Hiển thị các bài đăng có nhãn Albert Camus. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Albert Camus. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Carnets. Camus viết về Kẻ Xa Lạ.

Vào năm 1954, một người Đức đã gửi thư cho Camus, đề nghị và xin phép đưa Kẻ Xa Lạ lên sân khấu. Sau đây là lá thư trả lời của Camus (lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc trưng bầy "Những câu chuyện về một cuốn sách: ‘Kẻ Xa Lạ’ của Albert Camus". 1990).

Paris, ngày 8 tháng Chín, 1954

"Ông thân mến,

... Ông hẳn cũng đoán ra được, dự án của ông làm tôi phân vân. Đã hai mươi năm tôi quan tâm tới kịch nghệ, từ đủ thứ khía cạnh của nó (tôi đã từng là diễn viên, và là nhà đạo diễn), và tôi biết rằng, thứ ánh sáng còn sống, còn tươi (cru) là ánh đèn chói lòa ở sàn quay, thật khác xa cái thứ ánh sáng được tính toán thật chi ly mà người ta đưa vào trong một cuốn tiểu thuyết. Trước ánh sáng chói chang đó, một nhân vật, cho dù đứng thẳng ở trong một câu chuyện kể, có thể ngã lăn đùng ra. Nhưng lá thư của ông, và của M. Deblue làm cho tôi thật muốn lao vào cuộc phiêu lưu này. Và do kinh nghiệm, tôi biết rằng, chỉ sự tương kính giữa hai cá nhân mới là đảm bảo số một, khi quyết định cộng tác. Và tôi đồng ý để ông thực hiện dự án đưa tiểu thuyết Kẻ Xa Lạ thành kịch trình diễn...

Được đấy, ông bạn ạ, cái dự án của ông. Chỉ có hai điểm xuyết nho nhỏ:

1. [Khán giả mà] không được coi cái xen giết người thì thật là bực mình lắm đấy. Bởi vì đây là trái tim [centre: trung tâm] của câu chuyện. Đây là một cú giết người có mặt trời ở trong đó. Mặt trời ở đây là trung tâm mà thảm kịch xoay quanh. Và thảm kịch sáng chói lên nhờ ánh sáng mặt trời chiếu vào nó. Theo tôi, đây là điều làm cho nó khác với một câu chuyện u tối, và thoát tục [désincarné: mất xác phàm; có xác phàm thì mới có chuyện giết người], theo kiểu của Kafka. Ông sẽ nói, khó lắm đấy, nếu trình diễn được như thế. Tôi trả lời: Đúng như vậy. Khó lắm đấy. Hãy cố mà tìm tòi, và một khi vớ được, vở kịch của ông mới nguyên xi biết bao; ấy là tôi muốn nói, cái chất sáng tạo của kẻ đạo diễn.

2. Cái xen độc thoại kết thúc màn thứ sáu, theo tôi, là bất khả thực hiện. Trên sân khấu độc thoại chỉ đi được với những cử chỉ, động tác (ấy là với những diễn viên số một). Thực hiện theo cách của ông, như ở xen đó, sẽ trở thành "lên lớp, giảng mo-ran", nghĩa là rất kịch cợm, tôi muốn nói, giả tạo.

... Nói ngắn gọn, tôi muốn làm sao tránh xa khỏi kiểu đua đòi Kafka, và chủ nghĩa biểu hiện (expressionnisme). "Kẻ Xa Lạ" không hiện thực mà cũng không kỳ quái (fantastique). Với tôi, đây là một thứ huyền thoại nhập thể (incarné: nhập xác phàm), không lơ mơ mà bám cứng lấy cõi người ta, tới tận da, tận xương, tận tủy. Và tới tận cùng của hơi nóng ngày ngày. Người ta muốn coi đấy là một kiểu cọ mới của vô đạo đức (immoraliste). Vậy là lầm to. Cái đập vào mặt chúng ta ở đây, không phải là đạo đức, mà là thế giới của vụ án, nó trưởng giả, nó quốc xã, nó cộng sản, nói tóm gọn, đây chính là vết lở lói đương thời.

Riêng với anh chàng Meursault, có chút hướng thượng ở anh ta, và đó là từ chối, tới chết: nói dối.... Meursault không ở phía những ông tòa, lề luật xã hội, những tình cảm ước lệ, đóng hộp. Anh ta có đó, như hòn sỏi, như ngọn gió, như biển cả, dưới mặt trời. Và cũng như sỏi đá, chúng có thể biết đau, nhưng không thể nói dối, chẳng bao giờ nói dối.... Nếu ông đọc cuốn sách theo kiểu tôi vừa đề nghị, ông sẽ nhận ra một thứ đạo đức của sự chân thành, và một niềm vui, vừa tiếu lâm vừa bi thảm, về cõi đời. Chính những điều này làm nó thoát ra khỏi vẻ u tối, biểu hiện, hay là thứ ánh sáng của sự tuyệt vọng....

Thân ái...

Albert Camus.

(tanvien.net)
http://hqdang.blogspot.com/2013/09/nguoi-xa-la-2.html

------------

Lưu lại một bài viết quan trọng với tôi vì tôi quan tâm đến thể loại kịch. Kịch mô tả hành động mà chúng ta dường như được định nghĩa qua hành động!

Thứ Tư, 14 tháng 4, 2010

Sa mạc và viễn tượng

1.
Khi bàn về tôn giáo hay triết lý, ngôn từ thể hiện tính hai mặt rất rõ rệt. Bây giờ tôi sẽ thử nói lại, nói ngắn gọn một_cái_ý xem nó có lặp lại được cái gì đó không. (Nhì nhằng, u uẩn, quanh quẩn và nghiệt ngã, oái oăm - chúng ta còn gặp nó còn nhiều).

- Tiền đề của cảm thức tôn giáo là kinh nghiệm. Kinh nghiệm vượt ra khỏi cái ngã mạn nhỏ bé cá nhân. Nhưng ngay sau đó sẽ là thăm thẳm chông gai của lựa chọn thái độ và điều tiết. Không biết tới, không hiểu gì về cái kinh nghiệm đó thì đừng vội bàn về tôn giáo. Nó chệch hướng và không thiết cốt. Nếu định lấy đạo đức để biện minh cho tôn giáo, đó là 1 ý tưởng tốt nhưng cũ rích. Trò chơi chữ này khởi đi tự lâu rồi. Một cuốn sách gần đây nhất, có bản dịch tiếng Việt nói về điều này là "Xác lập cơ sở cho đạo đức-F.Jullien".

- Triết lý tự khởi nguồn từ một nỗi thúc bách tinh thần. Nó không phải sở thích hay ý muốn. Nó PHẢI được thu xếp-một cuộc tàn phá và gầy dựng lại sơn hà đại địa. Mỗi người đều có triết lý nhưng để trở thành triết gia-người suy tưởng-thì cần nhiều hơn là những ý tưởng sơ khởi. Đó cũng là chỗ phân biệt kẻ điên và triết gia. Mỗi tư tưởng có một hệ sinh thái ngôn từ riêng của nó. (Về điều này Phan Huy Đường có một bài đề tựa rất hay cho cuốn "Tư-duy tự_do" của mình). Bàn nghiêm túc về bất cứ chủ đề triết lý nào không khỏi phải tái tạo lại ngôn ngữ, kết quả là phải viết thành 1 cuốn sách! Nên trao đổi chỉ có thể là bàn tán loạn.

2.
Một người điên trong mắt nhà tâm phân học thường khi lại "bình thường" hơn rất nhiều người bình thường chúng ta. Ông BG là một người điên, thường rất nỗ lực diễn giải Albert Camus trên bình diện một người nỗ lực vượt qua cả hư vô chủ nghĩa và nhân bản thuyết.

"Nhân-bản-thuyết không làm phiền bực tôi: trái lại tôi khoan khoái. Nhưng có điều là tôi thấy nó nông cạn-A.C: Carnets".

BG trích M.H (M.H&Vấn đề Hữu Thể):

- Nhưng đâu là chốn hoành hoành của hư vô chủ nghĩa? - Quên lãng Hữu-Thể-Tồn-Lưu và ru rú ở mép rìa hiện sinh động náo - vâng, chính đó là hư vô chủ nghĩa.

- Ngược lại, quyết tâm hướng về Hữu Thể, dấn mình đi cho đến giới hạn của Hư Vô, và tóm thâu luôn cả Hư Vô vào trong vấn đề của Hữu Thể, đó là cái dấn bước đầu tiên, cái bước duy nhất rạt rào, để vượt thoát hư vô thuyết.

- Nhưng cái gì tồn lưu liễu tại, thì thi nhân thiết lập nó ở giữa dòng...

3.
“Tôi muốn thiên hạ phải coi trọng những hoạn nạn của tôi”.

Luôn luôn là như vậy, con người ít khi biết mình là như thế nào lắm. Rớt từ trên trời xuống với một cái máy bay thì chẳng xa xôi gì so với từ một tinh cầu. Phải, hẳn là từ một lần nọ rơi máy bay xuống hoang mạc kia anh mới nhận ra tình trạng của mình, mới ý thức về tinh cầu nội tâm của anh.Sự vụ kia đã thay đổi nhãn giới của anh, khiến anh cao lên một tầng nữa, xa thêm một tầm nữa. Phải, có phải từ đó, anh đã biết, đã gặp một “Hoàng tử bé” - một nhân vị mong manh mà duy nhất không? Cái vụ rớt máy bay trong hoang mạc thì anh đã trở về rồi. Nhưng còn tinh cầu của anh, bây giờ đây, làm sao anh trở lại? Giờ đây anh đã mang đã biết tới một nỗi buồn thật da diết, thật riêng tư-Bây giờ riêng đối diện tôi, còn hai con mắt khóc người một con.


(Sa mạc và viễn tượng - trong một bài viết cũ)


"Bệnh tật là một tu viện có luật tắc riêng, tâm thuật khổ hạnh riêng, những im vắng và những cảm hứng riêng-A.C: Carnets".

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

Rằm tháng 7

1.
Bây giờ là 2 giờ đêm. Hơi ngạc nhiên vì trăng 13 mà đã chênh chếch phía mé tây. Hà Nội đã có phảng phất hơi thu. Chiều muộn hôm trước đi từ phủ Tây Hồ về thì mù đã lẫn đầy trong gió. Nếu ký ức về đêm sáng trăng ở quê là những ngày trăng non thì ở thành phố sẽ là về trăng hạ huyền. Hôm nay là một ngoại lệ lưng chừng.

Mai đã có thể tính là sang rằm tháng 7. Lại đem hong bài viết cũ làm kỷ niệm mấy blog 360.

2.
Aug 7 2006, 02:31 PM
Hôm nay là tiết Lập Thu. Mùa Thu ở Bắc Việt chỉ thực sự là mấy ngày cuối cùng trước lúc sang đông. Cũng đang là lễ Vu Lan "Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt...". Không quá thê lương, ảo não nhưng bây giờ ngoài kia Hà Nội đang bàng bạc một bầu trời xám. Mặt đường ướt lướt thướt. Những tiếng động dường như cũng có phần thảng hoặc hơn ngày nắng. Thỉnh thoảng tôi lại cảm nhận không gian như vậy: những ngày đông khô khốc, trong cơn mưa miên man, lúc tỉnh rượu nửa đêm...luôn luôn là một không gian trù mật xung quanh, nửa như sương, nửa như một hòa âm miên man. Những lúc ấy cảm giác một mình, cảm giác thế giới của những một mình, thế giới của những ngày trước trở về xoắn xuýt vần vũ trong tâm trí như thể một mình đang đứng chơ vơ giữa cánh đồng hoang dưới bầu trời vần vũ mây đen, trong hơi gió hơi đất hầm hập. Vang vọng tiếng người. Ngồi thu lu bên quán nước chè vỉa hè ngó ra xa, xa chỉ quá dăm bước chân là đã có đấy một thế giới khác, thời gian khác. Bất chợt trong tôi vọng về những cảm xúc, những sự kiện, những ký ức...mà ngày thường không biết xếp nó vào đâu. Nó có vẻ đã từng rất thân thiết mà giờ đây trở thành lạc lõng. Làm người chín chắn, làm người trưởng thành mà lại xa lạ thế này à? Nếu là ngày trước đã mặc một bộ tuềnh toàng, cuốc bộ hay lên xe buýt, những chiếc xe cũ kĩ, nhem nhuốc, chật chội đi vô định đến một xó xỉnh nào đấy, tha thẩn theo vết một con người, một số phận cả một buổi. Có thể là một bà bán nước, một gánh hàng rong, một kẻ ăn mày, một người lơ đãng nào đó trên phố...Hay rủ em đi nhâm nhi rượu nếp cái với khoai tây chiên trên gác 2 nhàu nhĩ Flagon, ngó nước mưa lộp bộp trên tán lá bàng đầy bụi...Hoặc là đi thật xa Hà nội có khi. Để nhâm nhi cảm giác lữ thứ, thú thương đau.

"Rằm tháng 7 có cúng gì không anh?". Tín ngưỡng ở VN từ lâu đã suy biến thành một thứ quy ước, một sự phân công. Người Việt không đắm chìm trong cảm thức tôn giáo nhưng họ vẫn giữ một quan hệ tín ngưỡng bền bỉ. Đàn ông đã nhường quyền giao tiếp với thế giới bên kia cho phụ nữ. Đôi khi còn bài bác nhưng hình ảnh chăm chút cho ngày rằm, ngày đầu tháng của các bà đã quá quen thuộc rồi. Chúng tôi lựa một đĩa hoa quả ít tiền giấy, thắp nén nhang chỉ để hồi hướng về những tình cảm gia đình. Hồi hướng về vệt người đại khái đâu chừng 100tỷ đã lang thang trên mặt đất này. Đốt mấy tờ tiền giấy trên mảnh sân lấm nước mưa là tôi lại nhớ những lần về quê nội giỗ ông bà thưở bé. Trẻ con được gọi ra phụ đốt vàng mã. Quê nghèo và hiu hắt. Ngày giỗ chạp làm ánh lên chút không khí của ngày xưa, thời của đại gia đình, tứ đại đồng đường...Bây giờ con cháu phiêu dạt tứ tán. Xa bằn bặt đến nỗi có khi mỗi lần về lại vắng đi một hai người già. Làng quê ngày nông nhàn vắng hoe. Vài người thơ thẩn chuyện vãn dưới gốc cây. Trong ngày giỗ, mọi người cùng nhau vun lại một tâm tình gia tộc đang ngày càng trở lên xa lạ, hình thức.
--------------

Chẳng biết từ hồi nào. Khoảng năm ngoái chăng?

Bây giờ và ở đây

Ở nhà, mỗi lần thắp hương cúng gia tiên tôi thường phải nghĩ 1 lúc xem sẽ khấn gì. Đầu tiên bao giờ cũng nghĩ đến người thân, mong khoẻ mạnh bình yên. Sẽ lại thoáng nghĩ nếu bình yên có thể xin thì nên xin cho tất cả mọi người.

Lên chùa, tôi lúng túng không biết phải làm gì. Thường cố yên lặng.

Nói với em cốt yếu của Phật Pháp hình như là ở chỗ tự mình. Nên Phật vốn không thể cầu. Nhưng vẫn đưa em lên chùa thắp hương bởi chúng ta là người cần nương tựa vào nhân duyên.

Thắp hương. Cốt ở Tâm nhang. Cây hương thẳng. Khói thơm hoá từ Có sang Không. Chân hương đỏ cốt ở giữ lòng son. Thắp 1 nén hương là để chính cái Tâm mình, chiêm niệm sự Tĩnh lặng.

Hoá vàng. Người chết không hẳn là hết. Nhưng là về chỗ KHÔNG THẤY ĐƯỢC KHÔNG BIẾT ĐƯỢC. Hoá vàng là 1 nghi lễ. Cảm giác bình yên thanh tẩy từ LỬA. HUYỄN HOÁ. Nên thận trọng, chăm chú và tĩnh lặng.

Tất cả đều vốn ở chỗ trở về với khoảnh khắc hiện tiền. Nhân quả vốn chính là trong 1 sát na mà thôi. Làm công quả chưa hẳn là để cho kiếp sau. Cốt đưa Tâm về với Tĩnh Lặng trong sát na ấy mà thôi.

Từ bi có cội nguồn từ trí huệ. Khi ta hiểu rõ, thấy biết như vậy về 1 con người với nhân quả duyên hợp thì ta chẳng thể ghét họ được. Nhưng khi chưa đủ đạo hạnh thì việc thấy biết cõi người quá rõ khiến người ta mệt mỏi tuyệt vọng. Cái này C.Jung gọi là "nỗi buồn của Christ"

Khi ở tận cùng của tuyệt vọng, nếu hợp nhân duyên, có khi VỌNG sẽ tiêu tan.

Hiếu đễ. Người đời vụt chạc nên cổ nhân bầy ra phương tiện mà có lễ Vu lan. Há lòng Hiếu phải để riêng cho 1 ngày? Nhưng bởi chúng ta là người, chúng ta cần hộ tâm nhiếp tâm để giữ cho ngay ngắn. Nho gia hương nguyện thường chê người xuất gia lục thân đều lìa bỏ, không phải là người. Vốn họ không biết Phật đề cao chữ Hiếu vì đâu. Cha mẹ là ĐẠI NHÂN DUYÊN lớn nhất, thiết cốt nhất. Phật pháp chỉ cho ta vào chỗ BẤT MỊ NHÂN QUẢ chứ không phải để có thể BẤT LẠC NHÂN QUẢ. Nếu không làm được chữ Hiếu với cha mẹ thì những điều khác đều là hư vọng cả.

3.
Đang đọc lại Huyền thoại Sisyphe của A.Camus. Có thể thấy Người xa lạ là một minh họa cho những ý tưởng được triển khai trong tiểu luận này.

Trích 1 đoạn:

(...) Một thế giới mà thậm chí người ta có thể giải thích được bằng những lí lẽ tồi sẽ là một thế giới thân thiện. Nhưng trái lại, trong một thế giới bỗng nhiên bị tước đoạt mất ảo vọng và ánh sáng, thì con người cảm thấy mình là một kẻ xa lạ. Cảm giác lưu đày này là không thể cứu vãn được nữa, bởi vì nó không còn có những kỷ niệm về một tổ quốc đã mất hoặc không còn hy vọng về một miền đất hứa. Sự tuyệt giao ấy giữa con người với cuộc đời của anh ta, giữa diễn viên với cảnh trí của anh ta, chính là cái cảm giác về sự phi lý. Vì tất cả những người lành mạnh đều nghĩ đến việc tự tử của riêng mình, cho nên không cần phải giải thích thêm mà chúng ta vẫn có thể nhận ra rằng giữa cái cảm giác đó với khát vọng hướng tới hư vô có một mối gắn bó trực tiếp.

(Lấy trong tập Văn học phi lí-Nguyễn Văn Dân)

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2009

Người xa lạ - A.Camus

1.
Bây giờ mà nhắc tới A.Camus thì đã là rất cũ và cổ (lỗ not điển). Để cưỡng lại cơn lũ của mới khác thì có một cách an toàn là nhận béng rằng mình chậm, cổ và sến là xong. Hơi đỏng đảnh mình tự xếp mình vào một góc riêng: người xa lạ. Vừa may A.C có viết một cuốn "Người xa lạ".

2.
Tôi có một ảo tưởng kiên quyết rằng vẫn còn những tác giả lấy bản thân cuộc sống của mình để thân chứng cho những điều mình viết. Tuy nhiên để phù hợp với thực tế hữu hạn thì vẫn phải dựa vào niềm tin cảm tính mà lựa chọn là chính. Và cũng phải làm nhoè dần những ranh giới quá sắc nét đi. A.Camus là một tác giả mà tôi cảm thấy nằm trong vùng nhoè đấy - một cảm nhận thuần tuý qua các tác phẩm. Thực ra trong những tác phẩm của ông mà tôi đã đọc (Dịch hạch, Người xa lạ, Ngộ nhận, Giao cảm, Bề mặt bề trái, Huyền thoại Syphus, Carnets) thì tôi chỉ thực sự bị cuốn hút với các ghi chép và các tiểu luận của ông là chính. Với những tác phẩm văn học hay kịch khác, tôi có thể gạch ra những điều quan trọng nhưng nó không thể khiến tôi đọc một mạch như những tác phẩm kia. Có lẽ một phần do các bản dịch chưa hợp tạng với tôi. Cũng có thể là tôi chưa quen với cách đọc các tiểu thuyết có tính luận đề thời đó? Thành ra đọc chúng ta có cảm giác thân thiết nhưng mệt mỏi, chán chường. Người xa lạ là một cuốn như vậy.

3.
Nhưng chính vì vậy mà tôi thường xuyên muốn đọc lại Người xa lạ. Bởi tôi cũng biết cái cảm giác lạ lẫm, dưng không. Tôi không biết phải làm sao để đi tiếp nó. Và tôi cũng không cảm nhận hết mạch của cuốn tiểu thuyết mỏng này. Chỉ biết rằng cái hoang tàn trơ lì chỉ là bề mặt của dư dục vô ngôn. Không phải là không muốn nói. Chính là không thể nói khơi khơi. Nhưng lại cũng không thể không nói. Đôi lúc vì tha thiết quá nên lời trịnh trọng thì lập tức ngộ nhận và đập phá tơi bời xảy đến. Cũng phải, ngôn ngữ sống trải đâu phải là thứ để gạch đầu dòng vặn vẹo. Thành thực, độ lượng, phản tỉnh và xác tín. Bấy nhiêu chắc đủ.

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2009

Carnets-Albert Camus

Một tinh thần quen sơ sơ vận dụng trí tuệ, cũng biết như Pascal rằng mọi nhầm lẫn khởi từ một lối bài trừ độc đoán. Ở giới hạn của thông minh, người ta biết chắc chắn rằng mọi lý thuyết đều có một phần đúng ở trong, và không một kinh nghiệm lớn lao nào của nhân loại mà nhất thiết phải vô nghĩa một cách tiên nghiệm, cho dẫu chúng triệt để đối chọi nhau, cho dẫu chúng mang tên Socrate và Empe'docle, Pascal và Sade. Nhưng cơ hội, nhưng trường hợp lại buộc ép phải chọn lựa. Thế cho nên Nietzsche cảm thấy buộc lòng cần phải công kích, bài bác Socrate và Ki tô giáo bằng luận chứng. Nhưng cũng vì thế mà ngày nay, ngược lại, ta phải binh vực Socrate, hoặc ít ra, binh vực cái tinh thần ông ta biểu dương, ấy bởi vì thời đại đương lăm le muốn thay thế những cái đó bằng những giá trị gần như là sự chối bỏ toàn thể mọi văn hoá, học thuật, và chính Nietzsche cũng đứng trước nguy cơ: thắng một trận mà chính mình không muốn.


Nói thế dường như có ý đưa vào đời sống của tư tưởng một thứ tuỳ cơ chủ nghĩa. Nhưng chỉ "dường như" thôi, ấy bởi vì cả Nietzsche, cả chúng ta, cùng không thể quên cái phương diện kia của vấn đề, và đấy chỉ là một phản ứng tự vệ mà thôi. Và rốt cuộc, kinh nghiệm của Nietzsche, tăng bù vào kinh nghiệm của chúng ta, cũng như kinh nghiệm của Pascal tăng bù vào kinh nghiệm của Darwin, kinh nghiệm của Callicles bù vào Platon, cùng góp phần hồi phục cuốn sổ ghi của con người và đưa chúng mình về lại quê chung. (Nhưng mọi điều này chỉ có thể đúng là cùng với một "tá" sắc thái uyển chuyển bổ sung).


Dù sao chăng nữa, xem lại Nietzsche (Cỗi nguồn triết học): "Socrate, tôi cần thú nhận điều này, Socrate gần gũi tôi đến nỗi tôi phải liên miên chống đối ông không ngừng".

(BG dịch)

carnet

"Chết đi mà biết rằng mình sẽ bị quên lãng"-có lần đã viết ở đâu đó (liễu ấm hoa minh hựu nhất khai) rằng sau nỗi sợ chết là nỗi sợ hãi về cái điều có thể mô tả là "không là gì cả"-mỗi một cái "là" đều được mô tả bằng "những cái khác".

Người ta nghĩ về cái không_tồn_tại bằng cái tồn_tại. Nghĩ như thế nào về sự mất đi nhỉ? Cái gì mất đi? Cái đó có thực không? Thực tế cái đó trong tương quan với cái đang_là_tôi suy nghĩ là ntn?

Với đa số mọi người, ý nghĩa, giá trị của họ nằm trong sự đánh giá, ghi nhận của người khác. Điều này có bình thường, hiển nhiên không?

Đầu tiên là từ cái tương quan ta- với người đã. Con người lịch sử, con người xã hội. Nhưng vấn đề luôn bắt đầu từ "tôi là gì". (Một tiếng vọng "tôi là gì").

Đau đớn là dấu hiệu chắc chắn nhất về bản năng của níu kéo tồn_tại. Có sinh thành hoại diệt nhưng như thế nào mới là quá trình vô ngã?

Văn học: truyền thụ điều mình cảm thụ vào trong những điều mình mong muốn người khác cảm thụ được. Vậy thế nào là đời sống riêng của "cảm thụ". "Nhà văn không nhất thiết phải có tư tưởng"-câu này có đúng không? Ví dụ như âm nhạc-lý tính của âm nhạc được nhận diện như thế nào?

"Cảm thụ" tức là cái tri giác nghiệm sinh tổng thể của cá nhân. Nó không dẫn lối cá nhân nhưng tác động đến ngã rẽ, lựa chọn của họ. Làm sao để nói 1 câu chuyện bình thường tách rời cái tuyệt đối mà vẫn có ích?

"Đời sống biến thành định mệnh vào lúc chết-1 thứ định mệnh cho kẻ khác"-cũng còn 1 ý nữa: "trong bao lâu?". Có vẻ không quá 3 thế hệ. 100 năm. Trăm năm trong cõi người-ta.

Hình ảnh đời sống dưới hình thù 1 định mệnh-là khi người ta luôn nhìn về những cái đã xảy ra và gán ghép cái mong muốn của mình. Nó không liên tục.

Văn học: "riêng cái nhịp chuyển động là phải được phục hồi nguyên trạng". Nhịp chuyển động của cái gì? Cảm xúc? Hay cảm thức?

"Những âm vang kia là 1 ngôn ngữ mà ngày nay tôi là kẻ một mình nghe ra trong kỷ niệm".

Hoài vọng luôn đượm màu trìu mến và rộng lượng. Bởi không chứa những định kiến? Bởi chỉ biết yêu thương? Và không còn trong hiện tại (chua chát) nên luôn dễ xếp loại? Nhưng quả thực nó làm cho người ta biết đến khả năng lớn hơn của lựa chọn yêu thương.

"Không phải cho tôi"-"cõi đời này không phải cho tôi"-Hay là không phải cho riêng tôi?

"Dầu sao đi nữa"-đặt mình vào vị trí người khác.

"Ly biệt là quy luật, ngoài ra là ngẫu nhĩ"
"Một tấm lòng không cay đắng chát chua"
"Mọi nhầm lẫn khởi từ lối bài trừ độc đoán"
Nhưng cơ hội, trường hợp lại ép buộc phải lựa chọn-"bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này"



"Cùng góp phần hồi phục cuốn sổ ghi của con người và đưa chúng mình trở lại quê chung".

Lối lập ngôn lờ đờ, lưỡng lự, dầu sao đi nữa...