Hiển thị các bài đăng có nhãn những chuyến đi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn những chuyến đi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 11, 2010

Những mũi kim khâu

Tôi thường hay đi công tác xa theo kiểu tận dụng, tức là cả đi và về sẽ thường vào buổi tối, đôi khi là sáng sớm. Cảm giác đi xuyên qua thành phố buổi đêm là một cảm giác rất cá biệt. Cảm giác rất rõ giới hạn của thành phố. Cảm giác rất rõ một thành phố mình vừa đi qua. Mình như thấy hiểu hơn về nơi thực ra mình chỉ vừa mới rời đi.

Do công việc, hai năm trở lại đây tôi thường đi Sài Gòn hằng tháng. Nhưng chưa thể coi là đã đến thành phố này bất kể những ảnh hưởng của sách SG đã cho tôi cả một ký ức ảo. Tôi thích đến một nơi khác bằng điệu bộ la cà trong những ngày tháng vô tích sự chứ không phải kiểu tất bật tranh thủ đo đếm nơi này chốn nọ để cho có chuyện kể. Trong tâm thế khách lạ, ta vẫn có thể nói đôi điều gì đó rất chi là chủ quan về thành phố: cảm giác mọi thứ đều chuyển động, đều cố gắng, nhưng ít bận tâm.

Chưa kịp nhận ra thì đã rời đi. Trong khi rời đi lại nhận ra một điều gì đó. Tự nhiên thích nghĩ đến hình ảnh so sánh của Nguyễn Bình Phương trong Trí Nhớ Suy Tàn: đoàn tàu chạy qua khỏi thành phố như những mũi kim khâu đi khâu lại những mảnh không gian.

Nếu đi đủ thường xuyên sẽ nhận ra bầu trời của những chuyến bay giữa SG-HN hóa ra chật hẹp rất buồn cười: chừng đó con người, đại khái chừng đó câu chuyện. Nếu những chuyến tàu là những mũi kim khâu thì có lẽ những chuyến bay chỉ vừa đủ giống như những vệt hồ dán để dán những thành phố ý niệm của mỗi chúng ta.

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Một quãng đường trường


1.

Tản mạn về những chuyến đi.


Một lần tôi có việc đột xuất phải đi vào TP Vinh. Lúc ấy không kịp lựa chọn bất cứ một loại phương tiện nào ngoài việc sẽ đi xe máy. Đi cùng với một bác, mà không, phải kể là một ông già gân vì suốt chặng đường bác (đã ngoài 60) nhất định không để tôi cầm lái! Hai bác cháu đi từ 4g sáng để kịp 10g30 thì tới nơi. Lúc ấy tầm đầu tháng 10, trời còn khá ấm vào ban ngày nên lúc đi chủ quan không mặc áo khoác, ra khỏi Hà nội vài cây số thì trời lạnh không chịu được, thế là đành phải trời không mưa đi mặc áo mưa chạy vào tận Thanh Hoá mới thôi.


Từ Thanh Hoá trở vào đi đường mình cứ lo bác ấy mệt, buồn ngủ thì nguy to nên cứ gợi hết chuyện này chuyện kia để hỏi. Thế là được nghe rất nhiều câu chuyện liên quan đến những địa danh hai bên đường. Cái kênh nhà Lê khi xưa làm giao thông Nam Bắc bây giờ nhìn bé tí, rộng nhất chỉ được khoảng chưa đến 10m. Qua đến Bà Triệu, qua quê Hồ Xuân Hương, rồi đền Cuông thờ An Dương Vương và Mỵ Châu, vùng núi hai vai (bây giờ làm xi măng cụt mất một vai), nghe chuyện con bò đen con bò vàng...Lượt đi vì vội nên không có gì kể ngoài rất nhiều chuyện vụn như vừa kể, nhưng buồn cười nhất là vào gần đến nơi mới hay rằng: hoá ra bác ấy cũng sợ tôi ngủ gật nên cố nghĩ ra chuyện để nói!

Sáng hôm sau quay trở ra thì đi rất thong thả vì khởi hành muộn mà hôm ấy trời đẹp, nắng nhẹ, không khí trong lành nên cứ đi dọc đường đến điểm nào hay thì chúng tôi lại dừng lại nghỉ ngơi thăm viếng. Về nhà điểm lại thì toàn vào thăm các bà! Đầu tiên là Đền Cuông. Đền nằm bên quốc lộ 1, quay hướng Tây, kiến trúc đẹp, có phần độc đáo so với những ngôi đền có quy mô tương tự. Từ mấy trụ biểu vào đến hậu cung chia làm 2 phần cốt thấp và cốt cao một cách rất rõ rệt, thế dựa vào sườn núi. Vì vậy mặc dù ngôi đền không to lắm nhưng có một dáng vẻ rất trang nghiêm. Nhớ lại quãng đường đã qua trên một chiếc xe cũ kĩ khiến tôi liên tưởng đến chặng đường rong ruổi của 2 cha con Mỵ Châu trong truyền thuyết. Quãng đi qua núi gì (Cuông?) mà nơi có ngôi đền cổ nhỏ bé nằm trên đình, truyền rằng mới chính là nơi đầu tiên thờ cúng An Dương Vương, và chân núi là nơi có bờ biển xảy ra câu chuyện ngọc trai...Con đường đi ngang qua một cánh đồng rộng rãi, ngôi đền nhỏ bé nằm trơ trọi bơ vơ trên đỉnh dãy núi quay mặt ra biển quay lưng lại phía con đường-lần nào đi qua đây tôi cũng cảm thấy bồi hồi.


Quay lại lúc vào đền Cuông, tôi vẫn còn tâm trạng ấy. Trèo lên mấy bậc cao để vào hậu cung, không hiểu sao cứ liên tưởng đến hình ảnh An Dương Vương có phần hơi nghiêm khắc cứng nhắc, có nỗi khổ tâm đối với hình ảnh Mỵ Châu ngơ ngác, bơ vơ. (Đền thờ công chúa nhỏ bé, đơn sơ nằm bên cạnh bên tay trái đền vua-bên trong tiêu điều sơ sài. Một không gian lạnh lẽo tui tủi). Truyền thuyết chả nhắc đến mẹ nàng bao giờ. Cha già con dại, một quãng đường trường, nghìn năm gió bụi. Bâng khuâng lúc thắp hương cho nàng, tôi nhủ thầm chắc hẳn họ đã ở một nơi nào đó gần gũi hơn - để nàng có thể chăm sóc cha già, một cuộc đời đơn sơ không vướng bận. (Đền xây thời Tự Đức thì phải. Rốt cuộc đó là nơi thờ một ông vua và một công chúa, không phải là nơi cư ngụ của hai cha con. Hay họ còn ở trên đỉnh ngọn núi kia?

Đền Bà Triệu cũng ở bên đường quốc lộ, phải đi qua đường tàu. Cũng cổ kính, có mấy cây cổ thụ phủ bóng. Nhưng ở đây có phần ấm áp hơn vì bối cảnh xung quanh có nhiều dân cư và hình như cũng có nhiều hoạt động kiểu cầu tài cầu lộc. Đối diện bên kia đường ở giữa cánh đồng có ngọn núi tương truyền là mộ của bà ở đó. Cũng có một ngôi đền, từ xa nhìn thấy màu trắng thấp thoáng. Ngày trước học sử, cứ tưởng tức lên là cầm kiếm đánh nhau rồi thành ra khởi nghĩa ngay. Thực ra, ở trong vùng vẫn còn những mẩu chuyện, vết tích về thời kỳ chuẩn bị lực lượng của hai anh em bà. Bản thân bà Triệu hình như cũng có vết tích khắp mấy tỉnh trong vùng. Bây giờ giao thông thuận tiện, thông tin đầy đủ mà giật mình nhìn lại, chưa bao giờ có được cái nhìn bao quát trải ra một vùng rộng, như thế đủ thấy những con người của lịch sử luôn luôn có một bản lĩnh và tầm nhìn lớn rộng và những hành động thiết thực, đích đáng. Ông Mai Thúc Loan cũng vậy, tôi đọc đâu đấy rằng ông là một hào phú có tới 4 bà vợ ở 4 vùng miền trọng điểm thời đó. Đủ biết cụ gây cơ sở cách mạng kỹ lưỡng như thế nào! Ngày xưa nghe chuyện rút đòn gánh đánh lính nghe giống như truyện Trần Thiệp, Ngô Quảng bên Tàu vậy. (Ai đó còn có giả thuyết về gốc tích Chiêm Thành của Vua Đen nữa. Sự tích, khảo cứu vùng này, tôi đọc được cuốn An - Tĩnh cổ lục của ông gì người Pháp dạy học từ thời đầu thế kỷ mới tái bản (xuất bản?) thấy là rất có giá trị về khảo cứu.


Chính trong đấy có câu chuyện về một bài luận của học sinh An nam của ông làm sau khi được đi điền dã khảo sát họ Nguyễn Tiên Điền. Mộ Nguyễn Du khi ấy còn sè sè một nấm bên đường chứ chưa bị ồn ào như ngày nay. Có ảnh chụp, hoang sơ giữa đám cỏ, một vùng cỏ áy bóng tà. Người học trò (sau rất có tiếng, là thày dạy của một vài trí thức nổi danh) đã bất bình cảm thán nhắc lại câu thơ "bất tri tam bách dư niên hậu" mà mong có được sự quan tâm của chính quyền. Chính ông thày người Pháp đã có một lời nhận xét là ND mong có người nhớ đến mà nay Truyện Kiều đã đi vào hồn dân tộc thì còn tượng đài nào hơn nữa, chắc gì tôn vinh mà đã hơn, lại khéo sa vòng tục luỵ như những câu chuyện về điện vinh danh của Pháp? Cứ như vậy lại có khi vừa lòng ông. Chuyện thăm mộ Nguyễn Du, thăm nhà và mộ Nguyên Công Trứ tôi sẽ kể sau, nhưng thật là một nhận định của người trí thức chân chính và hết lòng yêu vùng đất con người bản xứ-nhất là khi bạn đến thăm khu di tích Nguyễn Du sẽ cảm nhận thấy điều nhận xét ấy xác đáng thế nào.

Kỷ niệm về ngôi đền cuối là một kỷ niệm ngọt ngào mà lâu lắm tôi chưa gặp lại được như thế. Ở giữa Thanh Hoá và Ninh Bình, có một đoạn đường một chiều là dốc, một chiều là hầm (tự nhiên quên mất địa danh). Bên đường có đền Rồng, tương truyền là nơi thờ vua Quang Trung do sự tích họp quân trước khi ra Thăng Long năm Kỷ Dậu. Nhìn từ ngoài thấy sặc sỡ, lại nhiều bà nhiều cô cậu lúc đi đã chả muốn vào. Lúc về tự nhiên ngó thấy có bảng đề có đền Mẫu Thoải ở sâu bên trong, thế là hai bác cháu bảo vào thăm cho đủ ba bà!


Đi một quãng ngắn thì đến nơi. Ở đây chả có ai để ý đến. Nói thế nào nhỉ, lúc ấy là gần 11g trưa. Trời nắng đẹp, ấm áp. Trời xanh cao rộng rãi, mây trắng vụn phiêu dạt. Thế mà len qua một quãng đường đất có hàng cây bụi hai bên, ven theo dòng suối rộng đến chân một vách núi dựng lại có một ngôi đền nhỏ bé, nép mình. Có cây đại già cổ kính rải đầy hoa trắng. Yên tĩnh. Mát lành. Quay ra bờ suối nhìn thấy dòng nước trong vắt, êm đềm từ trong hang nhỏ lan ra cả một vùng. Đáy suối là cả một tảng đá nguyên khối phẳng lỳ rộng dễ có đến hàng trăm mét vuông. Ngọt ngào nhất là mấy bông thuỷ tiên trắng phớt vàng đương độ lơ lửng trên mặt nước trong trẻo. Tất cả rất yên lặng. Bất ngờ một con rắn nước từ bờ thấy động trườn vào suối làm mặt nước rung rinh xao động. (Tôi đùa là mẫu ra hỏi thăm hai bác cháu!)


Một lúc sau ông từ đến-gọi thế thực ra chỉ là một người trông coi vì ở đây ít người đến cúng kiếng, tất cả ở ngoài kia). Ông mở cửa cho chúng tôi vào thắp hương. Nội điện quá nhỏ và cũ kỹ chứ không cổ xưa. Nhưng thật bất ngờ, ba bức tượng thờ thì lại đích thực là tượng cổ. Phong cách điêu khắc khuôn mặt rất đặc trưng, hơi thiên về tả thực và phúc hậu. Màu sơn thiếp cũng đặc trưng, dịu và có màu nâu nhạt, sâu, bóng. Tự nhiên tôi thấy được an ủi cho cái vẻ ngoài quá cũ kỹ của ngôi đền.


Quay trở ra nói chuyện với người coi đền. Hoá ra ông chỉ bằng tuổi bác đi cùng mình mà hai người trông như hai thế hệ! Thực quả là con người ta có mấy loại tuổi: tuổi trời giao cho mẹ cho mình thì bằng nhau, nhưng cái tuổi sinh dưỡng đã khác nhau rồi cái tuổi xã hội lại càng khác nữa. Tôi đã thấy cả một hậu cảnh cho cái buổi trưa hôm ấy, nhưng nói làm gì nhiều, đời người còn do duyên nghiệp.


Có thể rồi ai đó sẽ đến hay đã qua và thấy khác tôi. Nhưng tôi cũng biết vậy và cũng chưa hề có ý định quay lại. Cái trong tôi còn vang vọng, ảnh không kể hết được, chỉ có thể khơi gợi ra. Một buổi trưa rộng rãi, trời xanh, mây trắng, nắng hanh hao. Một quãng đường trường, một hàng cây bờ suối.


Cả cái câu chuyện có phần rời rạc, se sẽ trong một bầu không khí khác, xa xa văng vẳng lại tiếng xe cộ thảng hoặc...


2.

Bài viết cũ. Hôm nay muốn đọc lại. Nó là bài viết hầu như đầu tiên của tôi trên thế giới mạng. Kể chuyện hầu như đầu đời về công việc lúc ra trường. Định hình nên một cách sống, cách làm và một lối nhìn đời.


Có những câu văn hầu như lặp lại. Có những tâm tình vừa viết ra đã thấy giống như là chứng déjà vu. Một quãng đường trường, một quãng đời, hay chuyện nhân gian cứ đến rồi đi thao thức mãi vẫn chỉ là bấy nhiêu?


Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Ghi chép dọc đường - Quảng Nam. NDHCTCM.2.

3.
Những bận nào Trà Linh qua Đá Dừng Hòn Dựng
Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược Khe Rinh
Bao lần anh cùng chúng em lận đận
Bôn ba qua rú rậm luống rùng mình


Hoá ra Tam Kỳ là một thị xã nhỏ đang phấn đấu thăng cấp lên thành phố. Thành phố thì mọi thứ cần to hơn và điều dễ nhận thấy đầu tiên là tất cả các trụ sở của Tỉnh ở đây đều được đặt trong các khuôn viên rộng rãi đến loãng cả không gian. Cả thị xã là những lô lớn rộng thênh thang với những con đường trồng toàn cây trứng cá. Loại cây này là một sai lầm sơ đẳng về nguyên tắc trồng cây xanh đô thị: những quả trứng cá chín rụng be bét trên vỉa hè loang lổ những vệt nám đen xạm cùng với lũ côn trùng khiến cho ta chỉ có thể nói về cảm giác đó bằng một hình dung từ "nhớp nháp".

Ở trong này vào quán thật khó để kiếm được món rau xanh như ngoài Bắc. Có thể trước hết là tại khí hậu, thổ nhưỡng, sau là tại đã thành văn hoá luôn rồi. Lạ là bia lấn át rượu một cách tuyệt đối. Lạ nữa là mọi người ở đây đều bảo làm quái gì có rượu Hồng Đào. Ừ cũng có thể rượu hồng đào chứ không phải rượu Hồng Đào mới là chưa uống đã say.

4.
Sở TM&DL QN lúc đó mới được thành lập, trụ sở còn chưa kịp hoành tráng như các sở khác. Hoá ra ông giám đốc Sở là một người dân dã và dễ mến. Ông hào hứng với việc sẽ xếp được lịch để cùng đoàn đi khảo sát toàn bộ cung đường HCM mới mở đi xuyên qua tỉnh QN. Như vậy là sẽ đi khoảng đâu chừng bốn năm trăm cây số đường miền núi. Sẽ qua một vài cung đường còn chưa chắc chắn là có đi được không, nhưng tất cả xác định là cứ đi đi đã.

Chuyến xe chính thức khởi hành từ 5 g sáng và người cuối cùng được đón là một vị khách đặc biệt mà ông GĐ rất quý mến muốn mời đi cùng. Một nhạc sỹ, nhà báo, nhà phê bình chuyện chưởng, nhà nghiên cứu...nói chung là một giáo sư biết tuốt. Suốt chặng đường dài nhờ giáo sư mà chuyến xe luôn đầy bộn những câu chuyện trên trời dưới bể. Ông nói nhiều và nhanh, như thể sợ rằng người ta sẽ không kịp nhận thấy hết tất cả những vốn liếng kết giao giang hồ chốn văn nghệ sỹ, những sưu tập ngóc ngách giai thoại anh nọ bác kia của trí thức miền Nam. Thực lòng tôi cũng chẳng thành kiến gì những chuyện này, nhưng ta sẽ thấy ngao ngán khi nhận ra rằng hoá ra lại cũng có cả những mô tuýp phong cách cho những nghệ sỹ phủi, trí thức bụi. Tình cảnh chẳng khác gì việc phải đi ăn hai cái đám cưới cùng một ngày cùng một lúc tại hội trường kia và lại cùng một anh MC nọ. GS Biết Tuốt thực ra cũng chỉ tám những chuyện vô thưởng vô phạt kiểu trích dẫn "cộ xe nhiều cũng cửng như hươu" nhưng ông bị tâm trí tôi đề kháng vì vô tình ông là ví dụ điển hình cho cái tâm thế du hý văn hoá dễ dãi mà tôi đang muốn vượt qua ngay từ lúc khởi hành. Từ đây ông sẽ đứng bên lề câu chuyện của tôi, nhưng dẫu sao ông cũng đã góp phần tạo nhân duyên cho một không khí, một cuộc du hành của tâm trí.

5.
Em nhớ hay không? hồn hoa dại cỏ
Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya
Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ
Gió cây rung trút lá mộng tan lìa

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Ghi chép dọc đường - Quảng Nam. Nghĩa địa hoang cháy trong chiều muộn. 1.

Không thích kiểu đặt gạch này nhưng muốn ép mình viết đôi điều về Quảng Nam-một vùng đất khởi đi từ BG, lòng tôi vương vấn nhiều tình cảm. Mỗi lần muốn viết, lại thấy trong mình còn thiếu vắng hụt hẫng điều gì đó không làm rõ ra được.
-------------
1.
Quãng năm 2003 tôi ghé Quảng Nam chừng 01 tuần trong khuôn khổ chuyến đi công việc một loạt các tỉnh phía Nam. Nội dung làm việc ở QN là khảo sát thực địa để lập QH du lịch toàn tỉnh. Vậy là tha hồ đi dọc ngang một vùng đất, hàng nghìn km trong vài ngày. Nơi nào đẹp, còn hoang sơ có tiềm năng (nhưng chưa) khai thác ta tới xem chơi. Món gì ngon lạ (thiên hạ chưa biết) ta nếm thử :) Tiền có nhà nước trả, đường có người trong ngành dẫn đi - hỏi còn tiện nghi nào hơn. Riêng những đặc điểm này có thể coi là xứng đáng để trừ vào 8 tháng mài mòn con người trong môi trường quốc doanh được lắm thay.

Từ trước chuyến đi, chúng tôi đã hồ hởi tìm kiếm tài liệu, tra cứu bản đồ để lên một lịch trình, những chỗ phải đến, những thứ chắc là phải xem...Những thao tác không khỏi hình thành trong tôi một mường tượng sơ khởi về vùng đất này. Ngày đó tôi mới đọc một tác phẩm duy nhất của BG là cuốn "M.H và Tư tưởng hiện đại". Tôi có cảm tình với ổng và biết ổng là người QN nên không khỏi hồi hộp về việc mình sẽ ghé qua Duy Xuyên xem đàn bò trên đồi sim chín ra sao.

Nhưng tôi cũng giữ cho mình một khoảng hờ hững để khỏi thất vọng: không có gì là nhất thiết cả, hãy để cho mọi khả năng đều có thể đến. Hơn nữa chuyện quê hương xứ sở tôi vốn coi chỉ là câu chuyện một dòng sông, chúng ta chỉ cần coi trọng một căn cước chung là thân phận con người-những con người luôn hoài hướng về một quê hương không biết ở đâu. Gói ghém một nhân cách như BG vào một địa phương là chuyện có cũng được, không biết lại càng hay; tôi nghĩ vậy và tôi đã khởi đầu chuyến đi bằng tâm thế của một người dưng lang thang.

Đã hơn 6 năm nhưng trong tôi, sau tất cả những gì đã trải qua, vẫn cảm thấy mình đã lạc lại đâu đó ở vùng đất ấy. Có lẽ chính vì vậy mà chưa bao giờ tôi thực sự cảm thấy có thể kể liền lạc về Quảng Nam, về một buổi chiều hoang tàn đến thê lương trên đập Vĩnh Trinh năm xưa. Thực ra mà nói, cũng chẳng có gì để nói. Chỉ là tôi nghĩ sẽ không tái hiện được chính xác những gì tôi đã trải qua. Và trong chuyến đi miên viễn của tinh thần, chưa bao giờ tôi muốn kể lại nó chỉ như là một câu chuyện mua vui. Vậy đây có lẽ cũng lại là một chuyện có thể dài mãi mãi nào đó đôi phen ta kể lể như là chỉ để chính ta nghe.

2.
Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự
Chỉ yếu Đàn lang nhận đắc thanh.

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2007

Lang thang trong thành phố

Entry for June 15, 2007

Đểu thật! Mình từ lâu rồi mất ý thức về thời gian. Không ngày tháng, không giờ giấc. Chỉ còn lại là những việc gì đã làm và nhớ được. Vấn đề là ở chỗ: đó là thời gian của riêng mình. Mất hết tương quan với xung quanh. Như hôm trước, đang định viết là hôm qua mới sực nhớ đó là hôm kia đã có một kinh nghiệm trở lại với mình. Làm kẻ lang thang vật vờ vô định. (Mà thực sự ở giai đoạn này khi mà không bạn bè, không đồng nghiệp, không thân thích - không một mối liên hệ thân tình đơn giản nào cả thì chẳng đích thị là thằng lang thang à?)

Gửi xe ở Bưu điện Bờ Hồ rồi bước qua đường tìm một cái ghế đá để ngồi. Thực ra thì thích ngồi bên kia hơn vì view nhìn xa vắng hơn, lại tránh được nắng hướng Tây nhưng rốt cuộc ngại đi xa quá mà vẫn ở bên này. Khó mà kiếm một cái ghế nào trong bóng râm lại chưa có ai ngồi. Giải pháp trung hoà: một chỗ có nửa phần ghế dưới bóng liễu lưa thưa. Như vậy hơi nắng nhưng có cái mũ bán kem với lại đeo cái kính mát nửa mùa vào là trời đất nom rất tuyệt. Như vậy cũng sẽ không có ai mon men lại gần xung quanh nữa - trời nắng mà. Huống hồ hẳn mình nom rất giống một thành phần khó tả, đại loại không nên dây vào.

Giờ phải lùi lại chút nữa, tức là vào khoảng gần 1g trưa hôm đó. Phố Tôn Thất Thiệp có lẽ là cái phố có tên phố ngắn nhất mà mình biết (ngoại trừ Hoả Lò xem ra không nên gọi là phố nữa). Có cả thảy 6 số nhà là hết một dãy phố. Nó nằm kẹp ở gọng kéo Điện Biên Phủ với Trần Phú. Mình tò mò phi xe thẳng về phía cuối đường, vắt ngang qua Trần Phú thì nó thành một cái ngõ. Chợt nhớ ra có lần bác Dung dẫn mình đến chơi nhà ông anh trai của bác ở bên Viện Lịch sử Quân đội, trong một cái chung cư trong ngõ này. Đi tiếp vào một khu có vẻ là phía sau của khối cơ quan quân đội hay Đảng Đoàn gì đấy. Thích cái sự vắng vẻ giữa trưa của nó. Đi nữa hình như đâm ra Lý Nam Đế. Thế là hết bí mật rồi nên quay lại. Đi xuôi Điện Biên Phủ về phía đường Hùng Vương. Hôm đấy là một hôm trời rất đẹp, trong xanh, mát mẻ dù đang giữa trưa. Lòng mình thì thảnh thơi vô hạn vì đã ghép mình vào một công việc rồi nên không bận tâm những việc khác nữa. Giờ đấy lại là khoảng thời gian hoàn toàn tự do của mình. Làm gì với nó bây giờ nhỉ? Xe trôi lãng đãng trong bóng cây xanh rì và đường thênh thang. Đi qua chỗ Cột Cờ, thấy quán Cafe HighLand yên tĩnh bên dưới chân tường rêu đổ là trong đầu thoáng nhen lên tưởng tượng ngồi một mình trong đó nhâm nhi Capuchino nghe tiếng trưa yên tĩnh. Nhưng vẫn không dừng lại được. Ngày hình như còn gì đó phía kia. Thoáng nhớ lại cuộc tranh luận về nên-không nên có kiểu khai thác di tích lịch sử như cái quán kia. Nên đấy chứ. Đừng cứng nhắc và đơn giản hoá cuộc sống như thế chứ? Chỉ miễn là cái chỗ đấy phải giữ cho người ta cái cảm giác đang ngồi dưới bóng và bên cạnh chân tường của quá khứ. Khoảng cách và độ vênh sẽ tạo ra thế năng để người ta sẽ thêm vào phần suy tư về quá khứ bên cạnh suy tư về chính mình...

...Rồi rẽ đi ra đường Hùng Vương. Không gian lồng lộng cây xanh và trời cao. Vang vang tiếng trưa hè. Làm mình tưởng như đang đi giữa tuổi thơ. Không có ký ức cụ thể nào được gợi lại, nhưng chắc bởi vì ngày bé thì bao giờ mùa hè chả là lúc mình ở HN với mấy cuốn sách thiếu nhi và một cái gác xép nhỏ? Bấy nhiêu đủ để biến thành vĩnh viễn rồi.

Đi qua đền Quán Thánh, dọc đường Cổ Ngư. Mấy cái quán bánh ngọt chòi ra ven hồ lại chen vào mắt mình. Nhớ lại ý định hồi lâu lắc muốn viết báo nhắc nhở về chuyện này lại thôi. Sau đấy khoảng nửa năm hình như cũng có người làm rồi. Nhớ sang chuyện mấy cái công viên của Hà Nội giao cho tư nhân làm. Người ta phải phân biệt rõ ràng mọi chuyện chứ? Phải biết đứng từ chỗ nào mà lựa chọn chứ? Những điểm cây xanh mặt nước như thế này của thành phố HN phải nhìn từ góc độ lợi ích của cả thành phố và phải quy chiếu về những 50 năm sau. Không gian thảng đãng còn lại hiếm hoi của HN nằm trên con đường này có nên để so sánh với cái lợi ích và trách nhiệm nhân danh công ty khai thác Hồ Tây? Mấy cái công viên của HN cũng vậy, bảo là chưa hiệu quả trong khai thác nhưng cái cách người ta làm tăng hiệu quả mới thật đáng ngờ. Thô thiển. Mình gặp quá nhiều những dự án kiểu ấy rồi. Chẳng thằng điên nào chịu nghĩ cho cộng đồng trước khi tính xong bài toán cấu véo yên thân của nó đã. Luôn luôn có kiểu lý luận đa dạng hoá chức năng, xã hội hoá hoạt động đầu tư...bala..bala..5-10% đất công viên làm đất văn phòng chẳng hạn, có chết ai đâu...Mịa, ngày thằng Vincom làm dự án toà nhà VC chắc nó cũng đâu có nói nó sẽ chặt mấy cái cây cổ thụ để nhét vào mấy cái cây cau vua quê mùa dơ dáy ấy? Bản thân cau vua thì đẹp, tý nữa đi qua dốc Bác Cổ mình sẽ xác nhận việc đấy, nhưng chúng nó không biết rằng đẹp hay sang trọng gì nữa - nó là do tương quan và bối cảnh. Nếu chỉ vì cái chỉ tiêu mấy m2 cây xanh một đầu người thì chẳng ai cần đến khoảng không gian công viên làm gì! Thay nhau ra gốc cây bên đường mà đứng là được rồi! Con người ta cần một ảo tưởng về sự đơn độc nhỏ bé giữa sự vô tận của thiên nhiên chứ không phải vài gốc cây được sơn tỉa. Thế mới nói cái quy hoạch quận Tây Hồ và vùng ven đê sông Hồng là một sự thiển cận và lãng phí rất lớn. Lãng phí cái hồn vía của một nơi chốn mà cái giá phải trả là sự ngợm hoá của người đô thị. Chuyện trên còn một vấn đề nữa - đó là có những phạm vi không thể thoả hiệp, những nguyên tắc quản lý một đô thị không bao giờ được vi phạm.
...

Có một con đường mà nếu kể ra chả ai dễ đồng ý với mình là nó hay. Nhưng mình lại thấy nó rất hay. Mình thích :) Nó là đường Yên Phụ, không phải hình như cuối đường Thanh Niên rẽ trái thì đã gọi là đường Trần Quang Khải rồi hay sao ấy. Không quan trọng. Ý mình là đoạn đường đi từ khách sạn Sofitel đi qua nhà máy nước Yên Phụ ấy. Nó là đường vành đai, mọi thứ lôm nhôm-nhất là phía bên ngoài đê. Nhưng với mình chỉ cần đoạn ngắn quãng nhà máy nước, trường Mạc Đĩnh Chi...tức là phía bên phải đường theo chiều đi về cầu Long Biên là đủ. Có cái nhà gì cũ từ thời Pháp có đế tầng trệt rất to ấy, bên cạnh người ta bán bia hơi. Nó làm cho mình có cảm giác đang đi qua 1 chỗ không bao giờ thay đổi. Thấy mình đang đi trong thời gian. Thế thôi thì chưa hết ý. Nó còn liên quan đến nhịp điệu và tương quan cảm xúc của mình trên toàn chặng nữa.

Quay lại đoạn trên 1 tý. Thực ra những ý nghĩ có phần gay gắt kia chỉ thoáng qua như gió thổi. Vì chỉ là nhớ lại. Nhìn sang phía hồ Tây, thấy phục những bạn trẻ đang đạp thuyền Thiên Nga giữa nắng buổi trưa thế kia. Có những thứ mãi mãi chỉ xảy ra 1 lần, không bao giờ lặp lại. Mình vẫn thích bơi thuyền trên Hồ Tây, để cảm nhận sự lãng đãng vô biên trong một chiều sương bảng lảng nào đó ngày xưa. Cũng như lúc nhìn quán cafe Highland bên hồ kia, thoáng muốn lên cao ngồi nhâm nhi buổi trưa với nắng lấp loá và nước lóng lánh. Lại nhớ buổi chiều vô sự năm nào cùng với anh Phát phóng xe vào khách sạn Thắng Lợi để ra bar sát mép hồ ngồi khám phá ra 1 hồ Tây khác như cổ tích. Nắng 9g sáng xiên xiên trong trẻo hắt lấp loá những vẩy bạc. Chiếc thuyền đi cào ốc ngược sáng xa xa như là thuỷ mặc. Hà Nội nhìn phía này không thấy nhà cửa, chỉ xanh rì một dải xa xăm. Vắng lặng đến nghe rõ tiếng nước vỗ bờ oàm oạp.

Đến cuối đường Cổ Ngư có 2 lựa chọn. Rẽ trái là đi về quá khứ một thuở. Thuở yêu đương da diết, thuở mơ mộng trong sáng mà khao khát run rẩy của tuổi trẻ. Ngày xưa mình thường hay một mình lang thang về phía đó. Ra phủ Tây Hồ, hay chỉ vào chùa Linh Ẩn có khi chỉ là đi dọc con đường thông. Đường Xuân Diệu có cái quán T&C mà dịch ra là Thanh Cảnh cạnh đại sứ quán Argentina ngày trước thường ra đó buổi tối uống bia Ken với thử món mì spagheti lạ lẫm. Ở đó trốn được những bạn bè đã quá nhẵn mặt các quán xá HN. Ngày đó bên cạnh còn là vườn cây chứ không phải là quán lá loi choi như bây giờ.

Nếu đi ngoài đường Lạc Long Quân thì lại nhớ những chiều cuối năm mưa rét đạp xe lang thang xem đầu sông cuối bãi. Ngóng gió ngàn và thơ thẩn tìm lại dĩ vãng mù xưa. Làng nhỏ ven đê lô xô mái ngói như đường về quê nào từ tiền kiếp. Nhớ lần đầu ra tận bãi cát ngoài đê, uống chén rượu nồng trong cái chòi cheo leo sát mép nước ì oặp trong gió lạnh căm căm và mưa lất phất. Quán nhỏ bán mấy thứ lăng nhăng cho những người bốc vác ngoài đê. Chủ yếu là làm cát. Nhớ những chiều cuối năm ra thăm cánh đồng hoa đào. Đi như là Liêu Trai. Nhớ nếu cứ đi thẳng mãi, qua cả gầm cầu Thăng Long là sẽ đi lên Chèm. Tên cổ như nhắc lại một dĩ vãng cổ kính, cái gì đó bị quên lãng và ít thay đổi. Sẽ đi qua một cái đình nhỏ nằm sát mép sông Hồng ven bờ đê bên tay phải. Đẹp và xa vắng. Cũng sẽ không dừng lại. Đi mãi đến một khúc quanh để qua một cây cầu sắt nhỏ, rẽ về phía sông, ra bờ đê để ngó ngã sông nước mênh mang. Có căn nhà bé tý sơ sài bên ngoài đê giữa những luống màu. Ôm em thật chặt và hẹn nhau hay là về đây cuốc đất trồng rau cho yên tĩnh :)) Đứng từ đây lại nhớ cứ ngược theo dòng sông mãi nữa là sẽ qua đoạn Kẻ Gỗ năm nào khi mình đạp xe lên thăm mấy người thợ hồ đã cùng dựng cái quán Khoảnh Khắc năm xưa. Trong nhà mình, trên vùng đất của mình, mời bạn chén rượu họ lại thấy tự tin và sảng khoái như từ muôn thuở...

...Bây giờ chỉ rẽ phải. Đèn xanh chỉ hướng nhấp nháy, không biết có được rẽ luôn không. Kệ cứ đi ào đi. Qua chỗ đường thấp ngang trường Mạc Đĩnh Chi lại nhớ năm nào hay lang thang theo xe buýt đi đến tận bến cuối, rồi lại đi bộ dặt dẹo ở khu này. Có cái lần ngồi uống nước chè ở phố gì văng vắng phía sau cái trường này. Hình như không phải Hoè Nhai. Cũng chả tìm. Đi ngang qua đầu phố Hàng Thùng rồi. Nhớ phố này có quán cafe Tùng Hậu có tranh mà đã có lần cùng bạn Thuỵ Vũ nhắc đến. Nhớ cơn mưa bất chợt phải ghé vào tránh mưa. Có bạn, có em. Ngoài ra chưa rủ ai vào đấy nữa thì phải. Bây giờ thì cũng đến 3-4 năm không uống cafe rồi. Tệ nhỉ?

Dốc Bác Cổ. Cái miếng đất tam giác trước bảo tàng Lịch Sử thật đẹp. Gửi xe vào chỗ Bưu Điện Bờ Hồ xong vốn định tìm bà bán nước chè ngồi ngay trên bậc tam cấp nhưng không thấy. Chắc là bị đuổi rồi. Sang đường. Ngồi vào cái ghế đá. Hơi khó nhìn thấy cái tháp Rùa.

Buồn cười thật. Họ cắm những cái đèn hắt ngược vào thân tháp tua tủa bốn xung quanh, cao hơn cả cỏ. Biết là buổi tối nhìn hiệu quả nhưng có nhất thiết phải thô lỗ thế không. Cái Tháp Rùa này, thậm chí còn không được như cái cầu Long Biên nữa, vốn không đẹp để phân tích, không có ý nghĩa lịch sử để kể lại. Nó chỉ đơn giản là cũ kỹ, ở đó, một mình một thế giới, làm chứng nhân cho đổi thay của Hà Nội. Ai không có tâm trạng với thời gian, dĩ vãng của thành phố này thì sẽ bật cười cho cái thái độ hâm mộ của người Hà Nội với nó. Nó ở đó. Dường như bị quên lãng nhưng không thể thiếu được. Một ngày, nếu một ngày ai đó đi qua và thấy không có nó ở đấy nữa hẳn người ta sẽ đau lòng lắm. Và hơn thế, với nhiều người nó là một thế giới cận kề đấy mà không với tới được. Cũ kỹ, hoang phế như cất giấu giấc mơ tuổi thơ. Chứ không phải hòn ngọc lấp lánh trong đêm đâu Hà Nội ạ! Giá như chỉ là một ánh đèn vàng vọt từ trên cao chiếu xuống trong đêm. Nó sẽ có bóng. Bóng hắt xuống một khoảng tối cho lịch sử và huyền thoại toả phủ. Cũng đừng đếm xem có bao nhiêu Rùa Già trong Hồ thì hơn chứ Hà Nội nhỉ? Phải bí mật chứ. Chỉ cần giữ cho nước lại trong xanh là tốt nhất rồi. Dưới đấy, dưới đáy hồ, bên dưới rong rêu có cả hơn 1000 năm sự tích đấy. Từ hồi Hồ còn ở ven rìa Kinh Kỳ, soi bóng chùa cổ xưa cơ.

Mây trắng thỉnh thoảng giãn ra như tơ. Li ti. Trời xanh biếc. Mùa này lá cây xanh ngăn ngắt. Bóng loáng, sức sống xôn xao rướn mình lên trong nắng. Có vẻ hơi ồn ào Lá ạ. Thường nếu không kể các cụ hưu ra ngồi chờ hết ngày thì Hoàn Kiếm chỉ đơn giản dành cho các bạn tỉnh lẻ đến thăm thú. Lang thang và chụp ảnh. Các bạn Tây ghé qua. Ngồi 1 chút. Cười cười hơi bỡ ngỡ với Hồ rồi đi mất. Thế là cũng có lần mình thức trắng đêm ở đây rồi đấy. Bạn tỉnh lẻ thứ hai kia giờ đang lãng đãng tận Điện Biên cơ. Tết lại một mình một xe phi về thăm quê. Một trai hỏi mình cái gì đấy. Quay lại hoá ra bạn mời mình ký hoạ lấy ngay. Có một cái bảng vẽ A3 với mấy tờ giấy Việt Trì. Trông bạn không trẻ nữa lại ít dáng nghệ. Buột miệng từ chối theo phản xạ. Bạn có vẻ gì hơi rụt rè. Không biết bạn có phải sinh viên không nữa. Nếu là hồi năm nhất năm hai chắc hẳn mình cũng sẽ rất tự hào nếu như đấy là một việc làm thêm. Nhưng bây giờ thì...bạn làm mình nhớ đến câu chuyện mấy ngày nay ám mình mãi. "Bên lề xã hội" - thuật ngữ dành riêng cho nước Pháp, có lẽ cho những vùng ngoại ô. Không cùng khổ, nhưng ở bên lề của xã hội. Ở bên lề.

Bất giác mệt quá, mình muốn nằm xuống. Ờ nhỉ, tại sao không? Ôi chà, mắt không bị chắn tầm nhìn nữa thoải mái quá! Như đang nằm trong vườn xưa yên ắng. Lâu lắm rồi mới thanh thản chờ xem được những đám mây biến hình. Ô ngày xưa. Ngày xưa lít nhít chục đứa trèo cành xoan đầu hồi thi xem ai tìm được hình con gì giống nhất...

Toét! Toét! Thổi ai thì phải? Hoá ra chính là mình. Không được nằm trên ghế đá. Phải ngồi. Đây là trung tâm thành phố. Phải có quy tắc nào đó thôi. Thì thôi vậy.

Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn

Hôm nay khai hội chùa Hương. Lục bài viết cũ kể chuyện lang thang cũ. 5 năm rồi. Lại nhớ câu thơ của Vũ Hoàng Chương

Thôi rồi ra chốn nước non

Lòng son lại để xổ con chim trời
Thú hồ bể quyến mời du tử
Niềm thê nhi khôn giữ được người
Biết sao trái được tính trời
Giang hồ cốt ấy trọn đời phiêu linh.
Ngày xưa hay nhớ mấy câu kiểu "Cực nhân gian chi phẩm giá phong nguyệt tình hoài/Tối thế thượng chi phong lưu giang hồ khí cốt"; "Cảnh vô sơn thủy phi hùng tráng/Nhân bất phong sương vị lão tài"; "Thiên mã hành không, độc vãng độc lai"...Bây giờ mình không phải là đang lang thang sao?

Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ
Liễu ám hoa minh hựu nhất khai.

---------------------------------


Dòng sông trắng và bờ sông cũng trắng
Một vệt người
vô vọng
ngó thời gian.
Và họ chết.
Không còn lạnh nữa.


Lửa bồi hồi trong tim nến
Đêm nghẹn lời nhắc lại một ngày xưa
Rất mơ hồ tôi bắt gặp tứ thơ
Câu chuyện cũ tưởng như không hẳn thế
Tự luân hồi ta đã hẹn mai sau
Em sẽ khóc và sương và giá lạnh
Tôi sẽ đàn và lại hát vu vơ
Bài thơ buồn sẽ tan loãng theo sương
Trăng nhắc nhở bằng màu trăng dịu mát
Tôi tự buồn rồi tôi sẽ tự vui

Ừ -thì sương thì trăng thì chiều hôm nắng nhạt
Ừ -loang chiều là một mái chèo xuôi
Ừ -kỷ niệm, ngày xưa là kỷ niệm

Bây giờ, em nhớ ngày xưa
Bây giờ, tôi nhớ ngày xưa

Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Vịn câu thơ








Hương Sơn.

Lần đầu tôi đi Hương Sơn là hồi bé tí, còn nhớ lại là một ngày xuân mưa gió, một quang cảnh bến Đục đầy bùn, con đường trên núi mơ hãy còn chìa ra sát lề đường...đủ để làm được một bài văn kể chuyện về một chuyến du lịch sau này được cô giáo khen là viết đúng vì đã có chuyện đi đò trong khi lũ bạn thì chỉ bịa...
Một nhóm bạn rủ tôi đi Hương Sơn vào một ngày chủ nhật cuối năm. Hôm ấy là vào ngày rằm cuối năm, nhưng lại vào chủ nhật nên hầu như khi chúng tôi vào đến Thiên Trù thì cũng chẳng có đoàn khách nào khác. Tất cả có mười người, quyết định đi lên núi luôn rồi mới tính chuyện nghỉ lại ở đâu. Chỉ nhớ lúc lên núi nghiệm được bí quyết đi rừng là thong thả, nhẹ nhàng, thăng bằng lại là được việc nhất. Ngày ấy tôi đang trải qua một giai đoạn lạ lùng với chính mình vì chưa bao giờ như thế cả-cái tâm trạng của những năm đầu của tuổi hai mươi. Khi mà tự nhiên tôi thấy không còn có thể định ra được rõ ràng điều gì là tối quan trọng nữa. Tôi vẫn có thể cố gắng đạt được mọi mục tiêu như mọi người nhưng bỗng nhiên tôi thấy nó không hiển nhiên, nhất thiết và chung cho mọi người như trước kia nữa. Ngày trước chỉ lo đi học, giỏi hơn, giỏi nhất ở đâu đó, rốt cùng là đỗ đại học, thế thôi. Bây giờ có một điều gì đó thôi thúc mà không cụ thể được đó là gì. Giờ thì tôi gọi nó là mong muốn có được một lẽ sống để mình có thể tận lực máu xương trong ấy...nhưng trước kia nào tôi có thể rõ ràng thế được. Cũng chưa bao giờ biết tới văn chương hay triết lý hiện sinh gì cả nên cũng đỡ được nhiều cái mũ không cần thiết sau này-duyên nghiệp thường làm tôi có cái may mắn (hay là không may?) là mọi điều rất cũ kỹ với mọi người do đọc mà biết thì với tôi lại là rất vừa vặn khi đã trải qua rồi mà biết được lại có ai đó cũng thế...Phật giáo với tôi lúc ấy chỉ là một thứ mê tín vô hại của bà của mẹ...cho dù đã được lướt qua khi học lịch sử triết học. Triết học chỉ dành cho một thế giới hâm hâm khô khan...Tôi đọc nhiều với bất cứ cái gì vớ được chỉ là một thói quen ham mê nghiện ngập hơn là một chủ ý học tập...Vì vậy lúc lên núi thì tôi đang là vậy, chỉ cảm thấy rất bị thôi thúc vì một nhu cầu nội tâm, một sự bất an mà không ý thức rõ được (ngay cả cách diễn đạt này cũng chỉ là của bây giờ thôi). Cảnh vật nhẹ nhõm trong một buổi sáng khô ráo trong lành. Chúng tôi ghé qua chùa Giải Oan thăm thú. Có một chú tiểu khoảng ba mươi chào đón rất niềm nở. Chú mượn cây đàn ghi ta và rủ mọi người cùng hoà theo một câu niệm Phật. Chúng tôi chỉ nhìn lạ lẫm mà không thể làm theo được, hơi ngài ngại...Một quãng nữa lên đến Cửa Võng có một quán hàng nằm chìa ra mé núi, chúng tôi quyết định nghỉ ăn trưa ở đó. Ngày thường thưa khách nên cô chủ quán rất vui vẻ nhẹ nhàng, nói chuyện một lúc thì quyết định sẽ ngủ lại ở đó tối nay... Buổi trưa trên núi yên tĩnh, trong lành.
Hương Sơn. Sau này tôi còn nhiều lần ghé qua cái quán nước ở chỗ đền Cửa Võng ấy, vì đã thành quen thuộc và ở đây tôi có thể ở lại bao lâu tuỳ thích mà chẳng phải băn khoăn gì. Nhà cô Nhật và chú Biên cũng ở trong làng Yến, nhưng quanh năm luôn có một trong hai người thay phiên nhau ở lại trên núi trông hàng, lên núi lần nào cũng gặp cả. Con Nít giờ không biết còn không, ba năm trước nó đã già lắm và lứa con thứ ba của nó cũng đã là một con chó trưởng thành. Nhưng không con nào khôn như con Nít cả. Ban ngày nó quanh quẩn và như thể không đoái hoài gì nhưng ban đêm thì rất nhanh nhạy, và không lầm người quen bao giờ. Có hai lựa chọn để ngủ qua đêm, hoặc là trong nhà hoặc là trong vách đá phía sau quán hàng. Đây cũng là chỗ rẽ để đi vào Thung Mây. Ban sáng, thường có người đi nhặt củi hay đi vào tiếp tế đồ cho người nhà trong Thung Mây ngang qua chỗ nằm. Nhớ lần đầu nghe tên Thung Mây là tôi và một anh bạn liền mê ngay và xin đi theo hai người có việc đi vào trong ấy cho đi theo. Một bà lão khoảng ngoài 60 và một đứa bé khoảng mười tuổi. Bà lão có nhà trong ấy, hai vợ chồng già ở với nhau, ông chồng là người dân tộc. Mấy hôm vừa rồi có việc ra ngoài làng hôm nay quay vào. Bà gánh khoảng 15kg gạo và các thứ linh tinh bằng một đôi quang gánh, tay phe phảy cái quạt nan-hôm ấy là vào giữa tháng 7, trời rất nóng. Cậu bé vào chơi với bố mẹ đang ở trong Thung Mây. Nhà họ ở ngoài làng Yến nhưng hai vợ chồng vào trong đấy khai khẩn làm vườn và nuôi tằm. Từ Cửa Võng đi vào Thung Mây mất khoảng 4 cây số đường rừng (?); người dân ở đây coi việc đi đi lại lại trong ngày là bình thường. Lúc ấy vào gần trưa, chúng tôi tính đi vào chơi cho biết rồi quay ra vào chiều tối.
Thung Mây-cái tên nghe gợi một thung nhỏ mơ màng trong hẻm núi, với vài nếp nhà và những vườn cây...Đoạn đầu đường khá bằng phẳng, chúng tôi ngỏ ý gánh hộ bà lão một đoạn. Nhưng đến khi bắt đầu gập ghềnh thì bà bảo để tôi gánh nếu không sẽ không đi nhanh được. Mà quả thực, dù mọi người gọi là đường mòn dễ đi mà trong khi cậu bé thì vừa đi vừa chạy nhảy, bà lão vẫn vừa quảy quang gánh vừa quạt phe phảy mà hai anh em chúng tôi thì dùng cả hai tay hai chân vừa vịn vừa bò mà vẫn luôn nơm nớp sợ ngã. Phần nhiều quãng đường là men đá tai mèo, lúc lên lúc xuống đều hơn 1m, sảy chân là tai nạn như chơi. Đất nhiều chỗ trơn trượt, cây lá rậm rạp. Tôi còn đỡ vì khi đi rừng luôn mặc áo dài tay, quần bò, giầy kín an toàn...còn anh bạn thì quen thói áo phông quần soóc nên tha hồ cho lá cứa nát chân tay...Rừng mùa này thì tương đối khô ráo, ít muỗi bọ, nhưng nói chung chẳng ấn tượng gì. Toàn là cây rừng thứ sinh, phần nhiều là cỏ dại cao lút đầu. Cũng chẳng có chỗ nào mà có tầm nhìn bao quát ngắm nghía cả. Cứ cắm cúi đi theo mọi người và hy vọng đến nơi mọi thứ sẽ thay đổi...Bất chợt được bảo là đã đến nơi. Thật là quá thất vọng vì đây rất nhỏ và không có gì đặc biệt. Nghe bảo đi tiếp nữa thì sẽ ra mạn đường đi Hoà Bình. Cảm giác thế nào nhỉ? Bạn cứ tưởng tượng như khi mình nghĩ mình đang ở một góc cùng tận của thế gian rồi bỗng nhiên nhận ra ở rìa mép nó vẫn là cái thế gian thường ngày kia. Cảm giác này còn thường xuyên đeo bám tôi những khi tôi toan tính núp mình vào đâu đó-sống dưới ánh sáng chói chang của mặt trời, trước đôi mắt trên cao của chính mình thật quá khó khăn và đôi lúc hoảng sợ...
Thung Mây. Hình như mỗi lúc tôi đang lơ mơ, ngộ nhận đâu đó thì lại có một duyên may cảnh tỉnh nhắc nhở tôi, giúp tôi nhìn được rõ hơn nữa. Khung cảnh ở Thung Mây là một sự thực chẳng níu kéo chút nào những ảo tưởng về một cái tên. Ở đây rất khô cằn, thiếu thốn. Chúng tôi vào nhà bà lão trước. Đấy là một căn nhà đất tuềnh toàng và rất bẩn thỉu. Một con chó mẹ và lũ chó con lê la trên mặt đất, ghẻ lở, ruồi muỗi. Phân của mấy con chó con thì gọi con chó mẹ vào dọn. Khó mà tưởng tượng được là vẫn còn những căn nhà như vậy nếu chưa bao giờ gặp. Trong khi tôi đang ở trong nhà nói chuyện thì anh bạn tí toáy bên ngoài. Bỗng nghe "Đoàng" một tiếng rất to và tiếng anh bạn la thảng thốt. Tôi lặng người, mọi ý nghĩ trống rỗng trong mấy giây. Tôi chạy ra ngoài. Anh bạn đang bưng mặt. Khói thuốc súng vẫn còn mù mịt và có thể trông thấy xạm khói đen trên mặt anh ta. Nghe tôi hỏi anh nói không biết hai mắt có sao không, nhưng rất đau nhức. Tôi thoáng hoảng hồn-khi còn sáng mắt hai tay hai chân còn chẳng ăn ai, bây giờ mà mù dở thì làm sao ra khỏi đây? Rất may rồi mọi việc đều không sao cả. Hoá ra thấy có cây súng kíp dựa ở hiên nhà anh ta tò mò ngắm nghía. Giương súng nhắm bắn rồi bóp cò vì nghĩ là không có đạn. Biết đâu người dân tộc ở trong rừng lúc nào súng cũng sẵn sàng để phòng những nguy hiểm đột ngột không lường trước. Thật là hú hồn, biết đâu nếu có ai cũng ở ngoài rồi lại ngắm vào nhau mà bắn doạ thì còn ra sao?
Căn nhà thứ hai của hai vợ chồng người nuôi tằm được xây bằng đá để trần. Nói chung mọi thứ đều rất tuềnh toàng tạm bợ, thiếu thốn. Họ cũng trồng vườn nhưng cây cối ở đây không mọc được vì đất cằn cỗi, lại thiếu nước. Họ đã vay một số tiền để vào đây làm ăn. Giờ chỉ còn hy vọng vào lứa tằm đang cuộn kén mà thôi. Mấy trái mít mật được bóc ra mời khách ăn thật khó khăn. Cảm giác ra về là một nỗi băn khoăn trĩu nặng. Không hẳn vì những khó khăn của mọi người ở đây nhắc nhở tôi về những gì mình đang có. Mà còn vì những dự cảm buồn nản về câu chuyện chệch choạc trong căn nhà đất. Nghèo khó luôn đi cùng với thiếu hiểu biết và thường cũng làm con người ta khô khan, thiển cận...Vẻ nhẫn nhịn cần mẫn của hai vợ chồng người nuôi tằm ít nhiều còn gỡ lại đôi chút hy vọng. Và đứa trẻ dù sao nó cũng không ở hẳn trong này...
Hương Sơn. Bữa trưa ở Cửa Võng diễn ra nhanh chóng với đồ ăn đã chuẩn bị sẵn từ trước. Thực ra lần ấy tôi đi Hương Sơn với một sự thờ ơ nhất định và chỉ váng vất đôi chút cảm giác xao động khi đi qua rặng cây thưa ngay đoạn từ bến đò đi vào cổng Thiên Trù thôi. Ngoài ra tôi phải vận dụng nhiều trí tưởng tượng để nghĩ về xa xưa khi rừng còn nguyên sinh và cái ngày mà lần lượt ba vị sư vô danh đến tu ở đây (bây giờ còn mộ tháp ở khu Thiên Trù). Đầu giờ chiều chúng tôi bắt đầu leo vào động chính. Lúc xuống cửa động nhìn mấy bậc thang cũ kỹ, trên còn ghi những dòng nguệch ngoạc từ những năm 1930, tôi chợt nhớ tới câu chuyện đi du xuân của nhóm Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính hồi đó. Họ thuê một chiếc thuyền, một đào nương, mang theo cả một con dê cột ở đuôi thuyền. Rồi xuôi theo sông Đáy (?) vào chùa Hương. Sau đấy là câu chuyện về xuất xứ bài thơ Em đi chùa Hương nổi tiếng và cả bài thơ cô hái mơ nữa, kết quả của buổi chiều lang thang một mình của Nguyễn Bính vào Thung Mơ. Thung Mơ ngày xưa hẳn là đẹp lắm...
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tất
Đó là câu niệm Phật mà sư Tri đã mời chúng tôi cùng hoà theo một hợp âm lúc ở Giải Oan. So với những người khác thì sadi này làm tôi có cảm giác thoáng qua là người có chiều sâu với cách ăn mặc đơn sơ bạc màu, chân tóc lấm tấm điểm bạc càng làm khó đoán chính xác tuổi...Chùa Giải Oan sáng hôm ấy sạch sẽ, nhẹ nhàng, nép mình bên vách núi chênh vênh, nhìn xuống thung lũng và con đường núi trước mặt. Những lần sau, tôi ghé qua đây như một nơi chốn quen thuộc, không phải để lễ bái hay hỏi kinh sách chi cả, chỉ đơn sơ như ghé thăm một người quen biết cũ, cốt để được ngồi ở chiếc bàn gỗ trên mé núi, nhấp chén trà mạn nhìn nắng buổi sáng bâng khuâng với vài bông gạo lẻ loi...Mỗi lần nhớ mấy câu kệ của chú, "Chén trà trong hai tay/Chính Niệm nâng tròn đầy/Thân và Tâm an trụ/Bây giờ và ở đây" thì tôi lại nhớ một buổi sáng cuối xuân đầu hạ nhẹ nhõm với mấy bông hoa gạo lác đác xưa...Sau này rồi bằng những duyên nghiệp nghi ngẫu tôi mới thấm hiểu cái diệu dụng của việc chiêm niệm danh hiệu của Quán Thế Âm bồ tát là như thế nào. Nhưng ngày hôm nay, liệu tôi chắc có thanh thản tụng được một lần câu niệm Phật đơn sơ ấy không, trong tâm an trú và buông xả?
Hương Tích. Bước xuống vài bậc thang đầu tiên vào một ngày vắng vẻ là bạn sẽ có cảm tưởng bước sang một thế giới khác. Dù là từ trên nhìn xuống miệng động như đáy của một cái giếng mà miệng của nó là tít trên đỉnh dãy núi vây quanh, cảm giác như nhìn xuống một thế giới khác riêng biệt, hay là từ dưới nền động dõi theo những cột ánh sáng trong veo hay những thân cây thẳng tắp cuốn quýt dây leo vươn lên tận vòm trời trên cao kia. Mây trắng phiêu dạt. Mỗi tiếng nói đều vang vang âm vọng, điểm xuyết trong tiếng chim rừng chiu chít...
...Khi chúng tôi xuống động là quãng 1 giờ trưa. Quãng này là lúc nhỡ cữ nên hầu như chẳng có lấy một khách lẻ lai vãng. Bên dưới động chúng tôi nhận ra chú tiểu đã gặp lúc ở Giải Oan đang ngồi một mình sắp xếp một tác phẩm điêu khắc đá-một bông sen đá xanh, một bàn chân bằng đá trắng, một viên đá trắng tròn xoe, mấy chữ nho... Một dạng sắp đặt thì đúng hơn. Hình thức không khéo, ẩn dụ lại quá rõ ràng nên hầu như tôi không để ý, còn gần như là phản cảm vì sự vụng về nôm na và một dạng hệ luỵ hình thức. Tôi lơ đãng quay nhìn vòm trời trên cao kia. Loáng thoáng tiếng bạn bè hỏi chuyện..."Cái này để bán à?"-"Có thể"- "Ba cái kia là cái gì"...Trong đoàn chúng tôi có cậu bạn người gốc Hoa, biết một ít chữ nho nên đang ra dáng đạo mạo hỏi chú tiểu "Có phải chữ Phật có nghĩa là người giác ngộ không?" (Tôi không biết nhưng lúc ấy không thích những câu hỏi chỉ có tính khoe chữ như vậy). Chú tiểu ngập ngừng một lúc rồi nói " Thực ra, có nhiều nghĩa khác nhau để hiểu...Một trong các ý nghĩa khác là Phật là người đã đạt đến tự do..." - Tôi không thể tả rõ ràng được điều gì đã xảy ra với tôi lúc đó. Nó không choáng váng, sửng sốt hay gây chấn động, mà là một cảm giác hốt nhiên sáng tỏ-một sự nhớ lại. Bạn biết là cho tới lúc đó ngay cả cái gọi là nội tâm tôi, tôi còn chưa biết cách dùng từ mô tả và ý thức đến. Vậy mà, trong thoáng chốc những danh từ ý niệm Phật giáo vốn đang trống rỗng không có nội hàm trong tôi trở nên sáng tỏ, giản dị, gần gũi, và thiết thân-tôi bỗng biết bản thân tôi, bỗng thấy cùng cảnh ngộ với tiền nhân... Tôi quay lại, chăm chú hơn vào mọi sự, nhưng cũng không hề có ý định bày tỏ gì. (Lúc ấy, tôi cũng chưa hề biết gì về Tịnh độ tông hay Thiền tông chứ nói gì đến những ngữ cảnh, những trạng thái ngộ đạt, các cách biểu đạt thông thường mà bây giờ tràn lan khắp nơi đâu...). Cũng chỉ nghĩ là do tự mình tình cờ biết nên không chú ý đến chú tiểu lắm...Chúng tôi quay lên trên. Tôi hơi bỡ ngỡ nên vô tình đi sau cùng. Chân vừa bước lên bậc đầu tiên thì bất chợt chú tiểu kia nắm chặt cổ tay tôi, ghé tai nói có vị sư còn gọi Phật là cục phân khô cơ...Tôi không còn kinh ngạc nữa, nhưng vẫn lãng đãng đâu đó, không thể trở về được với câu nói đó. Tôi đi lên.
Hương Sơn. Cửa Võng. Buổi chiều ở trên núi qua rất nhanh. Ngày thoáng lặng xuống rồi đêm đã nhập nhoạng đến ngay. Khách vãng lai đã hết hẳn từ cữ 3-4 giờ chiều. Quán hàng của cô Nhật cũng như chùng xuống, trở thành một nếp nhà đơn sơ, dân dã với mấy đứa cháu về chơi. Bữa cơm trên núi tuềnh toàng mà ấm áp lạ.
Đến khoảng 8h tối thì máy phát điện cũng ngừng hẳn. Cả khu vực chìm vào trong một bầu không khí vắng lặng dị thường. Sương lạnh bắt đầu bốc lên làm mọi người tự nhiên quây quần bên ngọn nến đang bập bùng trong hốc đá. Tất cả có phần hơi háo hức và bỡ ngỡ với lần đầu tiên trên núi này. Không biết làm gì trong lúc chờ trăng lên, chúng tôi ngồi nói chuyện bâng quơ miên man...Ngôi đền Cửa Võng ban ngày khách thập phương ra vào nhiều lại nhỏ bé nép vào mé núi nên cảm thấy gần gũi bình thường bây giờ trong đêm bỗng trở lên lặng lẽ, nghiêm trang như thuộc về một cõi khác-khác hẳn, xa lạ...Giải Oan chỉ cách một quãng mà bây giờ tưởng đến cũng như đâu đó diệu vợi..Tiếng chó sủa đêm thỉnh thoảng lại rộ lên, rồi tiếng bước chân của ai đó đi lại, ánh đèn pin loang loáng, vụt hiện, vụt tắt. Tất cả làm mỗi người có lẽ đều bất giác se mình lại...
Cửa Võng. Sau này lần nào lên núi tôi cũng ngủ lại dưới vách đá đó. Nó nằm nép ngay bên đường đi lên động Hương Tích, mặt kia nhìn ra lối rẽ xuống Thung Mây. Buổi sáng nếu ngủ quên, (thường ít khi ngủ quên vì ngủ trên núi người rất nhẹ nhàng, buổi sáng thức giấc rất tỉnh táo.) thì cũng sẽ nhanh chóng bị tiếng chuyện vãn của người lên động hay vào Thung hái củi ghé nghỉ chân làm thức giấc. Buổi tối những đêm sáng trăng thường rất lay động. Nhưng trong những đêm tối trời thì mọi thứ như quánh đặc lại. Đốt một ngọn nến rồi nhìn bóng mình bập bùng trên vách đá còn đỡ. Nhìn ra ngoài cứ hụt hẫng chới với sao sao ấy..phía ấy là thung lũng và đêm tối mù mịt. Đêm giao thừa Thiên niên kỷ, thức với bóng ngọn đèn dầu leo lét, nghe tiếng đài bán dẫn ngai ngái tường thuật chương trình đón thiên niên kỷ mới có một cảm giác thật xa xôi...Dưới quầng sáng mờ mờ của ngọn đèn hoa kỳ, tình cờ tôi đọc trong mẩu báo cũ bài viết của Băng Sơn. Tản bút về Hương Tích, về tiếng hải triều âm, tiếng nhân gian tam sinh, về Quán Thế Âm. "Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ/Liễu ấm hoa minh hựu nhất thôn". Tôi không nghĩ mình đang ở cảnh sơn cùng thuỷ tận vô lộ nhưng lẫn trong tiếng chiếc đài cũ kỹ đang hân hoan kể chuyện thế gian trên mặt đất này, đếm một điểm thời gian tưởng tượng mà lại tình cờ đọc được lời man mác về Quán Thế Âm, về tiếng hải triều âm...một lời tương giao, thì quả thực câu thơ dẫn ở cuối bài viết kia là một duyên lành cho cõi lòng tôi ngày ấy...
Một lần tôi đi cùng năm người bạn. Lúc đến nơi thì có hai người quay về ngay vì có việc. Thành ra lại còn có hai nam, hai nữ (dễ liên tưởng quá nhỉ-mà thật sau này một cô thành boss mình, nhưng không phải tại lần ấy!). Tối ngủ chung tại vách đá này, xếp túi làm biên giới .Trừ mình đã quen leo ra, mấy người kia mệt, loay hoay một chút rồi đều khò cả. Chú bạn ngủ một lúc là bắt đầu ngọ ngoạy, lại còn gãi lung tung...nữa chứ. Mình phải nhoài người ôm chặt, không cho quân gian ác này mượn ngủ mà mơ...Ngày ấy mình trong sáng, nghiêm cẩn lạ, có lúc ngồi dậy mông lung, cũng không hề có ý ngó sang bên cạnh dù một thoáng. Đêm vẫn đen như mực...
Hương Sơn.
Cửa Võng...Để vui chuyện, một cậu bạn đưa ra sáng kiến là mọi người sẽ kể chuyện ma cho nó khỏi phí đi cái đêm tối mông lung giữa rừng như thế này. Mấy cô gái phản ứng yếu ớt vì xem ra tuy sợ nhưng cái phần tò mò đã thắng thế. Phần tôi, lúc này đang miên man với những tri kiến vừa khai mở nên thấy rất rõ tâm trạng của mọi người và rồi câu chuyện sẽ đi đến đâu. Tôi nôn nóng muốn đến lúc thích hợp sẽ chia sẻ những kiến giải về cuộc sống với mọi người và khơi gợi mọi người về một nguồn mạch khác nên cũng thuận theo chiều câu chuyện ngồi nghe. Từng người lần lượt kể chuyện ma mình biết. Ai cũng nhận là chuyện đã chứng kiến nên câu chuyện rất ly kỳ và hồi hộp. Những chuyện tựa tựa như bên topic ma mà mọi người đang kể. Chuyện về căn buồng của bà cụ già mới chết trong ngõ tối khu Hoa kiều đêm đêm có tiếng ho của bà lụ khụ thâu đêm, có người vào lại im bặt...Chuyện thầy cúng ra mộ bắt ma....Tự nhiên mọi người đều thấy gai gai và bóng đêm cũng như tăng thêm phần bí hiểm. Một vài bạn gái đã lộ vẻ sợ hãi và đề nghị thôi không kể nữa. Tự nhiên mọi người lại xoay sang an ủi, động viên và dùng các lý thuyết, thực tế để phân tích và tranh luận về việc có ma hay không, có thế giới bên kia hay không. Xem ra lý giải thì lý giải chứ nỗi sợ hãi e ngại của một số người thì khó lòng mà yên xuống được. Đêm ở trên núi có nguy cơ dài vô tận...
...Tôi biết mình nên làm gì lúc ấy. Tôi đề nghị sẽ thay đổi không khí bằng cách đọc tặng mọi người một bài thơ của Nguyễn Bính, bài "Những bóng người trên sân ga". Tiếng guitar bập bùng xen lẫn bài thơ nhiều cảm xúc nao lòng. Những mặt người thấp thoáng trong ánh lửa nến. Tự nhiên mọi người thấy gần gụi nhau hơn và ấm lại những tình cảm sống, nỗi sợ hãi cõi lạnh đã vơi đi nhiều...Sau bài hát (Thời hoa đỏ) làm tan dần cảm giác lạnh lẽo mọi người chia sẻ cảm giác về những tâm tâm trạng của bài thơ, của sân ga, những chuyến tàu đi...Tôi nhắc lại ý nghĩ của mình về chuyện ma lúc trước. Hình như tôi đã nói đại ý là chúng ta sống trên đời này có nỗi lo sợ lớn nhất là sự không còn tồn tại nữa, không_còn_gì_cả chứ không phải là nỗi sợ chết. Nó núp sau nỗi sợ chết. Thêm nữa là nỗi sợ lẻ loi cô độc, sợ không có ai nhớ nghĩ đến mình như là mặt sau của nỗi sợ_không_là_gì cả kia. Phần tôi, tôi không quan tâm đến việc có thế giới bên kia hay không và đương nhiên tôi không sợ gì ma cả. Thử hỏi, ma có thể làm gì chúng ta (nếu quả ma là có thật), cùng lắm của đau đớn là cái chết thì bây giờ cái chết đâu có phải là cùng tận? Làm ma chả thích hơn làm người à? Không còn phụ thuộc vào thân xác trần tục nữa, có thể lang thang trên ngọn cây, giơ tay níu lấy trăng ngàn và ánh sương mờ đã ướt áo (Hàn Mạc Tử)...Có thể giúp người mình yêu thương...Vậy là sống có người tốt kẻ xấu, chết chẳng lẽ xấu hết à? Chết rồi thì quay ra xấu hết à? Phần tôi, tôi không quan tâm đến những gì mình không thể can thiệp bằng năng lực con người được. Cái tôi quan tâm là làm sao cho hết những gì mình có, để mỗi mỗi phút giây tôi yên vui vì chính mình cơ...Sương đêm đã loãng dần và trăng đã lên cao dần. Ánh trăng dịu mát toả phủ mơ màng phụ thêm phần cho lý lẽ của tôi. Và một cơn xúc động cộng cảm lan toả. Có một cái gì đó thức dậy trong lòng mỗi người. Ai cũng trở về với chỗ sâu thẳm riêng tư nhất và bộc lộ mình theo mỗi cách khác nhau. Có người ngồi lặng lẽ lắng nghe. Có ngươi kể về kỷ niệm tuổi thơ, một kinh nghiệm về xử thế, một nỗi buồn mặc cảm bấy lâu, một nỗi sợ hãi thuở bé...có người khóc nhẹ...Ngồi lặng nghe câu chuyện lòng của mọi người mà tôi thấy bồn chồn vì thấy những tri kiến của mình đã có ích và nó có thể còn soi tỏ vấn đề của mỗi người được. Nhưng tôi không muốn ngắt dòng cảm xúc của mọi người. Tôi chờ đến lúc thích hợp. Nhưng cảm giác rất bồn chồn. Tôi phải ép mình lắng nghe mọi người, tay ghìm ghìm dây đàn mãi một âm điệu bass trầm trầm. Hình như có ai đó đang đi ngoài kia trên đường núi cũng dừng lại lắng nghe những câu chuyện ấy. Mọi thứ đọng lại...
...Rồi đ iều kỳ diệu đã đến với tôi. Càng lắng nghe, lòng tôi càng chùng lại giãn ra thư thả. Tôi không chỉ hiểu điều mọi người đang nói, mà tôi biết. Tôi biết mọi việc là như thế, mọi người là như thế. Tôi đồng cảm và chia sẻ với mọi người từ sâu thẳm mà không còn mảy may ý định biện bác ngôn từ. Một niềm an lạc khôn tả. Mãi đến tận bây giờ tôi vẫn thấy đấy là kỷ niệm diệu kỳ nhất mà tôi đã có được, mặc cho những kiến thức mới, kiến giải mới là như thế nào. Bây giờ thì tôi đã biết cái học với cái tu nó cách nhau một sợi chỉ đường tơ mảnh mai như thế nào. Nếu giây phút tỏ ngộ dưới động Hương Tích là cái loé sáng chỉ đường thì cái giờ phút lãng đãng bên Cửa Võng đêm rằm tháng chạp năm ấy là sức sống chân thật nâng đỡ tôi trên mọi nẻo đường tinh thần âm u. Không bao giờ tôi còn bị đánh lừa bởi cái hời hợt của lý giải biện luận nữa, dù nó cần thiết. Tôi chỉ tin những luận lý, ngôn từ khi trong tôi cũng sống động tràn đầy cảm nghiệm sinh động. Và mỗi lúc vấp váp quỵ ngã đau lòng hay những lúc ốm đau mệt mỏi, tôi thường dùng chính nó để soi lại chính mình, xem mình thực ra đang ở đâu. Và luôn luôn cái đêm sáng trăng sương mù mịt, một đoàn người lang thang khắp núi mơ màng là nguồn an ủi nâng đỡ tôi mỗi lúc...

Tàu đi Chapa.

Sapa.


............Có một lần, tôi thất vọng ghê lắm. Không cái gì cụ thể đến mức là chính yếu, nhưng một giọt nước làm tràn ly...công việc, quan hệ xung quanh, tự soi bản thân...

Chiều, gần tối rồi mà tôi thấy bần thần không yên. Không thể ngồi trong nhà được. Hai thằng em ở cùng lại chưa về. Không có gì níu kéo cả. Tôi nhớ chuyến tàu..thế là quyết định đi Sapa. Lấy một cái áo khoác ấm, tắt ĐT vứt vào tủ, nhắn lại mấy câu là đi vài ngày..rồi xuống đường đi bộ. Lúc ấy là 6g tối. Tôi lững thững đi bộ từ Nam Đồng đến tận ga B. Mua vé, rồi ngồi uống nước chè, đốt thuốc, chờ. Tàu đến. Thế là chắc chắn, không thay đổi nữa, kệ em yêu, kệ tất cả. Bắt đầu tôi thấy ý nghĩ của mình chuyển sang những điều khác.

Luôn luôn tôi nhớ những chuyến tàu đêm đi Yên Bái, Lào Cai..nhớ cái ấn tượng đến ám ảnh của lần đầu tiên. Con tàu cổ lỗ, còi hơi. Hành khách là những người bình dân-đủ mọi hạng người, nhếch nhác..Cái không khí chộn rộn, ngai ngái của sân ga về đêm, dưới ánh đèn điện vàng vọt. Cái giọng nhắc tàu rất đặc biệt, đặc biệt ngang với chương trình ngâm thơ trong mục Văn nghệ của đài tiếng nói VN lúc đêm khuya gần Tết âm lịch. Xe ôm, xich lô, khuân vác, chè chén..người đưa người tiễn, cái dáng vẻ láo nháo ngơ ngáo tìm nhau. .Sự vội vàng của người về, vẻ bồn chồn của người đi...

Con tàu sẽ rục rịch rồi đi qua phía lưng của những khu phố cũ. Tôi ngồi trong toa ghế cứng (đấy mới là nơi của đa số mọi người), nhìn qua khung cửa. Không bao giờ người ta chú ý đến phía sau ngôi nhà cả. Con tàu như đi qua một thế giới chưa hề thay đổi-một thế giới, cũ, nhếch nhác và không hề mảy may làm duyên làm dáng. Thảng hoặc có xuất hiện vài người thì cũng là những phút giây không hề duyên dáng, cũng chẳng buồn ngó con tàu..Tất cả là một thế giới không phải của hiện tại. Khi tàu đi qua đoạn Đường Thành, tự nhiên thấy khác lạ vô cùng. Phố cũ Hà Nội nhìn từ trên cao xuống thấp thoáng sau hàng bàng đã thưa lá ngày cuối đông thật yên tĩnh khác thường. Từ trên đây thấy phố chả khác ngày xưa chút gì.

Ngang qua sông Hồng, gió bắt đầu lộng thổi. Cây cầu Long Biên xa xa trong ánh đèn vàng mờ mờ một quầng..cầu chỉ riêng cho người đi bộ và đi xe đạp-chủ yếu là xe đạp thồ, nhiều nhất vào sáng tinh mơ, khi mọi người chở rau sang phố..Thành phố lãng quên nhiều thứ quá, nên mới còn đầu sông cuối bãi này để mà đôi khi ta ra ngó cho lòng dịu lại...Tôi luôn thấy chuyến tàu là một hình ảnh thật giống với hình ảnh cuộc đời. Đủ mọi hạng người trên cùng một hướng đến đại thể. Ngồi lên đây rồi là không ai nghĩ đến một hướng đi khác nữa-không chọn lựa. Ở trong xe lửa là yên tâm nhất. Mọi sự vẫn trôi đi mà khối sắt thép này là đảm bảo tuyệt đối cho sự an toàn trước mưa gió ngoài kia. Có thể gặp vô số cảnh đời nơi đây: một cụ già về quê, một gia đình chộn rộn có con nít, những người đi buôn, những người đi làm, những đôi lứa đi du lịch, những người không thể biết...Trên tàu cũng có sự phân biệt, có trật tự riêng..trật tự của những người cả cuộc đời ở trên dòng lắc lư này...

...Khi đêm đã hơi muộn rồi, trời se lạnh thì mọi người đa phần đều ngủ hay gà gật. Tàu đang đi qua những cung đường vắng. Một vài ngọn đèn vẫn bật đủ soi mờ tỏ những dáng hình con người. Mọi người cố xoay sở cho mình tư thế thoải mái nhất có thể: những cái áo đắp tạm, người thì nằm ngang, chân gác qua thành đối diện, có người mắc võng và không ít người nằm luôn xuống sàn tàu có hoặc không có tấm gì kê lưng. Tạm bợ, tất cả đều tạm bợ vì chuyến đi chỉ là tình cờ, mọi người đều chờ đợi sự sạch sẽ tại nơi đến của mình. Bất giác tôi liên tưởng đến một cái nhìn trong suốt-tôi luôn ao ước có ai vẽ ra bức tranh ấy:trong con tàu, loại trừ đi những vách ngăn, nơi này là những người nằm ngồi la liệt, khoang bên là sáu con người một gian..mỗi người một tư thế, một dáng vẻ trong một thế giới ba chiều. Ai cũng bàng quan nghĩ rằng mình đơn lẻ, riêng tư...Ai đó nói mê, một vài người trở mình, thỉnh thoảng có người quờ quạng đi về phía toa lét, băng qua những cái chân ngáng, len lách giữa những thân người. Mỗi lần ngồi trong một toa tàu tôi thường luôn tìm một hình dáng nổi bật nhất. Một cô nào đó sẽ được chọn làm hoa hậu và hễ cô còn ở đó và không bị thay thế thì cảm xúc của tôi vẫn còn trung thành với cô đấy...Bất chợt một vài người bừng tỉnh, lục sục đồ đạc. Giọng thông báo ngái ngủ, con tàu sắp dừng lại một ga lẻ nào đó. Khuya rồi. Sương lạnh xuống mờ mịt. Con tàu dừng lại giữa một quãng rừng vắng. Trong đêm tối, cái ga xép chả thấy đâu, quầng sáng vàng vọt chỉ đủ soi thấp thoáng cây cột điện, hình như có nếp nhà sàn..Vài ba người xuống tàu, rồi vội vã tan mất vào trong đêm tối. Không biết giữa rừng thế này họ đi về đâu? Cũng không ai để ý họ cả, mọi người chìm trong giấc mộng mị, thấp thỏm..

....Giờ thì chỉ toàn là đường rừng. Ngó mông lung trong đêm tối, thỉnh thoảng vang vọng tiếng còi tàu tôi tưởng rằng như đâu đây sau bóng tối kia là cả rừng già đang hồi hộp. (Những cánh rừng thơ ấu chắc chỉ tồn tại trong những phút giây này thôi)...

...Tàu sẽ đến ga vào sáng tinh sương. Lần nào tôi xuống tàu cũng gặp những cơn mưa lơi rơi. Nửa mưa nửa sương nặng hạt. Buổi sáng nhoè nhoẹt và đường thì ướt rượt. Mọi người đều vội vã nhanh chóng đi tìm một chuyến xe vì chỉ một lúc thì ga lại vắng hoe. Xe đi Chapa bây giờ rất tiện và khá lịch sự. Loại 16 chỗ, đủ người là chạy ngay nên không khó khăn gì để lại được ngồi trong xe ấm áp mà ngó con đường. Núi chẳng mấy khi đẹp như tranh ảnh cả, mà thường bình dị, hơi nao lòng. Thỉnh thoảng vài chiếc xe Mink hay Simson của người Mèo chạy vượt qua. Đường vòng vèo khó đi, thỉnh thoảng lại có tai nạn, có năm bị sạt đất, lở đường..Vài người đeo gùi lầm lụi đi, đôi khi gặp bọn trẻ con-trẻ con ở đâu cũng vẫn vậy, thật dễ làm lòng dịu xuống và bâng khuâng, trong trẻo..Tôi vẫn nhớ nhất lần đầu lên Chapa vì hồi đó xe đi còn rất đa dạng chưa đồng bộ hoá như bây giờ. Lần ấy, xuống tàu ở Cam Đường rồi đi xe lên thị xã Lào Cai rồi mới đổi xe đi Chapa. Lần đầu hỏi thăm, mọi người bảo dễ lắm, taxi đi Sapa thì lúc nào cũng có. Choáng, mình sinh viên, lên đây mà đi taxi thì chỉ có nước mua vé tàu về xuôi luôn! Hoá ra không phải, trên này đồng bào gọi xe khách, ô tô, xe đò..là taxi..(không biết bây giờ còn thế không?).

...Rồi chúng tôi cũng lên được chuyến taxi của mình. Một chiếc U oắt dã chiến, phía sau để hở. Trên xe có bốn anh em chúng tôi hồi ấy sinh viên, ba lô, túi, bảng vẽ, túi giấy lỉnh kỉnh..hai vợ chồng già đi chơi về, bình dị..giữa đường đón thêm hai vợ chồng người Hmông xách đôi gà trống nói giọng Kinh hơi ngọng..hai cậu bộ đội trẻ đi lấy củi dọc đường cũng ghé lên và được phân công đánh đu đằng sau cùng của xe! Sàn xe có một lỗ thủng to tướng, tí nữa thì tôi bị rơi cả giầy xuống đường. Đoạn đường mỗi lúc một khó đi hơn. Lần đầu nếm mùi đường đèo khúc khuỷu, chúng tôi phải mất đến 15 phút mới quen được với tâm trạng là mình đã ngồi trên xe rồi..thôi kệ sống chết có số. Lên đến độ cao nhất định thì hơi có cảm giác ù tai, se lạnh. Anh bạn đi cùng vì quá hào hứng với phong cảnh mới buột miệng khen "một bác tài miền núi bằng ba ông đồng bằng" thế là ôi thôi...chiếc xe tha hồ lượn lách, vượt, đánh võng cua gấp..Chỉ dịu lại khi đã xuýt xô phải một chiếc xe Mink từ ngõ chồm ra. Đi mấy nơi tôi thấy cứ nơi nào miền núi nhiều dốc đèo là người dân có thói quen phóng nhanh ào ào, mình không quen thấy rất nguy hiểm. Hay người ta sống giữa núi rừng thì dũng cảm hơn nhỉ? Thỉnh thoảng vượt một chiếc xe đạp-pó tay với pác lày luôn. Thỉnh thoảng có chiếc xe đạp đổ đèo thì có một cành cây rất to làm phanh kéo lê thê đằng sau..rất hiên ngang, phong trần phết. Dĩ nhiên là cả nhóm mấy bà mấy cô Hmong đi chợ, mấy con trâu con ngựa gầy, bẩn, lầm lũi...Từ đấy về sau chả mấy con đường nào còn khiến tôi hoảng sợ như thế nữa..nghe nói đường đá Hà Giang còn nguy hiểm hơn nhiều phải không bác Chít?

...Xe đổ khách ở bên hông nhà thờ chợ Sapa. Hơi hoang mang, chúng tôi chưa ngắm ngắm nghía nhiều mà còn lo tìm một chỗ trọ khả dĩ với túi tiền. Sự thực lúc đi bọn tôi rất liều, không dự tính, không đóng góp chung mà cứ người này suy diễn người kia..Đại ý chỉ dự tính đủ hai lượt vé đi về là đủ. Giờ mới lo đây. Cả bọn bàn phải tìm một quán nước nào dễ bắt chuyện để hỏi dò mọi sự. Tôi ngó quanh quất rồi chỉ "Kia, bà chị áo vàng!". Cả bọn đi một nửa vòng đến ngồi ở một quán nước dưới một gốc thông căng che bằng một tấm bạt, nằm phía đối diện nhà thờ qua sân chợ tình. Bấy giờ là mùa hè, nhưng chưa đông khách du lịch, chúng tôi đi vào giữa tuần nên không đông khách. Thị trấn Sapa đìu hiu thưa thớt...

...Cho đến tận giờ tôi vẫn còn giữ niềm tự hào rất chi chủ quan về khả năng dự đoán tính cách người khác qua dù chỉ một thoáng nhìn (Tôi vẫn huênh hoang bá láp vậy thôi với bạn bè mặc cho những cú vấp đau lòng. Kệ! Mình phải tin vào con người chứ nhỉ?). Chị Ánh-tên cô chủ quán-còn trẻ, dưới ba mươi, không ồn ào nhưng rất nhiệt tình và cởi mở. Sau vài tuần trà, điếu thuốc thì chị đã biết là chúng tôi không vội vã đi đâu là vì chúng tôi đang tìm một chỗ trọ rẻ tiền. Chị giới thiệu mấy chỗ...Chen giữa câu chuyện thong thả, chúng tôi đã kịp biết bà cụ mang nước nóng ra là mẹ chị Ánh, bà không hay chuyện nhưng có cảm tình với chúng tôi. Bà kể chuyến đi tàu dọc Nam Bắc thăm con và họ hàng đầu năm. Cả nhà là dân gốc Yên Bái, chị Ánh theo chồng lên đây làm việc trong trường dân tộc nội trú, rồi bà cụ chuyển nhà lên đây, còn cô gái út đang làm cô giáo bản, đang nghỉ hè...Biết chúng tôi chưa có chỗ trọ, bà bảo lên nhà tôi ngủ, có đủ chăn chiếu, cần gì đi đâu..Êm rồi, chiều Sapa đẹp quá đi...nhưng dù sao vẫn hơi ngài ngại...Chợt chị Ánh nghĩ ra-"để chị hỏi bọn ký túc xá trường" Tuyệt vời, cuối cùng chúng tôi sẽ nghỉ trong ký túc xá của trường dân tộc nội trú. Có một phích nước nóng và 5000đ một người một đêm. (Hồi đó giá của nhà nghỉ là 30-50nghìn). Cất đồ xong thì chúng tôi bắt đầu đi dạo loăng quăng, ngó nghiêng. Lúc từ trường học đi ra gặp cảnh một đám đông xúm xít xem một đôi Hmông đang co kéo. Một anh chàng dùng chiếc khăn thít chặt tay cô gái kéo đi. Cô gái đỏ mặt tía tai dằng lại quyết liệt. Họ nói tiếng dân tộc, chúng tôi không hiểu gì. Chỉ thấy anh trai có thoáng cười, còn cô gái thì có vẻ bực. định can thiệp lại nghe có người bảo đấy là người ta bắt dâu nên thôi..Không biết về sau thế nào, cũng không thấy ai can ngăn gì cả...Tôi mua một chiếc áo khoác thổ cẩm không có tay rồi diện suốt đến tận khi về Hà nội. Sau đấy còn đeo mang cả năm trời cho tới khi giã từ trào lưu quần bò xé gấu, bị cói, túi vải, tóc dài...Tôi lại ra quán chị Ánh ngồi. Luôn luôn tôi có thói quen dè dặt sử dụng thời gian của mình với cái mình đang tìm kiếm. Vào thư viện, tôi thường lang thang cả buổi từ góc xa nhất cho tới kệ sách cuối cùng mới là nơi có cuốn sách hay thể loại tôi ưa thích. Tôi thường lo mình đã bỏ qua điều gì vương vất...

...Quỳnh là tên em gái chị Ánh đã ra ngồi gần chỗ chị mình và bày thúng ngô bản bắt đầu chuẩn bị nướng. Hơn bốn giờ chiều và chẳng cần giải thích nhiều khi chúng tôi không còn hăng hái đi tham quan cái gì cả hơn là ngồi hơ tay trên bếp lửa ăn ngô nướng ngọt mềm và hỏi chuyện cô chủ...Câu chuyện cũng bâng quơ và nhẹ nhàng vì hơi tội là trong lũ tôi chả ai có được cái tính tán tỉnh lăng nhăng cả. Em dạy bọn học sinh ở cách ba quả đồi. Học sinh một lớp học mấy chương trình cùng lúc vì gộp cả các lớp vào mới đủ người. Học trò nói tiếng Kinh một lúc, cô giáo nói tiếng Mèo một lúc...Hết hè rồi thì phải đi tìm học sinh giục lên lớp. Quỳnh mới đi dạy một năm, không biết cô sẽ gắn bó với cái lớp học ấy được bao lâu?...

...Sương đã xuống mù mịt, người cũng đông hơn và nhiều hàng quán hơn. Trời tối đen kịt, đi vào chỗ nào không có bóng đèn thì chả nhìn thấy gì. Tôi cũng không còn nhớ nhiều mình đã đi lang thang thế nào..chỉ nhớ lúc phải rời bếp than hồng nướng ngô vì đã sắp buồn nôn vì ăn quá nhiều. Ôi ôi là cái sự ăn ngô vì cô chủ!..Lúc về ký túc xá thì đã khuya. Có tiếng cười rúc rích ở gần cổng, trời tối quá, ai đó định tiến về phía tôi rồi lại rụt lùi, tiếng mấy cô gái Mèo cười rộ..Hơ hơ, hình như họ nhầm mình với anh giai bản nào đó-tôi mặc áo thổ cẩm. May mà không bị lôi vào bụi cây nào rồi thì lại bị chài, bị bỏ bùa thì còn mong gì ngày về!...Tôi kịp nhìn trên thành giường tên chủ nhân của nó:hôm nay tôi là Vàng A Pao....

...Những lần sau này tôi toàn xỏ tay vào túi đi một mình, không hành lý, không gì cả, tiền chỉ vừa đủ dùng. Thấy mình nhẹ nhàng hẳn. Khi bước xuống tàu, hay xuống ô tô, dù là ga tàu hay bãi chợ Sapa, tôi luôn có một thoáng chạnh lòng. Những người cũ không gặp nữa, cũng không tìm. Nhưng trong tôi, luôn luôn thấy ấm lòng khi biết đâu đó sẽ có người nhận ra mình chăng...Cũng như luôn vang vọng cả buổi chiều cuối năm một câu reo hỏi "ô kìa ông khách kia, hôm nay mới ra à?" ở giữa dòng suối Yến. Tôi không thích đi Hương Sơn mùa lễ hội cũng vì vậy, phải là một ngày thường, trong lòng núi, trên dòng sông, đâu đó có người hỏi thăm "ông khách thăm ai?", những tấm lòng lại hồn hậu, dễ dãi, không còn hằn gắt như những ngày đua chen mù mịt...

...Sapa. Sáng hôm sau, chúng tôi tỉnh dậy từ sớm tinh mơ và trả phòng luôn. Hôm ấy là thứ bảy, mới là ngày vui nhen nhóm, nhưng chúng tôi phải về vì hết tiền đến nơi rồi. Với lại, tôi biết, tôi còn quay lại nơi đây. Từ 9g trở đi đã thêm nhiều người khách du lịch cuối tuần lên đến nơi làm không khí vui hẳn. Một gia đình, mấy đôi trai gái, mấy cô học trò..họ luôn nổi bật lên vì trông cách ăn mặc là đã biết là du khách, tha hồ cho các bà Mèo mang vòng túi đến chào đón. Không ai hỏi chúng tôi mấy vì bộ dạng. Chết cười, có lúc tôi bảo để em đi tách ra, thế nào cũng có người hỏi. Vì tôi hôm ấy mặc quần soóc, đi đôi dày da lộn rất xịn (nhưng đã há mõm vì là đồ se con hen), lấy cái mũ rộng vành đội vào, khoác balô bộ đội, mặc chiếc áo khoác ngoài thổ cẩm thì cũng giống Tây phết! (vì đã bỏ lại cái quần bò, mấy cái túi, mấy thứ lỉnh kỉnh cho anh em rồi. Y như rằng một thoáng, mấy bà mấy em Hmông xúm vào, mình cũng phùng má no, no..như thật. Sau họ biết, cười rũ rượi rồi thôi.

...Sau ấm trà của chị Ánh, chúng tôi đi bộ ra suối Cát Cát, khoảng 3km. Đường gập gềnh, nhưng hôm nay đông người đi. Đến nơi thấy cũng thường, định lôi bảng vẽ ra rồi lại thôi. Đi chơi cho nó nhớ, vẽ vời mà làm gì! Lang thang lên đầu suối, hỏi chuyện mấy người dân tộc biết là năm nào cũng có người chết đuối ở đây vì chủ quan. Chết thật, lúc nãy, tôi với thằng bạn lần mò tắm ở đoạn trên mãi, chả biết sợ là gì. Suối trong mà sâu lắm, lúc đánh rơi cái thắt lưng định mò vớt tôi mới thấy hoảng. Nó hiện rõ thế kia mà nhúng cái que đến 3m chả thấy đâu. Tự nhiên thấy đoạn về thật khó khăn.(chúng tôi men theo dòng suối đi mãi lên trên đầu nguồn, không có đường, cứ bám vào rễ cây mà đi). Hai năm trước, có người bạn của mấy cậu em, không quen nhưng mà biết, vừa ra trường xong đi sinh nhật một mình trên ấy, rồi sảy chân ngã cũng chết ở đây. Mấy hôm sau mới vớt được. Bạn bè lên đón về, còn ướt rười rượi…

...Lúc đi rẽ ngang lối vào bản xa, gặp nhà sàn, có người mẹ địu con đang dệt vải. Người ở đây con gái tay ai cũng lấm chàm đến ngang khuỷu. Phụ nữ Mông thấp người, mặt to, dáng đi gù gù như cái điệu đeo gùi quanh năm, không đẹp như đàn ông tộc mình. Chúng tôi chào..."Chúng mày vào chơi, không sợ chó cắn đâu.." Nhưng lần ấy chúng tôi không vào...Nhà họ nuôi gia súc dưới gầm nên hôi và nhiều ruồi muỗi, không như nhà người Thái. Ồ người Thái, tôi lại nhớ cái lần liêng liêng vỗ tay hát hò theo điệu đàn dây của ông thợ săn trong căn nhà thấp tối cũ kỹ cuối bản Mai Châu buổi đêm, lúc ngoảnh ra thấy ngoài cửa sổ có chục cặp mắt của lũ bạn cùng lớp ngó vào-họ cũng e ngại người dân tộc như chúng tôi hồi ấy.

...Buổi chiều, mỗi người lang thang một nẻo. Tôi men con đường nhỏ đi về phía mấy căn nhà hoang phế. Tình cờ gặp ông anh cũng đang lang thang. Hai anh em đi một đoạn thì gặp người quen. Bà cụ mẹ chị Ánh dáng người nhỏ nhắn nhanh nhẹn mang cái ấm không về (bà thường mang nước nóng ra cho con). Qua hàng rào cây ngang người, từ xa bà nhận ra chúng tôi, gọi vào nhà chơi. Lúc về, chúng tôi băng ngang vườn, hái mấy trái đào trái mùa mà thấy ngon tuyệt...

...Sapa. Lần này tôi không vội vàng gì, tôi quá quen thuộc rồi mà. Xe dừng, tôi lững thững lên phía nhà nghỉ công đoàn Lâm nghiệp(?) lấy một phòng. Lại là mấy người khác rồi, những người cũ không làm nữa. Bên ngoài trời lạnh, sương mù mịt. Tôi chẳng đi đâu, ngủ cả ngày, đến bữa đi ăn. Hôm sau, trả phòng sớm. Lại lên tàu về Hà nội. Lòng tôi vẫn nặng chĩu suốt nửa chuyến đường về....

Sapa. Lần đầu tiên đi tàu ban ngày trên tuyến đường này. Hơi nao nao, vì nhớ những chuyến tàu đêm. Thị trấn không làm yên lòng, cảnh vật lại nhắc nhở chuyện đời thực mộng. Tôi phiền muộn, lơ đãng ngồi vào ghế của mình. Có hai người giống như hai cha con bác nông dân miền núi ngồi cùng. Một đống quang gánh vứt dưới gầm ghế. Cậu con trai mang theo một cái lồng chim hoạ mi. Họ ăn mặc rất nhếch nhác:áo sơ mi không thể coi là màu gì, quần kaki trung quốc, ống thấp, ống cao..dép lê. Người cha khoảng sắp 60, người con trai khoảng giữa hai mươi. Câu chuyện rời rạc..Một lúc nào đó, một người lấy quyển sổ học sinh lem nhem ra tính toán, chữ nguệch ngoạc, không nhìn ra được là ghi chép gì. Một người nhẩm tính cả mỳ tôm...Hình như không phải hai cha con. Họ đi buôn thì phải. Có vẻ như phải mấy tháng rồi mới từ rừng về. Tôi vẫn không để ý nhiều câu chuyện của họ, liên quan gì đâu...Chỉ hơi buồn cười cho cái vẻ luộm thuộm và tẩn mẩn của cậu con trai khi giữ khư khư cái lồng chim hoạ mi mua được từ trong rừng ra ấy. Tôi vốn không ưa việc nhốt thiên nhiên lại trong một cái lồng nên tự nhiên sinh sự để ý. Hơi buồn cười khi anh chàng nhắc tôi cẩn thận không dẫm phải chim của em!

...Đã qua Yên Bái, tự nhiên câu chuyện của hai người nhắc đến những tuyến quốc lộ. Tôi góp một vài con đường, thế là bắt chuyện. Vài lời nữa thì ô hô, a ha, hơ hơ...không tả được là tâm trạng tôi như thế nào khi nhận ra đây là hai công nhân của đội trắc đạc nào đó vừa đi đạc tuyến điện trung thế trong rừng về. Cái đống quang gánh mà tôi hờ hững dẫm lên lúc nãy là mấy cái mia, máy thuỷ bình...Cuốn vở học sinh thì kiêm luôn sơ đồ hoạ mốc...(Mãi sau này tôi luôn nhớ lại ấn tượng này như một lời cảnh tỉnh nhẹ nhàng với bản thân về cái sự nhỏ hẹp của lòng mình, khi mải nhìn mình người ta chẳng nhận ra dù một sự vật giản đơn, mà sa đà ngay vào những phán xét ước lệ..). Câu chuyện sôi động hẳn lên vì nghề nghiệp khiến gần như tôi thường xuyên có liên quan với những người như họ. Đến một nơi hoang sơ, ngắm nghía tìm hiểu qua qua, ước lượng quy mô rồi khoát tay một vòng...tôi sẽ về và mơ màng những kỷ niệm, còn họ sẽ bắt đầu hạ đồ, dựng lều, tìm nguồn nước..chuẩn bị một vài tuần lặn lội với muỗi, vắt và hoang vu...

...Khi xuống ga Hà nội, lòng tôi an bình lạ. Tôi nhìn mọi sự đã qua thực không đáng một mảy may...Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ những câu chuyện rơi rơi của ông bác công nhân già ấy về một cuộc đời lang thang khắp đất nước. Về những chuyến đi vừa mới từ Nam về đã lên Bắc mấy tháng với cậu trai trẻ kia. Hôm ấy giáp Tết, ông tính về nhà kịp đám cưới cô con gái, ra Tết lại vào Bình Dương...Hình như người thanh niên có hỏi ông về kế hoạch nghỉ hưu...Giọng ông thực thà đơn sơ lắm "Đi cả đời rồi thấy quen. Ở nhà vài ngày lại không chịu được.." Từ đây, không bao giờ tôi nản lòng trước cuộc sống. Mỗi khi thấy mình bải hoải, bế tắc..tôi lại biết, tôi đang quẩn quanh quá..cuộc đời dài rộng lắm...