Hiển thị các bài đăng có nhãn ký họa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ký họa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2024

Hai anh em

 

1.

Tôi sẽ bắt đầu viết_bên_cạnh những bức kí họa của mình. Như vậy có lẽ kí ức sẽ giàu có hay ho thêm. 

"In a sense, urban sketching can be more about the experience than the the result." (The Art of Urban Sketching)

2.

Hồi hè lớp 7 thì anh Gấu bắt đầu đi xe đạp loanh quanh khám phá thành phố của mình. Buổi chiều tối, thỉnh thoảng hai anh em sẽ chở nhau đi học karate ở câu lạc bộ. Beo lúc ấy là hè lớp 2, bé tí tẹo. Câu lạc bộ nằm trong vườn cây xanh khu nhà ở, rợp bóng cây nhưng vẫn nóng hầm hập vì đang giữa mùa hè. Lúc học xong là tầm 7 giờ tối, đường hãy còn đông nhưng bớt tắc. Bóng đèn đường vàng mờ mờ, tiếng xe cộ rầm rì, lẫn tiếng ve kêu ầm ĩ trên khắp vòm cây. Hai bóng áo võ phục màu trắng chở nhau trên chiếc xe đạp hơi quá khổ so với vóc dáng học sinh của cả hai, len lỏi giữa dòng người và phương tiện. Đoàn xe chững lại chờ đèn đỏ, cậu anh nghiêng xe chống chân lấy thăng bằng và ngoái lại nói gì đó với em mình. Từ phía sau tôi chợt thấy khung cảnh như đang ngưng đọng giống một cảnh phim được tạm dừng lại, ở đó có hầu hết những điều quan trọng nhất với mình: tình cảm gia đình, lòng hoài cảm trìu mến nhìn lũ trẻ chập chững lớn dần lên, vẻ ngây thơ đang ngó nghiêng cuộc sống đô thành bên ngoài chu trình an toàn quen thuộc hàng ngày. Buổi chập tối oi nồng, hăng hăng mùi xe cộ, mùi lá cây, quyện tiếng râm ran ầm ì của đường phố trong ánh sáng vàng vọt rải đều đều thi thoảng lại gặp vùng bóng cây sậm tối. Ở giữa tất cả mảng màu ấy là dáng vẻ hai bóng lưng áo trắng học trò nghiêng nghiêng nao nao...

Tôi ghi vội lại khoảnh khắc ấy. Nhưng không đủ, tôi muốn vẽ lại TẤT CẢ những gì quan trọng nhất mình đã cảm thấy vào buổi chiều hôm đó. Đến tận bây giờ, dù đã nhiều năm qua đi, mỗi lần nhìn bức kí họa, tôi lại cảm thấy như mình đang ở hôm đó, khung cảnh đó với tâm tình y hệt. Bây giờ viết thêm được một chút, thấy vui thêm một chút

3.

Drawing something forces you to look at it, really look at it. (The Art of Urban Sketching)


Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Chùm đọc. (I)

1.
Tôi là ai và nếu vậy thì bao nhiêu? - Richard David Precht
Trò chuyện triết học - BVNS
(Triết học nhập môn - Karl Jaspers)

Tuy có vẻ cùng thể loại Nhập môn nhưng việc đọc nhanh cùng lúc cả 3 cuốn này sẽ có thể giúp ta nhận ra nhiều điểm thú vị quanh co gấp nếp. (Thực ra cuốn của KJ thì tôi đọc từ mấy năm trước rồi, nhưng ấn tượng rõ ràng nên có thể lôi ngay ra để liên tưởng). Đầu tiên là về tác giả: trong 3 người có lẽ chỉ KJ có thể được coi là triết gia - tuy hình như bị coi là thứ yếu - còn như RDP và BVNS thì chỉ có thể gọi là nhà nghiên cứu triết học. Oái oăm và đáng chú ý là ông triết gia thì có nghề bác sỹ còn hai ông kia thì có nghề triết hẳn hoi!

Sách nhập môn là viết cho người sơ học, coi như chưa có vốn liếng gì, nhưng cũng có nhiều kiểu khác nhau - khác nhau theo mục đích, thể loại và theo cả sở học của người viết. (Nhân tiện, những bộ sách nhập môn như Tủ sách Nhập môn (truyện tranh) của NXB Trẻ hay Tủ sách Que sais Je? (sách bỏ túi) của NXB Thế giới đều là những bộ sách rất quan trọng dành cho những người tự học).

Ba cuốn sách mà tôi kể ở trên cũng là ba trường hợp khác nhau: RDP viết cuốn sách đầu kiểu dựa vào những thành tựu của ngành nghiên cứu não để phê phán triết học truyền thống. Trong khi đó BVNS thì cố gắng dựa vào hình thức đối thoại theo chủ đề nhỏ để giới thiệu lịch sử triết học - theo cách hơi giống kiểu giáo trình. KJ thì đơn giản và rõ  ràng là dẫn nhập người đọc từ thẩm quyền của một triết gia - ông nói về triết lý của ông.

Cuốn sách (thực ra là một tập bài viết) của BVNS là kém hấp dẫn nhất về nội dung so với 2 cuốn kia. Một phần vì nó có vẻ bị khó xử trong cách xác lập thẩm quyền phát ngôn trước đám thị dân mới trong khuôn khổ một mục báo. Nhưng tôi nghĩ điều quan trọng hơn là vì nó khó có thể nhấn mạnh vào điều gì mới mẻ đột phá vì như vậy sẽ mâu thuẫn với lựa chọn từ đầu về hình thức của nó: đưa người đọc đến những câu hỏi mở căn bản trong vòng xoáy trôn ốc của lịch sử triết lý. Với tôi điểm thú vị của cuốn sách cũng oái oăm: đó là câu hỏi về việc phê phán BVNS thì dễ nhưng nếu đặt vào tình huống vị thế của tác giả thì ta sẽ tiến thoái thế nào?  Những người đọc nếu đã có chút vốn liếng triết học sẽ dễ phê phán chỉ trích tập sách, nhưng nếu phê phán có thiện chí thì chỉ nội việc nhìn chăm chú vào tình thế tiến thoái đó cũng sẽ gợi ra vô số con đường để thử nghiệm.

Trong tình thế ngược lại, cũng là viết cho đại chúng, nhưng là đại chúng Đức nên RDP dễ dàng lướt qua các trách nhiệm điểm danh lịch sử tư tưởng mà đi thẳng vào mạch phê phán, nhân tiện giới thiệu những lập trường mới nhất của ngành nghiên cứu não. Cũng vì là một dạng triết học khoa học nên cách trình bày của nó dễ nắm bắt, có thể đọc một lèo như thể những cách diễn đạt nhì nhằng xưa nay là một sự thất bại kém cỏi không đáng nhớ. Có điều, do suôn sẻ quá thành ra gấp cuốn sách lại thì người đọc dễ bâng khuâng chịu không hiểu thế tại làm sao mà cái cảm giác hiện sinh vẫn không nhúc nhích được là bao? Cảm giác của tôi là có quá nhiều điểm cụ thể đã được khái quát hóa quá nhanh, thành ra đơn giản hóa những tình huống tế nhị của suy tư. Việc đẩy các giới hạn của cách nhìn cơ giới luận vào sâu trong não người thì cũng sẽ vẫn chịu giới hạn của phương pháp ngay từ đầu.

Cuối cùng, đọc lại KJ ta sẽ cảm nhận được điểm khác biệt tinh tế. Do có một cái lõi, một điểm nhất dĩ quán chi của triết gia nên cuốn sách tập trung vào một vài điểm trọng yếu - cốt với mục tiêu chuyển đổi điểm nhìn của người đọc, những việc khác sẽ đến dần. Dẫu rằng KJ cũng không hẳn là một triết gia "hạng nặng" trong lịch sử triết học hiện đại, nhưng điểm mà chúng ta đang bàn (một cách triết lý ^^) là về cái cách mà tư tưởng dọ dẫm thì hoàn toàn không bị ảnh hưởng của bảng xếp hạng kia!

2.
Hồi ký Phạm Cao Củng
Quê hương tôi - Tràng Thiên/Võ Phiến
(Hồi ký Nguyễn Hiến Lê)
Viết về bạn bè - Bùi Ngọc Tấn

Mấy cuốn ký/hồi ký này đọc hấp dẫn, đọc một mạch. Nhất là cuốn của VP, đúng là khác và hay so với những tác giả thường đọc. Võ Phiến/Tràng Thiên viết tùy bút nhẹ nhàng miên man, nhiều quan sát tinh tế. Viết tản văn được cái hay là lập luận không quan trọng lắm, nó chỉ khơi gợi là chính. Phần quan trọng là nhịp điệu, giọng văn - qua đó chuyên chở cái nhìn, cái khí chất, tình cảm của người đi/người viết* Những đoạn như đoạn tả cảnh nếm nước mắm chèm chẹp, có vị hậu, thiếu nắng...là những chi tiết sẽ không còn thấy ở ngày nay nữa. Không phải các nhà văn không biết đến mà tại cuộc sống đã thay đổi quá nhiều, những mô tả bắt chước dễ dãi, giả bộ cầu kỳ tràn lan trên các tạp chí ẩm thực, du lịch chẳng thể nào có được sự tinh tế hay chân thực như vậy bởi xung quanh chúng ta còn có ai tiếp tục sống trải như vậy nữa. Phải một nhịp sống rất chậm, thư thả, chưa hề gián đoạn qua các thế hệ mới có thể cung cấp được những từ vựng phong phú, riêng có làm bằng chứng cho những sống trải.

Nếu cuốn của VP đọc chậm rãi, liên tục nhưng thong thả thì cuốn hồi ký của PCC chỉ cần đọc lóc chóc, lỗ chỗ tùy hứng vì quả tình là văn cụ Phạm Cao Củng hơi lủng củng. Cũng giống mấy cuốn cuối đời của Vương Hổng Sển, cuốn này đọc thấy ngay là văn của mấy cụ đã sang tuổi đại lão. Các cụ sống lâu, cuộc đời nhiều thăng trầm nên văn nhiều chi tiết. Cứ tưng tửng kể ra cũng đủ lũ hậu sinh há miệng thèm nghe. Kiểu viết tràn đi, kể tràn đi, kệ cụ chúng mày có theo kịp các bối cảnh xưa hay không này cung cấp thêm bằng chứng cho khả năng tốn gái của cụ thời trai trẻ.

Nhưng nếu lạm dụng quá đi kiểu hành văn này thì chỉ một thời gian sau nữa sẽ khó kiếm được độc giả. Nó khác với cách viết hồi ký của Nguyễn Hiến Lê: ông có ý thức rất rõ về việc làm cho hậu sinh đồng cảm được những hậu cảnh của những sự kiện cuộc đời mình. Có thể vì ông là người biên khảo nhiều cuốn sách sử, lại từng dịch W.Durant nên có cái óc tỉnh táo và tầm nhìn rộng để biết lưu giữ lại những bối cảnh, những câu chuyện. Hồi tưởng lại cuộc đời mình cũng là diễn giải lại cái thế giới mình đã từng sống trải - ngõ hầu trăm năm sau kẻ tương tri có chỗ mà nương tựa.

NHL có thể diễn giải lại xã hội mà ông đã sống nhưng Bùi Ngọc Tấn thì chưa được làm như vậy. Mà chính hồi ký của NHL vẫn còn 02 chương chưa được xuất bản. Từ NHL đến BNT là khoảng 20 năm nhưng vẫn chung một nguyên nhân: chưa nói được - hay là chưa được nói.

Tuy là Viết về bè bạn nhưng có thể thấy rõ cuốn sách gồm 2 phần được ghép lại với nhau: về Nguyên Hồng và về một số người khác.Ngày xưa tôi không thấy văn Nguyên Hồng hấp dẫn lắm, nhưng đọc BNT viết về Nguyên Hồng lại khiến tôi muốn tìm đọc văn của ông. Dẫu vậy điều tôi nhớ nhất về Nguyên Hồng là câu nói nổi tiếng của ông "Tao về Nhã Nam...Ông đéo chơi với chúng mày nữa". Tư cách Nguyên Hồng, uy của Nguyên Hồng, khí tiết của Nguyên Hồng.

Phần về các bạn bè khác nhiều chi tiết, viết tình cảm, chân thành. Nhưng đọc gần xong hóa ra tôi lại ấn tượng nhất mấy câu về Nguyên Bình, con người cuối đời chuyển hẳn sang tu chân luyện khí. Bỗng dưng thân thiết là thế, đồng điệu là thế mà giờ thành chúng tôi không thể nói chuyện với nhau được nữa...Vì là không biết nói gì với nhau nữa. Đã là 02 thế giới, không đó là 02 bình diện sống khác nhau mà ở phía bên kia  Nguyên Bình không biết làm thế nào để diễn tả cho BNT được. Tôi cũng đành trải qua những lần như vậy, những người bạn ngày xưa thân thiết là thế, cùng nhau trải qua bao nhiêu dại khờ tuổi trẻ là thế, bỗng dưng không còn gì chung để nói tiếp với nhau. Tình cảm xưa vẫn còn, thân ái vẫn có nhưng từ rày đi tiếp thì chẳng còn gì chung nữa ngoài quá khứ. Bây giờ em nhớ ngày xưa/Bây giờ tôi nhớ ngày xưa...

Đọc hồi ký của lớp người trước cũng còn là cách tôi luôn luôn tìm những manh mối cho câu trả lời về một giai đoạn lịch sử của đất nước. Thử nghĩ xem, dù đã gác sang một bên, nhưng chính họ là những người từ hai phía chiến tuyến đều đã rất tha thiết với quê hương, với thân phận con người. Gần nhau, giống nhau đến độ chỉ cần che đi một tý thì Tràng Thiên gặp ngay độc giả hậu chiến; mà mở ra một tẹo thì ủm lên ngay những tranh luận vô lối về Võ Phiến chống/phản, về lập trường chính trị, khí tiết...

Mẹ kiếp, phải có cái gì đó sai ở đây chứ hả ông Nguyễn Bắc Sơn? Hay chỉ lại là tai trời ách nước?

Xem chiến cuộc như tai trời ách nước 
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước 
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi...
----------



(*) Tôi có lần viết về thể ký trong mục Ký họa. 


Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Thử nghiệm

Mới tìm ra thử nghiệm rất thích với Galaxy Note.

Tái tạo - ghi lại được nhịp điệu của cái nhìn chủ quan. 
Nhìn là lựa chọn.

1 - Phố Thể Giao


2 - Ngõ phố & Gấu 
Nhà mình ở khoảng cái chấm vàng lơ lửng ^^

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Ký họa


1.
Hôm trước khi viết những cảm nhận về tập thơ của Quang Dũng, thực ra cũng là một loại phác thảo - những ghi chép dạng blog bao giờ chả là như vậy - nên đôi khi để bảo toàn một tổng thể khả dĩ nào đó mà phải lướt qua/nhập nhòa với các khả năng khác. Bây giờ thử lại theo cách ngắn gọn:

- Ký họa là ghi chép lại bằng hình ảnh một khoảnh khắc của cuộc sống. Trong truyền thống hội họa kinh điển châu Âu thì ký họa có vai trò mờ nhạt (*), điều này khác với sự ưa thích (thậm chí sùng mộ trong một giới nhỏ) ở VN trong giai đoạn từ 1945 đến gần đây (hoặc tính đến hết chiến tranh 1975). Ngoài lý do đặc thù câu chuyện lịch sử chiến tranh khốc liệt mà riêng việc là nhân chứng đã đem lại tính hấp dẫn đặc biệt thì diễn trình lịch sử hội họa VN bán khai cũng vừa vặn phù hợp với thị hiếu công chúng giai đoạn đó - ký họa chứng tỏ tài năng vẽ giống, nắm bắt thần tình, cũng chứng tỏ xuất xứ đào tạo hàn lâm, hứa hẹn những tác phẩm kinh điển...


Quang Dũng ưa ký họa, thích khắc họa khoảnh khắc. Đặc trưng thơ QD có dấu ấn ký họa rất nổi bật. Thơ ông có nhiều câu rời sống cuộc đời thơ rất riêng trong lòng công chúng. Tự nhiên nó cũng rất vừa vặn với những cảm xúc bâng khuâng, tha thiết nhưng mơ hồ của tiền chiến (kéo dài).

2.
Tuy nhiên có hai điểm quan trọng mấu chốt có thể triển khai ở chủ đề trên thì tôi lại chưa điểm đến. Điểm đầu tiên đó là sự khác biệt trong nhìn nhận vai trò của ký họa ở châu Âu và ở VN có thể liên quan đến một gốc rễ sâu xa hơn từ hệ hình tư duy. Riêng chuyện từ đâu tôi nhận ra điểm này cũng là một câu chuyện khúc khuỷu để kể: khởi từ việc đọc tập "Những cách thấy" của John Berger tôi nhận thấy lờ mờ có nhiều luận điểm thoạt đầu nghe rất hợp lý nhưng suôn sẻ quá nên gờn gợn khả năng khác mà có thể việc đọc lại cuốn "Cái Nu không thể có" của Francois Jullien sẽ cho thấy độ chênh. Cả hai cuốn tôi đều đang đọc dở nên chưa nói được gì nhiều nhưng có một điểm quan trọng có thể kể ở đây: nếu trong truyền thống hội họa kinh viện châu Âu thì cái bất động là điều quan trọng (ít nhất với cái Nu) thì ở phương Đông - Trung Hoa - chính cái bất động là kẻ thù của họa pháp truyền thống. Phương Đông tôn vinh tiến trình - cái đang biến đổi - mà ký họa thì vừa vặn là phương thức của hội họa châu Âu để mô tả khoảnh khắc - cái đang biến đổi. Từ Tây sang Đông, đến VN nó trở thành khách quý mặc dù dưới danh phận của cái-có-thể-trở-thành.

Điểm thứ hai thực ra rất khó bàn ngắn gọn nhưng đã tư duy kiểu song thoại đối chiếu thì không thể không nhìn từ phía đặc trưng cốt yếu của thơ - từ cổ điển đến hiện đại/từ Tây sang Đông/đến Quang Dũng - để gợi sự tương đồng ở tầng sâu hơn. Chuyện này có thể nương tựa một lần nữa bác F.J với cuốn "Đường vòng và lối vào"; để xem lại những bàn luận về khoảnh khắc/vĩnh viễn, di âm, khoảng cách...

Có điều kể cả tìm tòi thêm được gì nữa thì tôi vẫn lựa chọn cách phát biểu rằng đó chỉ là một khả năng mà từ chỗ tôi thì tôi thấy thế.

Ngoài ra là người học vẽ, tôi có thể kể ra một sự kiện có tính chất bằng chứng: việc ký họa với tôi có một niềm vui rất trực tiếp và hứng khởi, trước khi mọi sức ép và ý nghĩ khác vụt đến.

3.
Nhân tiện giới thiệu mọi người một tác phẩm kết hợp tuyệt vời giữa ký họa - vũ điệu - âm nhạc - đồ họa 2D mà có lẽ chính là minh chứng hoàn hảo cho điểm chung nổi bật khắc họa cái khoảnh khắc.

http://www.youtube.com/watch?v=OBk3ynRbtsw&feature=share

Các hình họa đẹp có thể tìm thấy tại:

http://conteanimated.com/the-book/


Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Đời sống thường ngày bình dân Hà Nội 2012




Thiếu phụ lướt web: Làm cha mẹ chấm com


Nhi đồng xem Ti vi: Cartoon Network


Ấu nhi: Ngủ và ọ ẹ

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Xem tập Mắt người Sơn Tây - Quang Dũng



Sắp xong chưa ông Vân ơi!


1.
Tôi mua tập thơ Quang Dũng trước hết vì tình cảm với những bài thơ thời hoa niên như Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây. Hồi đó lớp 11-12, vẫn còn nhớ rất rõ liên tưởng đến góc camera thay đổi những khung hình trong bài Tây Tiến, nhưng khi thử nghĩ kỹ thì không làm rõ ra được tại sao lại như vậy.

Tập Mắt người Sơn Tây do Nhã Nam làm lần này (Trác Phong tuyển chọn) có cả thơ, ký họa và ký sự của Quang Dũng. Một cách trực quan, những ký họa khiến tôi thấy có thể hiểu hơn về lối làm thơ (dùng chữ thi pháp thì to quá ^^ ) và những thiên hướng của ông: một tâm thế phù hợp nhất với những đặc trưng của thể loại ký.

Các ký họa của Quang Dũng đều là ký họa phong cảnh (màu nước). Chắc thời gian đã làm ảnh hưởng đến chất lượng của chúng: chất màu đã bị khê nhiều. Nếu xét trên phương diện hội họa thì thấy không quá ấn tượng. Nhưng có một đặc điểm của những ký họa phong cảnh bằng mầu nước này làm tôi quan tâm: trên bình diện tổng thể thì một bức vẽ có cách thể hiện rất nhiều chi tiết, nhưng nhìn vào từng chi tiết thì nét ký họa lại không sắc sảo lắm. Hay nói theo kiểu dân học vẽ là chỗ nào cũng vẽ nên hơi tham chi tiết.

Tất nhiên đối với một bức ký họa thì tính chất tư liệu của nó được đặt lên hàng đầu. Nhưng cũng tại một bức phác họa màu nước thì đã gần tương đương một bức tranh hoàn chỉnh rồi nên đặc điểm trên nó có tính dấu ấn cá nhân. Ở đây, có gì đó tương đồng với phong cách thơ của QD mà trong bài giới thiệu Vũ Quần Phương có một nhận xét liên quan: càng về sau QD càng thiếu đi những bài thơ hay hoàn chỉnh, nhưng vẫn có những câu thơ, tứ thơ hay rải rác. Cái tương đồng là ở xu hướng nắm bắt khoảnh khắc, chi tiết.

Thơ QD có điểm giống thơ Lưu Quang Vũ sau này mà tôi nghĩ là do đặc điểm chung của những người học vẽ: giàu chất liệu hình ảnh và trong những khung hình rất gần với hội họa. Nhưng tâm thế tình cảm thì hai người khác nhau: LQV gần chúng ta  hơn, mê đắm rõ rệt; trong khi QD vẫn là của tiền chiến - hào hoa, nhiều ước lệ và chừng mực trong man mác. Có thể liệt kê được một loạt những "ơi/xa cách/nhớ mong..." với tần suất khá cao từ tập thơ. Nhưng cũng chỉ trong tâm tiền chiến mới có thể tự nhiên gọi những câu rất thiết tha như "Buồn lắm Hồ Nam ơi!". Tha thiết, bâng khuâng, tiết chế, chừng mực trong cảm xúc nhưng rộng rãi thoáng đạt, linh động trong không gian và thời gian - đó cũng là những đặc điểm của thể loại ký họa.


2.
Ký họa ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn 1945-1975 có vị thế đặc biệt về thể loại, khác với ở các nước khác nhiều khi chỉ nhạt nhòa trong vai trò tư liệu của hội họa giá vẽ kinh điển. Tính chất thâm nhập thực tế sinh động, lưu giữ chi tiết (mặt kia là điển hình hóa) trong phong cách lưu loát thoáng đạt của thể loại ký họa đặc biệt phù hợp với điều kiện chiến tranh ở VN. Ngoài ra cũng phải kể đến tiến trình phát triển từ ảnh hưởng của thời Mỹ thuật Đông Dương:  Hội họa thời kỳ này ở VN hầu như chỉ mới ở thời kỳ đầu của lịch sử hội họa hiện đại mà ảnh hưởng của hội họa kinh điển với đặc trưng "Hình họa là danh dự của họa sỹ" - Salvador Dalis - trừ một số ngoại lệ (Trần Trung Tín là ví dụ) - nên tâm lý coi trọng ký họa như là một cái gì có tính hương xưa, được huyền thoại hóa cũng là dễ hiểu.

Trong tư cách là tài liệu nguồn do thâm nhập thực tế, ký họa có tính chất đối diện với đối tượng: có một khoảng cách tinh thần giữa người vẽ với khung cảnh hay câu chuyện. Một mặt anh ta là chứng nhân của sự kiện, mặt kia ngay tức thì anh ta không để cảm xúc chủ quan của mình chi phối tính chất ghi chép dữ liệu. Vẽ  bằng đường nét là phương tiện vừa vặn với ký họa - bằng một sự nhạy cảm tuyệt đỉnh vốn đã như thế ngay từ nguyên thủy. Người vẽ ở đây đóng vai khách lạ với khung cảnh/câu chuyện. Trong chiều kia, câu chuyện được kể lại (bằng hình ảnh) của một người trở về từ những chuyến du hành luôn có tính hấp dẫn đặc biệt của chốn chưa biết với người thưởng lãm.

Thể loại ký - văn xuôi tự sự, những ghi chép trong văn chương có một phổ khá dài từ nhật ký, ký sự, bút ký đến tùy bút. Chúng có đặc điểm chung là sự di chuyển - trong không gian và thời gian. Rõi theo, mô tả, dẫn dắt. Trải nghiệm, chuyển động, giản lược trong sự kiện và những tự sự trữ tình của người viết/đi được gia giảm liều lượng theo từng đặc trưng thể loại. Với ký, người ta không thể tách ra khỏi câu chuyện cái phong cách lữ khách riêng có và do vậy bản thân sinh động của con người tác giả cũng dự-phần bàng bạc trong suốt các câu chuyện. Ai bình thơ Quang Dũng mà chả nhắc đến nét đẹp trai, hào hoa người Hà nội của ông. Phải chăng đó là cách những câu thơ tuyệt diệu mênh mông rời rạc trong thơ Quang Dũng sống cuộc đời thơ của riêng mình.


Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?


3.
Nhưng điều đọng lại nhiều nhất sau tập thơ với tôi là câu chuyện của Phan Lạc Tiếp (11,1971) về tình cảm mẹ con nhà thơ. "Lời mà cụ Tổng nói với chúng tôi là "Hôm anh Diệm về có hai người đi kèm. Anh chỉ nói với mẹ một câu rằng mẹ đi đi. Thế thôi.". Bài thơ "Nhớ về mẹ" được viết sau đó vài năm.



(Entry này tặng riêng bác Gỗ Mun)


^^