhìn tận căn của nhánh Gadamer (em đồ là không chỉ mình ổng)?


"Ghép 3 ông trí thức thì sẽ ra 1 tờ báo" là một hướng. Nhưng tờ báo là đã hàm ý tương tác 1 chiều, trong khi ý tưởng xây dựng trò chuyện liên cá nhân sóng đôi mà em đang từ từ làm rõ ra nó có xu thế 2 chiều. Và nó mời gọi sự tham dự bình đẳng (nhưng khác biệt, thậm chí là những duy nhất) của mọi người. Tuy vậy trong đó vẫn hàm chứa xu hướng thiên về góc độ truyền thông - tức là thao tác trong khung tri thức đại chúng, ở giữa, hơi hơi bottom-up (lol) hơn là kinh viện!


"mình cũng thích xài những thứ được mô hình hóa lắm, nhưng cuối cùng vẫn phải theo đuôi những người phê phán nguyên con modernisation." - Và cuối cùng thì cái câu này đã bị hấp thụ hết, hoàn toàn hiểu và đồng ý ngay về vấn đề anti mô hình hóa, xuất phát từ cách nhìn của Gadamer: 


Như vậy, cho tới giờ, ta đã biết rằng sự hiểu có ba đặc trưng: 1/ tính hai chiều, 2/ tính phụ thuộc vào kẻ đối thoại cùng, và 3/ tính chất mở ngỏ ra cho sự hiệu chỉnh. Các đặc trưng này hoàn toàn không thích hợp với mô hình nhận thức đối tượng theo lối cổ điển. Phản ứng triết học “chuẩn định” của chúng ta đối với các đặc trưng này cũng hoàn toàn tương tự. Các đặc trưng ấy hoàn toàn không thích hợp với nhận thức, tức sẽ không thể thích hợp với ”khoa học” thực sự. [Với môn khoa học về nhận thức-ND] nội dung của nhận thức không nên biến thiên theo mỗi kẻ truy tầm nhận thức khác nhau; nó không thể là điều gì [mà độ khả tín lại-ND] phụ thuộc vào các bên tham dự. Kẻ truy tầm nhận thức đích thực sẽ không bao giờ thay đổi mục đích của hắn, chứ đừng nói là có sự thỏa hiệp nào ở đây. Sự phụ thuộc vào các bên liên quan cũng như các mục đích bị thay đổi thích hợp được với sự hiểu, chính xác là bởi chúng tái hiện điều gì đó hoàn toàn khác với nhận thức; sự đạt tới đồng thuận, và việc đạt tới sự thật tối hậu là các cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau. Ta không nên lẫn lộn giữa hai cách tiếp cận này, cũng như không nên liều mạng thử tìm cách hạ giá lối tiếp cận khoa học. 


6.
@NL: Từ vai thứ 3, hẳn bác đã nhận ra những dụng ý của tôi trong thiết kế của chuỗi trò chuyện này. Trong chuyện dẫn nhập văn hóa mà không mời được những nhân vật như bác thì sẽ thật là phí phạm tài nguyên internet :P


Thực tế lúc viết chữ giới thiệu VH là tôi đã có sự ngập ngừng (nên nhập nhằng viết tắt), nhưng chấp nhận viết bừa như thế để mở ngõ câu chuyện của bác về lập ý trong mảng này.Cũng như anh Gauxx dẫn lại, tôi cũng nhận ra rất rõ sự dùng dằng "mắc vào nhận thức" của bác. Ngẫu nhiên trong mạch chuyện liên quan đến Gadamer này, tôi nghĩ có một hướng kỹ thuật tránh được việc phải lựa chọn mà vẫn có tiến hóa cho bản ngã tri thức của người viết. Nó liên quan đến ý tưởng về cấu trúc trò chuyện này. Khi đó ta coi mỗi lựa chọn là một kẻ khác để đối thoại và để hướng tới sự hiểu.


"Lý lẽ của Gadamer trong Sự thật và Phương Pháp đã ứng xử với sự hiểu của chúng ta đối với truyền thống của chính chúng ta, tức lịch sử văn minh của chúng ta, và các văn bản và biến cố thuộc về nó. Điều này có nghĩa rằng những gì chúng ta nghiên cứu sẽ bằng cách này hay cách khác nằm chính trong bản sắc của chúng ta. Thậm chí cả ở các công trình khi chúng ta định nghĩa bản thân mình chống lại các đặc trưng nào đó của quá khứ, như thời Khai minh hiện đại chống lại thời Trung cổ, thì thời Trung cổ ấy vẫn thuộc về bản sắc của chúng ta như thể một cực phủ định, tức điều chúng ta sẽ vượt qua hay thoát khỏi. Chúng ta là bộ phận của cái “lịch sử tạo hiệu lực” (Wirkungsgeschicte) và do đó, lịch sử ấy cũng tạo hiệu lực lên chúng ta [ Note: Nói vắn tắt, theo Gadamer, lịch sử tạo hiệu lực là dạng lịch sử mà ở đó bao gồm cả chính lịch sử của sự nghiên cứu lịch sử của chúng ta, tức những gì tạo ra thói quen, văn hóa và truyền thống hiểu lịch sử của chúng ta, và lẽ dĩ nhiên sẽ tạo hiệu lực, hay làm nên, một cách vô thức, hoặc ý thức lên cách nhìn nhận thực tại của chúng ta, và thậm chí cả chính chúng ta, trong hiện tại-ND]"


Về "Những huyền thoại" của RB: chính kiểu bàn nghiêng, bạn NL ở vai thứ 3, đã dẫn dắt câu chuyện đến đây - điểm hiệu chỉnh và đổi hướng. Một mặt tôi ước lượng (vì có thể trong chuyên ngành văn chương điều này lại khá cũ kỹ và hiển nhiên) rằng khi phải từ bỏ tư thế chính trị rõ ràng (điểm tựa lý thuyết, vị thế phát ngôn) thì có thể xoay sang cấu trúc kỹ thuật trò chuyện để đảm bảo cho mọi khả thể đều trở lên phong nhiêu :)


Có thể dù không đọc bài bản về Ký hiệu học nhưng do tôi là người đọc nhiều về Tâm phân học nên quen với cấu trúc của biểu tượng, có thể còn vì tôi là người thiết kế không gian, nên chuyện chuỗi lớp phối cảnh, nhịp điệu, tiết tấu, bố cục là cái dễ nhận ra trước. Và cũng có thể chịu ảnh hưởng của Francoise Jullien nên tôi đã quen cách đọc ký hiệu. Tất cả những điều đó làm cho việc đọc "Những huyền thoại" phần ký hiệu cấu trúc là rất tự nhiên với tôi. 


Nhưng nói vậy thì cũng vẫn có nghĩa là tôi hoàn toàn chia sẻ những đánh giá rằng "nó tươi mới, nhiều bất ngờ...ít xảo thuật trí thức". Chỉ là tôi đã vừa đẩy câu chuyển lên 1 nhịp để lấy lại thế năng rồi ^^

Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012

Quên đi và yên nghỉ. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải



vh nghe nhìn là cái mà những người bảo thủ chống lại với mục đích bảo vệ vh đọc - high culture.


- Văn hóa nghe nhìn không thể có high culture? Nếu không thì việc đối lập văn hóa đọc với văn hóa nghe nhìn là một việc không cân xứng. Ít nhất thì cũng có thể có thể lai của chúng?


cá nhân và liên cá nhân luôn có thể set up và thực thi cái agendas của họ - ví dụ lên FB mà xem^^ - cái ngày nay đã được support bởi mạng lưới. 

mạng lưới phát triển tạo ra một nền tảng khác mà Manuel Castells gọi là network society thay thế cho social networks kiểu cũ.

network society cấu trúc lại xã hội và công chúng - ở đó có những điểm giao dịch thông qua phương tiện, nơi mà space được tạo ra bởi các tương tác này như là những dòng chảy (space of flows) - vừa hay là cái bạn T đang quan tâm ^^. Nó có thể tiếp tục củng cố các giá trị của các thiết chế xã hội (institutions) hay phá vỡ chúng để tạo ra các projects mới mang tính tư thân (autonomous) của các society members, hoặc cả hai tình huống xảy ra- những chuyện hay còn ở phía trước. 



- Nhớ có lần chat với 1 cậu người Pháp, mình nói sự khác nhau (hay giống nhau tùy góc độ) của Đông và Tây có thể ví dụ như thế này: với bọn mày thì 1 đường thẳng là do 2 điểm nối qua, còn bọn tao nghĩ một điểm là do 2  đường cắt nhau!


Cũng vậy, ví như vấn đề ý thức bóp còi xe khi tham gia giao thông: thực ra có thể với Tây, bóp còi là 1 tín hiệu thông báo để xử lý tình huống cụ thể; trong khi đó với Đông chỉ đơn giản tiếng còi là mở rộng trường ảnh hưởng của cá nhân như 1 chiều hướng để các chiều hướng khác điều tiết.


Nay gặp ý tưởng về các tương tác như là những dòng chảy là 1 ý niệm hội tụ rất thú vị. Hy vọng đằng sau nó có 1 nền tảng kỹ thuật đã từng được dịch và giới thiệu (^^) ở đâu đó!



Do đó, quên E.Durkheim đi khi bàn về tt hiện đại, cũng nên để Le Bon yên nghỉ - cái gọi là TLH đám đông rất là vớ vẩn.


(Ở VN mới có thêm 1 ấn bản về TLH đám đông với 1 số tác giả nữa chứ không chỉ Le Bon). Điểm này thực ra rất thú vị để bàn:

- Sách của E.Durkheim được sắp trong bộ Tủ sách Tinh hoa của NXB Tri Thức. Có thể đơn giản đối với những người tuyển lựa, xã hội VN không có lựa chọn đi tắt khi cần bắt đầu từ tiền hiện đại để có thể tới được hậu đương hiện đại ^^

- Đáng tiếc cũng như hầu hết các cuốn sách khác trong Tủ sách này, hoàn toàn thiếu những bài dẫn nhập có tính chất giới thiệu, phê phán và những dòng nhánh của các chuyên đề này hiện nay. Có thể coi là những người chủ trương thiếu hẳn một quyết tâm và ý thức/khả năng tổ chức kiểu chiến dịch truyền thông cho việc quảng bá đưa các cuốn sách vào dòng chảy xã hội. Tất nhiên có thể đổ cho tiền, nhưng nên nhìn nó là hệ quả chứ không phải gốc rễ vấn đề cần giải quyết.

- Cũng có thể nói những tư tưởng trong Tủ sách Tinh hoa chưa có bầu không khí nuôi dưỡng nó, nhu cầu tiêu hóa, phủ nhận và phê phán nó...Nó chỉ là những tiền đề để bắt đầu (ít nhất từ ý thức tuyển lựa là như vậy) - một dạng tư tưởng tác động kiểu top-down - trong khi mọi chuyện thì hầu như đã/đang ở lưng chừng rồi.

Một mặt không thể bỏ qua ED được khi chưa có ý thức về tính phê phán với học thuyết mà nhảy ngay vào dòng sau. Có đi hết tinh thần của hiện đại thì mới hiểu được tâm thế hậu hiện đại. Nói cho cùng, như BVNS nhận xét, hậu hiện đại chỉ là tái hồi trở lại tinh thần khai minh của thời kỳ Khai sáng.

Mặt kia, chính những thảo luận amateur (tức là không quá kinh viện) kiểu này đã đồng thời kích hoạt làm nảy sinh một lúc mấy nhu cầu: nhu cầu cập nhật, nhu cầu phê phán tư tưởng cổ điển, nhu cầu ứng dụng rọi chiếu trong 1 chủ đề nhỏ. Qua đó tạo ra 1 mạch lạc của tiến trình - kiểu chiến lược hơi hơi bottom-up ^^.

- BVNS có 1 tầm vóc đáng nể nhất là khi chính những bài dẫn nhập của ông tạo ra 1 bộ từ điển triết học. Cuốn Nguồn gốc các loài của Darwin đến giờ đáng nhớ nhất lại là bài giới thiệu của BVNS. Qua nó, người ta định vị sơ bộ được cuốn sách trong lịch sử tư tưởng mà chính nó góp phần tạo ra.

- Cái khoảng trống hiện nay và cơ hội cũng chính là áp dụng tinh thần học thuật hiện đại vào phê phán xã hội VN cho những cas cụ thể và tiêu biểu của đời sống đương thời. NVT là 1 giáo sư nổi tiếng với những bài viết về các vấn đề xã hội với phương pháp xử lý số liệu kiểu NCKH. Bỏ qua điểm này điểm kia cần bàn thêm (như những gì anh LVu từng nói) thì đó chính là cái mà theo mình đang thiếu ở VN và nó có tác dụng trực quan rất mạnh! Mà nói thật, mình rất ngạc nhiên khi nhiều người, cả bạn mình, những người làm đến Postdoc chuyên ngành rồi mà mỗi lần rời sang chuyện xã hội lại thể hiện cái tư duy rất thô sơ và cảm tính. Chẳng phải cái đáng kể nhất của những học vị cao như vậy là khả năng nghiên cứu độc lập và khả năng đánh giá ước lượng được nội hàm tri thức của các ý tưởng về nhiều lĩnh vực. Chỉ bọn sinh viên ngây thơ mới hay lên những đề cương vĩ đại ôm hết mọi vấn đề to tát vào giải quyết trong mấy tháng thôi chứ.

- CVD có 2 mảng, NL với những bài điểm sách và CS với những bài viết có hơi hướng bình luận xã hội kiểu châm biếm; đều ít nhiều tạo được dấu ấn. Đáng tiếc theo mình là phần giới thiệu VH của NL thì giống cho người bản xứ hơn là cho VN - không hẳn là dở, chỉ là nó không có đối tượng đối thoại khả dĩ - và phần của CS thì lại giống tản văn của 1 thị dân có good taste.

Nói cho cùng lĩnh vực của BVNS thì quá đặc thù, ít phụ thuộc ngoại cảnh thực địa. NVT thì vẫn chỉ tiếp cận thời sự qua truyền thông nên cũng không đi quá xa được theo chiều hướng thâm nhập, nhưng ít ra cũng là lấy vũ khí của truyền thông để chống lá cải! Không dễ mà đứng ở trong dòng chảy xã hội VN mà vẫn tổ chức được cái agenda của riêng mình trở thành của 1 bộ phận công chúng. Trong việc này, vai trò của tương tác đa ngành, liên kết nhóm đa dạng của người mình còn quá yếu. Như TNH dịch 1 loạt những bài về lý luận văn học hiện đại rồi cũng phì phò thở vắn than dài mà chưa thấy tạo ra được một nhóm thảo luận khả dĩ làm nguồn động lực cho những dự án sinh động thiết thực hơn.

Nhưng tất cả những chỉ dấu tích cực trong loạt ghi chép này mà tôi ghi nhận đều là qua internet, từ internet và trên internet. Điều này vẫn còn là hy vọng cho tự do lựa chọn và thích nghi của mỗi người.


- HSBC - Ngân hàng toàn cầu, am hiểu địa phương :D

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Bùng nổ và biến đổi khôn lường. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải

Tôi là người tự học, không dấu dốt, biết đến đâu thì cố gắng viết lại xem có mạch lạc không. Đây là những ghi chép sau khi đọc bản dịch "Trí thức và Truyền thông" của anh Gauxx (tên thật ^^) cùng những bài viết trước đó.
-------------------------


"Hai quan điểm khác biệt này tồn tại trong phần lớn trí thức Việt Nam, những người hiếm khi chạm được vào những nguồn tài chính lớn và thường đồng nhất văn hóa đọc (reading) với văn minh." (Tôi gạch dưới).

- Điều đáng chú ý thứ nhất và cần làm rõ là sự phân biệt văn hóa đọc với văn minh. Theo ngữ cảnh có thể suy luận rằng ở đây hàm ý khái niệm văn minh bao trùm lên khái niệm văn hóa đọc. Sự khác biệt này có thể tương đồng với sự phân biệt giữa ngành Xã hội học với ngành Tâm lý học của Esmile Durkheim - (Các quy tắc của phương pháp xã hội học). Văn hóa đọc cho dù được mở rộng nghĩa tối đa trên nền tảng ngành truyền thông thì vẫn chưa thể là các sự kiện xã hội - tức là thuộc về cấu trúc thực thể lớn hơn của văn minh (khái niệm có thuộc tính xã hội).

- Cũng vậy, khi David G. Marr đề cập tới những nguồn tài chính lớn thì hẳn có ý ám chỉ tới cái cơ chế ngầm, thậm chí nền tảng, chi phối ngành truyền thông? Tức là có thể cơ chế thực sự của truyền thông không dựa trên những thao tác đọc trí năng mà liên quan đến khả năng thao túng dư luận dựa trên những cơ chế có tính chất  của "sự kiện xã hội" - (Các đặc điểm khu biệt của sự kiện xã hội: 1-Ở bên ngoài ý thức cá nhân. 2- Gây ra hay có thể gây ra sự tác động có tính cưỡng bức đến các ý thức ấy - ED, sdd).

"Khi thảo luận về mối quan hệ nhà nước-xã hội ở Việt Nam, liệu chúng ta có thể nói rằng giới trí thức với tư cách một nhóm xã hội có khả năng đối thoại với chính quyền? "

- Điểm thú vị là trong phát biểu này đã mặc nhiên lựa chọn đứng về phe trí thức-phản biện của cuộc tranh luận thời danh hồi cuối năm ngoái về khái niệm trí thức. Ở đây tiềm ẩn hai câu hỏi thú vị:

(1) - Định nghĩa về nhóm xã hội: hẳn sẽ dùng phương pháp của xã hội học để định nghĩa. Việc định rõ cấu trúc và điều kiện hình thành nhóm xã hội theo tiêu chí nào sẽ cho phép lý thuyết đo lường có khả năng triển khai theo những hướng cụ thể khác nhau.

(2) - Việc ra đời định nghĩa một giới riêng (trí thức) trong quan hệ đối lập với chính quyền có sự khác biệt với tính chất đảng phái không chỉ ở trong đặc điểm cấu trúc mà là từ trong cách tiếp cận về cấu trúc xã hội. Lựa chọn định nghĩa này bao hàm một tính mục đích - luôn luôn định nghĩa là có tính mục đích. Mục đích này có thể liên quan đến ý niệm nền tảng về động lực phát triển xã hội dựa trên đa nguyên  và quyền tự do lựa chọn?

Tới đây có thể nhận thấy rất rõ cách tiếp cận của David G. Marr chịu ảnh hưởng của những lý thuyết MSD và AS qua những từ khóa quan trọng: chính quyền-xã hội-truyền thông-công chúng, agenda setting.

"Kể cả khi đảng muốn thực hiện cả hai cùng lúc, thì có vẻ như một thế hệ mới công dân mạng sẽ tìm được cách thoát khỏi sự kiểm soát và xúc tiến cái agendas của riêng họ."

- Xúc tiến cái agendas của họ tức là "khuếch trương những ý tưởng mới, thử nghiệm những kiến thức, kinh nghiệm hay, thảo luận và đánh giá kết quả một cách mở rộng và thường xuyên" như những gì trí thức giai đoạn 1920s-1930s đã làm (dưới mô hình quản lý nhà nước thuộc địa của Pháp!). Cũng chính họ (trí thức giai đoạn đó) là lực lượng tạo ra sản phẩm báo chí và tiêu thụ chúng. Qua đó tác động tới nền tảng văn hóa (và nền tảng chính trị) của xã hội. Đến đây thì rất rõ ràng cái tiềm năng cạnh tranh vai trò dẫn dắt xã hội của trí thức (phản biện) với chính quyền từ phương diện tư tưởng sang phương diện chính trị. Nhất là khi báo chí truyền thông còn có thể là công cụ liên kết nhóm và gây ảnh hưởng. Nó là lành mạnh và bình thường ở bên ngoài những xã hội toàn trị!

Nhưng cũng chính vì cần tiếp cận xã hội dưới nguyên tắc của xã hội học nên dễ thấy là tư duy top-down tiếp cận vai trò chức năng của nhóm xã hội trí thức như trên (vai trò của tranh luận, đối lập, tự do lựa chọn) với chất lượng phát triển xã hội có xu hướng ôm đồm khó kiểm nghiệm lý thuyết (@Gauxx). Cần thêm vào đó là tiếp cận bottom-up xuất phát từ nhận thức "communication thực ra chính là một cơ chế của văn hóa và không tách rời văn hóa".

Tóm lại, sự lũng đoạn của báo chí lá cải dẫn đến nguy cơ bùng nổ và biến đổi khôn lường hiện tượng này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ tiêu cực:

1 - Tha hóa tư tưởng toàn xã hội: xói mòn các giá trị, chuẩn mực hiện thời. Hệ quả là những biểu tượng chính trị của hệ giá trị, chuẩn mực ấy (chính quyền, đảng cầm quyền) cũng chịu chung cơn lũ xói mòn và rỗng nghĩa. (Việc tái hồi những thần tượng quá cũ kỹ trong tấm áo đạo đức thực tế cho thấy sự rệu rã của xã hội hiện thời. Đạo đức (thường gắn với tình cảm tôn giáo) là thứ làm cho luật pháp (quyền lực) trở nên hiển nhiên). Tất yếu dẫn đến nhu cầu thay đổi, tìm cái mới, cái khác (thường được mong là cái tốt hơn).

2 - Sự tha hóa đi kèm với nó là mất khả năng tư duy độc lập, thiếu óc phê phán, tinh thần phản tư...dẫn đến nguy cơ dễ bị thao túng tâm trí. Trong trường hợp bị chi phối bởi các nhóm lợi ích nhỏ hoặc yếu tố ngoại xâm (diễn biến hòa bình, sic) thì đó còn là nguy cơ của một dân tộc.

3 - Cơ chế hiện thời của báo chí lá cải ở VN (với đặc điểm "viết bố láo, bịa đặt, viết chủ quan áp đặt, viết không thành có, có thành có rất nhiều, viết xúc phạm cá nhân, xúc phạm giới, vi phạm đạo đức nói chung.") còn có gây những hậu quả xấu: triệt tiêu tính chính xác của thông tin, khả năng tranh luận, đạo đức. Qua đó dung dưỡng tư duy bầy đàn, bản năng...là mảnh đất cho phương thức ám thị tà đạo thao túng tâm trí. Những xung năng tăm tối của đám đông được nuôi dưỡng và chờ chực nguy cơ bùng phát thành bạo loạn không thể kiểm soát được (Tâm lý học đám đông)? Kể ra điều này cũng khó nói cho phân minh. Những sự kiện tàn bạo nhất nhân loại đều chẳng phải đều xảy ra do những dân tộc vốn là trung tâm văn minh nhân loại như Pháp, Đức, Nhật, Trung Hoa?

Và như vậy liệu truyền thông có thực đã đủ là cơ chế văn hóa chủ yếu của xã hội hay còn những cơ chế ngầm khác chi phối đám đông công chúng? Thao túng và khai minh có nhất thiết sử dụng chung một cơ chế nền tảng?