Hiển thị các bài đăng có nhãn ký ức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ký ức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 9, 2021

Niệm thiên địa chi du du

1.

Trong truyện huyền huyễn tôi đang đọc, nhân vật chính ở trận chiến cuối đã sử dụng thuật triệu hồi cả chiếu ảnh quá khứ và tương lai của bản thân về để đánh boss nên dù thắng thì sau đó phải trả giá là sẽ có mấy nghìn năm biến mất tại thế gian. Đại khái là triệt để biến mất. Bi ai là biến mất rất nhanh khỏi trí nhớ của tất cả thế gian, từ ngay cả những lão chiến hữu. Mọi người nhanh chóng ứng phó tình huống bằng cách cho dựng tượng, viết sách lưu truyền khắp càn khôn. Sách tượng còn đó nhưng kí ức trong tâm trí mỗi người sống đương thời thì đều bị xóa sạch. Độc giả theo dõi  mạch truyện từ điểm nhìn toàn tri, đọc đến đây không khỏi cảm khái, ngậm ngùi. Đây là một cách cục khá hay khơi gợi suy tư. Sẽ khá là khó để khai triển xa nhưng tôi vẫn muốn thử ghi lại đôi dòng phác thảo để sau còn trở lại.

Được nhớ đến và không ai nhớ đến thì sao? Trong một cuộc đời hiện thực thông thường, được ai đó nhớ đến tức là chỉ dấu của sự tương giao liên nhân vị trong đời. Sống là sống ở đời, là sống_với. Con người là sinh vật xã hội nên nhu cầu kết nối xã hội là một cấp độ nhu cầu căn bản thường được xếp ngay sau những nhu cầu sinh tồn. Điều này khá hiển nhiên đến nỗi chúng ta ít khi suy tư về nó. Nhưng đấy chỉ là những mô tả chứ không phải là những giải đáp về bản chất con người của chúng ta. (Cho dù ngay sau đây chúng ta sẽ chất vấn cả cái bản chất ấy thì câu hỏi vẫn luôn chờ chực ở trong tâm trí như một cái bẫy giăng sẵn của ngôn ngữ.). Ngay tức thời, sau ý niệm "kí ức" sẽ cùng khởi lên với nghi vấn về bản chất là những ý niệm khác như "sự vĩnh hằng", "ý nghĩa", "căn tính", "mục đích"...Tóm lại sự hiện hữu của cá nhân đối diện với hư vô sẽ gợi lên tất cả mọi điều cùng một lúc. Vấn đề thì cổ xưa như vũ trụ nhưng mỗi lần sẽ được kể lại theo một cách nào đấy khác nhau.

Có một sự thực là chúng ta luôn cảm thấy không hiểu rõ bản thân mình. ("Hiểu" đến lượt nó cũng lại trồi lên). Vậy thì có ý nghĩa gì không việc người_khác biết mình, hiểu mình. Nếu không biết không hiểu không cùng chia sẻ một tương giao nào đấy thì kẻ_khác đối với ta chỉ cũng như là cây cỏ gỗ đá vô tri mà thôi. Rồi ngay cả cái "bản thân mình" cũng là một tập hợp kí ức lộn xộn đáng ngờ nữa. Sau tất cả, bi ai quyến luyến trần gian này đến từ đâu? Học Phật chúng ta nhắc lại Ngũ uẩn thì dễ nhưng chứng đắc thì đâu phải ở lặp lại mấy câu thuyết pháp mà xong. "Đời sống của mỗi chúng ta thực chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẻ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng" (wiki).

Chủ đề mà tôi thường xuyên quan tâm là xoay xung quanh những ý niệm về "câu chuyện" và "ý nghĩa" trong các diễn ngôn của chúng ta. Chúng đều có vẻ ẩn giấu đằng sau là ý niệm "nhân quả". Tin rằng nhân quả là phổ biến nhưng hai ý niệm kia thì không tất yếu tồn tại. Nó có vẻ chỉ ra thế đối đãi của điểm nhìn bị hạn chế trong diễn đạt chủ quan của căn tính cá nhân. Nếu chúng ta cứ mải cho rằng chân trời ý nghĩa của đời ta ở mãi xa kia thì làm sao ta kết nối được nữa với đời thường, với những người sống với ta? Ta phải chăng là sự hòa hợp của đối đãi lúc này và ở đây với tình huống hiện tiền? Thế gian là phóng chiếu của cách ta tri nhận tự ngã.

Ký ức thực tế là kết quả của chọn lọc có tính hướng đích. Giống như nhìn và thấy, cái được thấy là cái được chọn trong khi cảnh quan thì không có biên giới. Cái chi phối sự thấy là nền tảng giáo dục, thiên kiến, sở thích...Chúng ta hiểu thế giới bằng và nhờ kí ức theo cơ chế của ẩn dụ cùng tất cả đặc tính mơ hồ, tạm thời và hay thay đổi của nó.

Cũng giống như câu trả lời phỏng vấn của diễn viên Keanu Reeves khi được hỏi “Anh nghĩ việc gì sẽ diễn ra khi chúng ta chết đi, Keanu Reeves?” - "Tôi biết rằng những người yêu ta sẽ luôn nhớ đến ta." (I know that the ones who love us will miss us.) - nhân vật chính trong truyện huyền huyễn kia hẳn sẽ nương tựa vào trí nhớ của những người yêu mến y để tạm yên lòng. Vậy mà tác giả chơi khăm y, cho tẩy xóa bằng hết thảy những kí ức đấy; cùng lúc chơi khăm độc giả, khiến chúng ta bâng khuâng với hố thẳm của lãng quên. Nhà văn không phải Thượng đế để đưa ra các lí giải cuối cùng - dù rằng hơn bao giờ hết, các tác giả của thể loại huyền huyễn được tự mình chạm vào quyền lực của Sáng tạo giả trong việc giả lập mọi mô hình cho vũ trụ huyền ảo của riêng y ta. Chẳng cần đợi đến cuối truyện, đôi lần nhà văn cho nhân vật của mình trải nghiệm cửu thế luân hồi. Trong mỗi luân hồi đều không có trí nhớ tiền kiếp cho đến khi thức tỉnh. Nếu có luân hồi với bản ngã vĩnh hằng khuyến mại thêm trí nhớ tiền kiếp nữa thì nhân sinh trở thành dị dạng đến mức nào? Không phải tự nhiên câu "thế gian vô tiên" lại hay được các tác giả huyền ảo nhắc đến nhiều như vậy. Chính sự hữu hạn của nhân sinh làm nên nhân sinh. Nếu quả thực có thể đột phá giới hạn đó, căn bản chúng ta không phải là chúng ta nữa, và tất nhiên chúng ta sẽ không hiểu được hành vi của KẺ ĐÓ. Ai mà quan tâm con kiến nghĩ gì?

2.

Sáng nay trong một giấc mơ của tôi có bác - ông già gân. Hình như là lần đầu vì tôi hầu như từ lâu đã giải quyết xong mọi vướng bận với mộng mị. Tôi có thể hiểu rõ được cơ chế tinh thần của bản thân từ mỗi giấc mơ và từ đó hầu như tôi cũng không mơ nữa. Như mọi khi, giấc mơ là một tình huống nhân sinh giả lập mà hình tượng bác được ẩn dụ cho cảm hứng của tôi về lối sống, phong cách và đức tính của bác. Tôi đang có chút chần chừ cầu âu khi nhận lời hướng dẫn lứa trẻ. Vậy là tôi sẽ nhớ đến cách bác đã từng truyền cảm hứng cho người trẻ là tôi những ngày đầu bước vào đời. Và tôi tự nhận ra mình nên làm gì cho đúng sơ tâm. Người đi xa mãi với người lâu ngày không gặp trong trường hợp này đâu có gì khác nhau? Từ phía của người_khác, tất cả sự hiện diện sinh động của ai đó trong ta đến cùng cũng chỉ đến như thế là đầy đủ. Nhưng đây là ở bình diện vỏ ngôn ngữ. Những ngày bác mới mất, chưa bao giờ tôi trải qua nỗi buồn và cô độc đến thế. Kinh nghiệm cảm xúc đó tràn ngập tâm trí tôi, hàng đêm tôi nằm co quắp trong bóng tối, nước mắt cứ ứa ra và hơn bao giờ hết tâm trí tôi xác quyết một tri nhận về hiện hữu. Tôi tuyệt không tin vào hư vô. Hư vô chỉ là bóng đổ tiêu cực của hiện hữu. Hư vô là một từ rỗng nghĩa và vô ích. Tôi có thể hiểu vô thường, hiểu vô ngã nhưng không có chỗ cho hư vô. Từ chỗ đó, dần dà tôi đã đi ra khỏi bóng tối của nỗi buồn đau cô độc thăm thẳm.






Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

ta tưởng tượng từ một tương lai nào đó nhìn về hiện tại

mắt ngày xưa trong sáng
ngậm đa tình dấu duyên
một cười như chờ đợi
hai nỗi buồn tan vơi

bàn tay xưa đếm tháng
bàn tay giờ kể năm
một bên trời mưa hạ
một bên trời phiêu phong

mưa giông giấu lũ trong lòng
gió reo góp gió ru dòng lũ xa...

mắt ngày xưa trong sáng
ngậm đa tình dấu duyên

Khi chúng ta còn đôi mươi, ta tưởng tượng từ một tương lai nào đó nhìn về hiện tại. Khi chúng ta đi qua hầu hết những tháng năm tuổi trẻ, ta tưởng tượng về một ký ức hầu như không có thật. Ký ức hầu hết là tự huyễn. Không hề đáng tin.

Buổi sáng, ngồi một mình trong vườn trường cũ, chỉ một thoáng rất hiếm hoi tôi nhận thấy chút mềm lòng. Điều mỉa mai là từ khi nhận ra tình thế cuộc đời mình, tuyệt đối chưa bao giờ tôi có nhu cầu lưu luyến gì với quá khứ hay tương lai. Điều đó đã giúp tôi đứng vững nhiều năm. Nhưng cũng nhiều năm tôi lờ mờ cay đắng nhận ra sao mà mình lại cứng lòng đến thế.

Việc tổ chức một buổi hội khóa sao cho khỏi vô vị - ở đời nhiều việc biết là vô vị mà vẫn phải ở đó với nó, thành ra là một việc chế tạo ý nghĩa. Nó sử dụng thuần túy các chất liệu của hiện tại nhưng vẽ ra một cảnh tượng hồi cố giả tạo - kiểu tranh bờ hồ. Tất nhiên vẫn có thể dẫn dụ mọi chuyện thoát khỏi tình trạng khánh kiệt tư tưởng này. Nhưng lựa chọn đi với đám đông là lựa chọn chấp nhận thủ đoạn. Và chỉ có thể biện minh bằng kết quả.

Sau cùng, câu chuyện quay về vấn đề nguồn lực của mỗi cá nhân. Cuộc đời này mình có bao nhiêu mà đánh đổi được quá nhiều đến thế. Ngoài ba mươi là anh đã phải lựa chọn. Anh chợt nhận ra quả tình anh có thể làm bất cứ điều gì nhưng anh sẽ không thể làm tất cả mọi thứ. Anh phải lựa chọn, và chấp nhận hệ quả từ hành động lựa chọn này. Anh được chủ động trong hành vi lựa chọn của mình.

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Những câu chuyện kể

Một người sau khi mất đi thì di âm là những gì? Là những câu chuyện kể giữa những người thân quen. Có những câu chuyện thảng hoặc như nắng vãn. Có khi âm ỉ như những ngày mưa dầm. Nhưng phần lớn thì sẽ chìm vào quên lãng. Thỉnh thoảng trở lại trong những mộng mị, điềm triệu. Phần lớn thì trong dạng thức phải làm người sống e sợ. Đấy là trong phần tâm thức của người đã lớn. Còn một phần khác kiên cố hơn, như đá tảng mờ xám, là trong phần ký ức thơ ấu. Ký ức về ông bà mình phần nhiều là như vậy.

Tôi nhớ hồi nhỏ bà ngoại hay kể chuyện cho tôi nghe. Có câu chuyện về bà nội của bà. Một cụ già ngoài chín mươi tuổi vùng bán sơn địa nghèo mạt ăn trầu bằng cối. Bà nội thương cháu gái duy nhất mồ côi mẹ từ bé đùm bọc nhau. Rồi một ngày bà nội ra đi nhẹ nhàng ngay trong vòng tay của cháu nhỏ giữa giấc ngủ say...Tôi không biết gì hơn ngoài màn sương mờ ấy. Cũng không thấy mẹ tôi kể thêm gì. Nhưng trong thế giới thơ ấu của tôi, trong những chuyện kể lầm rầm đêm hè đã có một người bà xa xưa - bà của bà ngoại.

Bây giờ tôi cũng không hay kể về bà ngoại nữa. Vì không biết kể thế nào, kể với ai. Lũ nhỏ thì lại gắn bó với những ông bà của chúng nó. Bà ngoại tôi mất đã 5 năm. Chừng đó thời gian đủ để những ký ức về bà lắng xuống như lớp trầm tích dưới đáy sông cả. Bạn bè anh em của bà ngoại cũng hầu như đã mất hết. Lũ cháu chúng tôi đã là những người lớn, ít gặp nhau và hầu như không biết kể chuyện.

Những âm thanh rầm rì đêm hè ngày xưa vì vậy cứ vang vang, vảng vất trong tâm trí đứa cháu

"...Bà ngoại mồ côi mẹ từ nhỏ. Không có anh em. Thân thiết với 2 người em con dì. Bây giờ các ông mất cả rồi. Bà Bật cũng mất. Bà giờ chả còn ai thân thiết cùng trang lứa. Nằm thiêm thiếp cả ngày trong buồng nhỏ. Nhiều lúc không phân biệt được sáng chiều. Đã ăn chưa cũng không nhớ. Mong mỏi duy nhất là được đem về trong xã chôn cùng ông. "Ở ngoài này toàn ma lạ sợ lắm, chả biết lối nào mà đi".
Chục năm trước bà về quê xây mộ cho bố mẹ. Bây giờ cũng chả còn họ hàng gần. Các con bà không về nữa. Mình chưa bao giờ về quê bà. Hồi trước bà bảo khi nào cháu đi học ĐH rồi chở bà về quê chơi. Quê bà là cả 1 xứ sở trong mình với những câu chuyện ăm ắp ngày nhỏ. Bà thường bắt đầu bằng câu "Dạo đấy vào viền tháng chạp..."-chữ viền là tiếng địa phương. Bây giờ thì bà chả đi đâu được. Mình vẫn chưa về quê bà bao giờ. Lại sắp đến viền tháng chạp..."

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Khoảnh khắc


Hồi lâu, có lần chợt nghe thấy bài "Khoảnh khắc" thời Làn Sóng Xanh tự nhiên nổi cơn nhớ ghê gớm thời sinh viên những năm đầu đi học đại học. Mùa thu mù mù, cái làng ven đô, cánh đồng chiều, vườn cây rậm lá. Những tập bài hát LSX có sẵn gam để tập guitar, những tờ tranh bột màu trên giấy báo. Những ngày tháng đạp xe lang thang khắp chốn. Bờ sông Hồng một chiều mùa đông, quán rượu cóc ven sông mùa đông, cuộc rượu cuối năm trong làng với những người thợ xây ở Kẻ Gỗ. Một khúc ca xưa nhiều khi giống lớp bụi trên giá sách, vô tình dính vào là hắt xì ầm ĩ, kỷ niệm văng tóe loe, gai góc sởn dựng từng lỗ chân lông.

Tối. Tôi tìm dọc phố, tìm một chỗ ngồi vỉa hè có thể đốt vài điếu thuốc. Một chỗ nhập nhoạng không quá sáng. Một chỗ không đông người nhưng đừng vắng thảm. Tốt nhất chủ quán có vẻ dửng dưng đơn giản chờ ngày qua. Bàn ghế thấp và những dáng ngồi chùng gập. Mùa thu đấy, ông LQV ạ.

Muộn. Trong quán chuyển mấy bài nhạc vàng xưa lắc. Thế là nhớ lại về tóe loe như hắt xì hơi. Tôi nhớ những ngày học lớp 9 đi trọ học xa nhà. Một ngõ nhỏ, khuất khúc, nép mình bên kiến trúc nhà thờ cũ đã được chuyển thành chỗ cho mấy trường học. Thành phố nhỏ những năm đầu 90s. Nhà đối diện suốt ngày mở nhạc vàng, chính là mấy bản đang nghe. Tiếng cassette đều đều văng vẳng cả ngày trùm lấy một góc không gian, họ đánh bạc cả ngày trong đấy nên ít nói chuyện, tiếng người khẽ, thảng hoặc. Điệu nhạc như một thứ mùi hương len lỏi từng ngóc ngách, dù tận gác xép buồng trong thì vẫn nghe rõ. Giờ thì nó đã trở thành một biểu trưng của một đoạn ký ức.

Chếch ở góc bên, một nhà hàng xóm khác suốt ngày mở video, phim chưởng Hồng Kông các thể loại. Một gia đình đông người dễ mến. Bà cụ già bán dưa chua và những thứ tạp hóa lặt vặt ngay hiên nhà. Bác gái nhận dệt len tại nhà, cái máy dệt nhỏ cá nhân chạy cả ngày; thỉnh thoảng cả bác trai cũng làm. Vừa làm vừa xem băng video. Mấy người con đều lành và dễ mến. Cả người anh lớn đi học xa nhà nữa là năm. Quý nhất là thằng bé út lúc ấy chừng lớp 3 lớp 4 gì đấy: trắng trẻo, bầu bĩnh và lanh lẹ. Nhiều năm sau thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm gia đình họ, cho đến khi tự thấy đã quá lâu để vẫn thấy tự nhiên như những ngày trước. Những người hàng xóm cũ cũng dần chuyển nhà đi hết.

Tôi vẫn nhớ rõ hầu như từng người từng nhà một: nhà ông bác sỹ thấp người béo ị có hai cô con gái, tuy kỹ tính nhưng thỉnh thoảng vẫn có thể sang vay ít mỡ hay nước mắm (cho món cơm trộn những ngày cuối tháng hết nhẵn tiền); một nhà khác giàu nhất vì có cửa hàng đồng hồ ngoài phố lớn; một anh cựu võ sỹ quyền anh không nghề nghiệp ổn định, một bác hưu thích đi bộ việt dã và hay bình luận thế sự có thằng con cùng tuổi hay đứng nói chuyện với tôi ngoài cửa...

Tôi ở trọ (thực ra là ở nhờ và góp tiền ăn chung) cùng mấy người anh lớn đang học tại chức. Nhịp sống trộn lộn đời học sinh mới lớn với đời sinh viên nghiệp dư. Quãng thời gian nửa năm đó chừng như đã dài hơn, dày dặn hơn bằng những trải nghiệm xê dịch của tuổi thiếu niên. Đá cầu buổi chiều, đánh bài, chạy bộ trong công viên, đi (theo) cưa gái ở KTX...Những lúc hết tiền đến bữa, đứng một mình đầu ngõ, cay đắng không biết phải làm gì. Những lần khẩn trương leo lên gác xép cho anh tiếp bạn gái nửa đêm. Chiều mưa ngồi tán dóc và tranh luận kịch liệt về chuyện liệu có thể sống một cuộc đời với những chuyến đi bất định liên miên được không? Một buổi chiều tự nhiên xách ba lô lên và đi luôn một mạch. Cái thằng hay đứng ngoài cửa nói chuyện phiếm với tôi chở tôi ra bến xe. Hình như là tôi có sang chia tay với nhà bác hay chiếu video - tôi đã bỏ dở một bộ về Võ Đang Thất Hiệp.

Khi đã quá lâu mình không quay lại thăm mọi người, rồi mình và mọi người cũng khác xưa, thì việc đi vào một ngõ cụt hóa ra có gì bất tiện như kẻ không được mời - trong ngõ nhỏ anh phải là khách của một nhà ai đó. Dù không vào nhưng vẫn biết là đang đi qua ngõ cũ năm nào mỗi bất chợt ghé thăm thành phố. Trong khoảnh khắc, sẩy ra lại tòe loe tèm nhem ký ức ở đầu mũi.

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

Cái đuôi chó và một nghìn rưỡi

1.
Phải nói trình độ câu pageview của bác ĐHP tăng nhanh chóng mặt :P Mình mãi mới lẽo đẽo được 13000 mà bác í đã kịp đến 10000 rồi. Nhờ Google analystic làm mình biết được mỗi ngày có khoảng vài chục người ghé thăm (nguyên tắc là vậy, giảm trừ chế độ tự động của web có khi còn ít hơn). Nói cho nó long trọng mấy chục anh chị em cô bác là nguồn an ủi động viên lớn cho tui những ngày tháng lan man này :)

2.
Ăn theo chuyện mười nghìn của bác ĐHP, tôi có chuyện một nghìn rưỡi, vắn tắt thế này: hồi sinh viên có lần có thằng kiếm đâu được cái đuôi chó luộc mang về nhà trọ gầy độ nhậu. 7 thằng sinh viên vét túi mua được nồi nước phở, một cân bún thì...hết tiền. Bỗng dưng móc túi khác thì chính xác là còn một nghìn rưỡi. Anh em quyết định mua dưa chua về ăn cho có rau :P Thằng bạn dân sinh viên maketting đi 1 lúc mang về khá nhiều dưa và một ví dụ kinh điển về kinh nghiệm đi chợ. Nó mua lần đầu 700 đồng tiền dưa chua, đi một đoạn rồi quay lại mua thêm 800 đồng. Thông thường các bà bán dưa bán theo cữ tiền khoảng 1000 đồng, nên nhờ sáng kiến này mà số dưa chua mua được đã tương đương mua bằng khoảng 3000 đồng! Một kinh nghiệm siêu kinh điển :D

3.
(Hy vọng mình lại bứt lên được 1 đoạn pageview :)

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2009

Những người ta biết từ xưa

1.
Lâu lắm lại có lần tỉnh giấc lúc rạng sáng. Bên ngoài lạnh và trăng vẫn còn bàng bạc trên mọi bề mặt. Những lúc thế này, ngồi im một chỗ cũng thấy thú vị. Nhớ những gì không đâu.

Anh vẫn bận à? Chán thế chứ, cả hai chúng mình đều bận. Ừa mà chán thật dẫu nghe hơi kỳ. Ít nhất phải có ai đó thảnh thơi lêu bêu để thấy cuộc đời không phải là những rập khuôn tăm tắp chứ nhỉ.

2.
Thấy trăng sáng lại nhớ những đêm trăng sáng ở quê và thói quen đi dạo hàng đêm. Nghĩ luyên thuyên nhớ đến một thằng cùng xóm đã chết từ xưa. Nó cùng độ tuổi mình, học đến lớp 9 thì bỏ ở nhà phụ bố mẹ. Năm sau nó chết vì tai nạn giao thông không đâu. Mình với nó coi như không chơi nhưng biết nhau vì cùng tập Đội hồi bé. Những lần đi dạo đều khoảng 9-10 giờ tối và hay gặp nó ngồi chơi trên thành cầu. Một lần nó nhận xét "thằng T hay đi đâu đấy vào những đêm trăng", vậy rồi nhớ riết cái việc có đứa ất ơ nó để ý thói quen của mình. Rồi nó chết vào một chập tối khi đạp xe đi đưa hàng; bị ô tô tông phải dù đi sát lề đường. Tối mình đi ngang qua đó, nhìn cát dưới chân thấy hơi thắc mắc cho đến khi biết chuyện. Nó làm mình thấy cuộc đời cứ kỳ khôi vớ vẩn ngang xương không đâu-chẳng có lý luận gì hết. Thế thôi chứ chắc nó cũng chẳng tưởng tượng ra là đến tận bao nhiêu năm sau vẫn có thằng nhắc chuyện ngày đó.

3.
Ông Trịnh Mai mất. 76 tuổi là chẳng sớm chẳng muộn. Có điều có những người, những thứ ta biết từ rất lâu, ta vẫn thấy bình thường bỗng nhiên một ngày chuyện hết bình thường. Và ta biết cuộc đời là những không đâu.

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Hà xứ thị.

Nửa đêm hôm qua tỉnh giấc. Nghĩ đến việc viết vài dòng. Muốn kể lại cho con nghe chuyện bói Kiều bà kể ngày xưa. "Một vùng cỏ mọc xanh rì/Nước ngân trong suốt thấy gì nữa đâu/Gió chiều như giục cơn sầu/Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu...". Cũng chẳng ngờ lại là đêm Trùng Cửu. Buổi sáng ở quê hôm đó ra đồng thăm mộ bà. Đã cuối mùa gặt, đồng trơ gốc rạ, một vùng toàn những nấm đất cỏ lác xác xơ. Nhớ lại những ngày cuối đời bà thường lo lắng xuống đất đen không quen biết ai, không biết đường đi chốn tới. Đã chỉ là một cảm giác bần thần hoang vắng.

Tìm trên kệ sách tập Kiều cũ của bà để lại bất giác mở trang và thoáng đọc. "Thương tình con trẻ thơ ngây...Đau lòng tử biệt sinh ly...". Không khốc.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

Một khoảnh khắc

Ảnh: Những đồi chè trên cao nguyên Mộc Châu. By DPEA06
Có những bài thơ đọc 1 lần, thậm chí không nhớ tên, nhưng lại thường xuyên trở về trong trí nhớ, dẫu nhìn kỹ cũng chẳng có gì đặc biệt.
Đành nhủ lòng, đó là một khoảnh khắc.

-------------------------

“- Tôi ơi, tôi từ đâu về đấy?

- Vâng, tôi vừa chạy mê bên những cánh đồng làng

Cùng chú chó con đuôi xoè như bím tóc

Tôi tìm tuổi thơ, đôi bàn chân xơ tướp

Chỉ gặp đồi hoang và những cánh diều

- Tôi ơi, hình như ai đang gọi?

- Ồ không, tôi đang hát với bạn bè tôi

Những dế mèn khúc lãng du lá cỏ

Ngày râu tóc lan man rêu thành cổ

Bóng tháp Chàm trầm mặc mấy mùa trăng

- Tôi ơi có ai vừa qua?

- Gió đấy thôi mùa thu và tiếng kẹt cửa

Trả tôi về hun hút một men sông

Tôi trong veo nhìn tôi ám bụi

Tôi bộn bề nhìn tôi rỗng không

- Tôi ơi về đâu thế?

- Thì tôi về gieo gặt cánh đồng tôi

Nghe tiếng hạt cựa mình trong đất ẩm

Rồi thảng thốt, tôi nhìn tôi lạ lẫm

Rồi trong mơ tôi gặp những mùa vàng

- Kìa tôi ơi, gì lãng đãng như sương

- Là khói ấy, lá vườn hoang tôi đốt

Gọi chim về khơi một tiếng chuông ngân

Là tôi ấy, ánh ngày lơ đãng tắt

Chợt ngước nhìn, trước cửa một vầng trăng”.

(Hương Đình)

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2009

Chuyện một gia đình - p2: Đứng ở đằng sau

Minh hoạ phục vụ tưởng tượng của bác NL
Nguồn: http://www.writers-free-reference.com/selfpublishing.htm

2.
Tôi đã đọc quá một nửa số sách thời trẻ con bằng tư thế đấy: đứng ở đằng sau, hơi khom lưng và nhìn qua vai người lớn để đọc ké. Phần lớn các cuốn truyện tôi được đọc thời đó là từ nhà bác T mà có. Ở khu tập thể cũng có một vài người lớn nữa hay đọc sách nhưng bác T là người thường xuyên có sách mới để đọc nhất. Hầu hết tất cả đều là sách mượn ở đâu đó về, có vẻ những người lớn họ trao đổi sách với nhau, nên nếu như mình không theo dõi kịp thì có nguy cơ sẽ không đọc hết được cuốn truyện. Vì với một đứa trẻ 7, 8 tuổi thì chẳng mấy ai thèm cho mượn sách nên tôi chỉ có một lựa chọn duy nhất là đọc ké sau vai người lớn. Nói chuyện cái vụ đọc ké này, hẳn ai mà đã trải qua cảnh mình ngồi đọc mà có đứa nó cứ thập thò đằng sau, khụt khịt rình rập thì nó khó chịu đến mức nào. Tôi cũng biết thừa điều đó nhưng cứ trơ mặt ra đánh bài lì kết hợp với những bày tỏ khá nhún nhường nhằm tìm kiếm sự đồng ý của người lớn.

Đọc ké là một nghệ thuật và với những nỗ lực lớn lao, phải nói tôi cũng dần trở nên thành thục bộ môn này. Cần phải tối thiểu hoá thời gian đứng gần người lớn nên phải đọc thật nhanh, nhanh hơn họ để họ có lúc không thấy mình bên cạnh. Không được đứng sát quá. Cũng không được gây ra nhiều tiếng động làm phân tán sự chú ý của họ. Không được tỏ thái độ sốt ruột khi chờ họ giở trang. Thế đấy, phần thưởng là bây giờ tôi không chiến tự nhiên thành, luyện được phép đọc chụp ảnh* với tốc độ đọc nhanh gấp khoảng từ 3 đến 5 lần người đọc bình thường. [Tự kiểm duyệt: Phong cách lịch duyệt tinh tế rộng lượng phi phàm ngày nay có khi cũng từ đó mà có được. Chưa kể óc tưởng tượng suy luận ngang ngửa lung tung cũng nhờ những lúc tận dụng thời gian chờ giở trang mà phát triển lạ thường ^^]. Tất nhiên phương pháp này chỉ nên áp dụng để đọc những thứ như báo chí, văn chương các loại chứ không nên áp dụng trong việc đọc sách thuốc chẳng hạn.

Có một khoảng thời gian hiếm hoi cũng có thể cầm được cuốn sách tự đọc, đó là khi người lớn họ đi đâu có việc hoặc đơn giản là đến giờ ăn cơm. Tôi thường ăn cơm nhà rất nhanh để chầu chực những khoảng thời gian đó. Không phải lúc nào họ cũng để lại cuốn sách đang đọc dở ở chỗ cho mình tuỳ tiện cầm lấy, nhưng dần dà phải nói mọi người cũng nể tình lì lợm của mình mà ý nhị vứt lại đấy cho. Cũng vì vậy mà mình luyện được cái tính dịu dàng ý nhị với sách. Phải cầm cuốn sách nhẹ nhàng, không bẻ gập, đọc thật nhanh để tiết kiệm thời gian và cũng để tý nữa cho họ nghỉ ngơi một lúc mà không có mình đứng kè kè ở bên. Lúc đó thì mình sẽ rình rập từ xa, căn xem khi nào đến trang mình đọc dở thì lại rón rén tiến đến. Mọi việc lại lặp lại chu trình trên và chuyện này kéo dài độ 2-3 năm cho đến khi tôi tạo được tín nhiệm để có thể đàng hoàng hỏi mượn mang về nhà.

Nhà bác T đông lượt người đọc nên thường tôi không mượn được mà phải tận dụng tối đa việc xem ké. Bù lại bác là người dễ tính nhất trong việc cho phép tôi thập thò ở bên cạnh mà không bày tỏ thái độ khó chịu. Nhà bác cũng thường là chỗ tụ tập của bọn trẻ con cả khu tập thể nên việc lân la chơi để chờ đọc sách cũng không có gì là khó khăn lắm. Cái lợi của trẻ con tập thể là do nhiều lứa tuổi tập trung chơi với nhau nên chúng tôi biết được nhiều trò chơi từ rất sớm so với các bạn đồng lứa. Từ năm lớp 5 là tôi đã biết chơi cờ vua, cờ tướng và đánh bóng bàn. Tất nhiên những môn đại trà khác như đá bóng, đá cầu, chơi bi, đánh gấc, câu tôm, câu cá...thì không thèm tính. Tất cả những trò đấy tôi đều học từ những lần lân la chơi chung bên nhà bác T. Không hẳn vì chỉ từ những người trong nhà mà thực ra vì mọi người hay tụ tập chơi ở đó. Nơi duy nhất có thể chơi bài đến 12 g đêm-một thời gian biểu xa xỉ với bọn trẻ con. Cũng là hiên nhà duy nhất đêm sáng trăng có thể ngồi hóng những câu chuyện chiến trường của mấy người đã từng đi bộ đội. Đôi khi là những chuyện ma quái, chuyện cười, chuyện bốc phét của mọi người. Cứ như vậy, bọn trẻ con chúng tôi bỏ ngoài tai những càm ràm của người lớn về chất lượng vệ sinh của cái sân chơi kỳ thú này.

Căn hộ bẩn thỉu và rách rưới một cách vô phương cứu chữa. Bằng những kiểu khác nhau nhưng cạnh bàn, nền nhà, mép chăn hay mặt chiếu đều đen bóng đến chai lì. Mùi thuốc lào lẫn với mùi mồ hôi lâu ngày quyện lại thành một thứ không khí khai khai khen khét ở bất cứ đồ vật nào nếu ghé sát mũi. Nhưng vì chỉ đến chơi ở đây nên với chúng tôi mọi thứ chẳng có vấn đề gì nếu như không chui đầu vào đống chăn chiếu nhà họ. Một cách cố ý, mấy bố con kẻ sỹ cũng thường tỏ ra rằng khi bẩn một cách kỷ lục thì nó cũng là bản sắc dẫu điều này hơi có hại cho bản sắc thầy lang của bác T - một chủ đề để giễu cợt (dù không ác ý lắm) của những người xung quanh.
...
Cứ như vậy, gia đình bác tồn tại trong lòng khu tập thể một cách cân bằng khéo léo giữa sự khác biệt có phần thua thiệt (dẫu rằng cái thời bao cấp nghèo khó đấy thì hầu như ai cũng như ai) về gia cảnh với sự hoà hợp và thu hút với lũ trẻ con chúng tôi. Nhiều năm qua đi nhưng cái thiện cảm trong tôi vẫn dành cho những ngày tháng được vui chơi và khích lệ một cách độ lượng trong căn hộ gia đình bác hàng xóm. Một tâm thế rộng rãi, hài hước, hơi lãng mạn và nhiều khi hoang đường phóng túng có lẽ đã bắt rễ từ những ngày xưa thân ái ấy...
---------------


(*) - Đọc chụp ảnh là đọc cả đoạn chứ không đọc từng từ. Khi đọc mỗi mắt nhìn một góc đường chép khung nhìn, đảo đi đảo lại như rang lạc (dành cho bạn nào chưa biết phương pháp này)

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2009

Chuyện một gia đình - p1: Thánh, Thiện, thằng Bé

1.
Không biết tại sao sáng nay lại tỉnh dậy với giấc mơ về gia đình nọ. Tôi không biết diễn tả bằng từ nào để trỏ chính xác một cách ngắn gọn mối quan hệ của tôi với họ. Đó là một gia đình đã cùng ở trong một dãy nhà khu tập thể cấp 4 đến hơn chục năm tuổi nhỏ của tôi. Vậy trước hết họ là hàng xóm cũ. Lại có quan hệ cùng làm việc giữa những người lớn với nhau - mặc dù nó rất lỏng lẻo, tôi sẽ kể sau - nhưng tôi thấy hơi là lạ khi dùng từ hàng xóm cho những gia đình sống cùng một khu tập thể, cộng đồng này mới hơn bản thân từ "hàng xóm" và trong cuộc sống chúng ta cũng vẫn thường gọi đơn giản họ là "những người sống cùng khu tập thể". Tôi bằng tuổi thằng út-thằng Bé, chúng tôi chơi với nhau thứ tình bạn của trẻ nhỏ như bao đứa bạn khác nên cũng có thể coi nó là bạn cũ của tôi. Nhưng thậm chí ngay từ ngày đó việc tôi chơi với nó cũng không khác gì chơi với các thành viên khác trong gia đình họ nên cố định mọi người theo cách "gia đình người bạn cũ" lại thấy thiên lệch. Đây đâu phải trò chơi chữ, nhưng sự loay hoay này chính là cái cách để tôi bắt đầu những ký ức về họ, một gia đình mà tôi có mối quan tâm thật khác biệt.

Để rành mạch có lẽ phải kể đôi điều về khu tập thể, cái ốc đảo giữa nông thôn của chúng tôi ngày đó. Ký ức gia đình của tôi về nơi đó thường đọng lại bằng mấy hình ảnh "Căn nhà, Vườn điền thanh và Ô cửa sổ" nhưng với những người hàng xóm cũ sẽ thiếu sót rất nhiều nếu không nhắc đến hàng hiên và khoảng sân trước dãy nhà. Cũng như cho lũ trẻ sẽ là hàng xoan ở bờ mương đầu hồi. Tôi chép lại đây một đoạn ký ức cũ.

Khu tập thể 1 tầng 10 căn nhưng căn đầu vốn là nhà trẻ sau đó để hoang. Còn lại là 9 gia đình. Mỗi gia đình ở trong 1 gian nhà rộng khoảng 3,5m sâu độ 10m. Bếp nằm phía sau, ở giữa có 1 giếng trời khoảng 2m. Đằng trước chỉ có 1 cái cửa 2 cánh ở chính giữa. Phía sau có cái cửa sổ mở ra giếng trời. Góc giếng trời có 1 cái bể nước có nắp khoảng 1m3. Hàng ngày phải gánh nước đổ vào bể. Cạnh bể nước, bên dưới cửa sổ để 2 cái xô. Trong bếp gần 1 nửa bên tay trái là chuồng lợn, phần còn lại gồm 1 chỗ để trấu và củi, 1 phần là bếp củi. Cũng có thời gian nhà đắp bếp lò nhưng ít thôi. Trước mỗi nhà là 1 khoảng sân có chiều rộng khoảng hơn 3m. Thường là làm giàn mướp ở bên trên. Mỗi nhà thường trồng 1 cây gì đó, phần nhiều là xoan để có thể kết hợp bắc giàn mướp. Tiếp theo nữa là 1 mảnh vườn dài, chia làm nhiều phần, gần nhà trồng rau, tiếp theo có thể trồng khoai lang. Tiếp nữa là mảnh đất trũng ngập nước thường để hoang hay trồng điền thanh. Khu tập thể nằm giữa vùng đất trống. Một phía là cánh đồng, 1 phía là phía sau bệnh viện, gần nhà xác. Hồi bé lũ trẻ con chúng tôi thường ra rình ở đấy để được xem người chết hay mổ pháp y.

Khu tập thể ngày đó là như vậy, nó là một cộng đồng khá khép kín với vùng nông thôn xung quanh nhưng những sự kiện bên trong bản thân nó thì lại liên thông đến toang hoác. Nhưng gia đình mà tôi đang nhắc đến đây lại gần như khu biệt với mọi người do hoàn cảnh khá khác biệt của họ. Họ hầu như chỉ là một thứ họ hàng xa của cộng đồng (với người lớn, còn bọn trẻ con chúng tôi thì không có vấn đề ấy). Vì họ có hoàn cảnh khác biệt.

Hồi xa lắc, nhà họ chưa ở trong khu tập thể từ đầu mà còn ở biệt lập ngoài phía bờ sông, cạnh đường cái. Căn nhà mái ngói cũ rích mà tôi còn nhớ rất rõ những viên gạch đỏ loét gần như mủn ra trên những bức tường của nó sau khi lớp vữa đã bong tróc hầu như toàn bộ. Nhưng hồi đó khuôn viên của nó lớn hơn điều kiện căn hộ của chúng tôi nên nó thật đáng chú ý. Bác gái vốn là nhân viên sơ cấp của Hiệu thuốc (hình như còn gọi là Cửa hàng Dược) nhưng đã nghỉ mất sức từ rất lâu vì bị tâm thần nhẹ. Suốt ngày ngồi thơ thẩn và cười vu vơ. Chỉ luôn luôn như vậy và cũng vẫn hơi biết làm việc nhà cũng như vẫn nhận được mọi người quen xung quanh nhưng hình như không còn khả năng phán đoán về họ nữa. Nhà có đến bốn người con, một gái thứ nhì và ba trai; anh lớn nhất hơn tôi 7 tuổi đến đứa út thì cùng tuổi tôi. Khi tôi biết nhớ thì họ đã ở đấy rồi, trong căn nhà bờ sông, và còn có bà nội của thằng Bé. Lúc đó bà đã quá già và mất sau đó không lâu nên những điều tôi nhớ về bà thật ít ỏi: một cụ già răng nhuộm ăn trầu chống gậy tre với cái lưng còng sát đất, khá nhanh nhẹn mặc cho khuôn mặt đã móm mém và nhăn nheo hết sức. Bà hiền lành, cư xử hiểu biết thân thiện với mọi người; hàng ngày tất bật đôn đáo việc nhà thay cho con dâu ở cái tuổi đã ngoài 80. Nhưng tất cả những điều đó chỉ làm nổi bật sự tương phản buồn rầu trong một bức tranh tối mầu có bối cảnh ngổn ngang mà bà chỉ như một vệt sáng mờ phía hậu cảnh. Bác T là con trai duy nhất của bà, một người con rơi đối với ông bố hình như làm đến tận hàm tướng ở trong miền Nam. Thậm chí hình như bà là vợ cả nhưng điều đó đã không có ý nghĩa gì từ rất lâu và không còn tồn tại bất cứ mối liên hệ nào giữa họ nữa.

Không hưởng chút lợi ích nào từ ông bố tướng quân, bác T đi hết cuộc chiến tranh và giải ngũ với chân lính trơn và một nghề tay ngang là làm thầy lang-nhưng hầu như chúng tôi không thể biết bác cắt thuốc cho ai. Trong mắt những người cùng khu tập thể Dược bác đơn giản chỉ là một ông lang băm, không hơn. Có thể hoàn cảnh đã tạo ra tính cách của bác, một tính cách rất khó chịu với những người xung quanh: một kẻ tự cao không phải lối, rách bươm nhưng luôn tỏ vẻ kẻ sỹ bất cần, không lánh nghèo. Nhưng hình ảnh một kẻ sỹ mặc áo bộ đội cũ xách cái cần câu cá chuối với đàn con lộc ngộc lang thang ven sông bờ ao khuyến mại thêm bà vợ thất thần bên hiên nhà thật thảm hại và quá lố với mọi người xung quanh, bất kể những thiện cảm mà bà cụ đã cố gắng giữ được với họ. Tên thằng Bé là do bà đặt cho nó, một nỗ lực ngăn cản tính khí ngạo ngược của ông con trai khi khai sinh cho thằng út cái tên Trần Thế Thần Thánh! Một hồi bà gọi nó là thằng Thiện nhưng rồi mọi người quen hơn với cái tên hèm là thằng Bé. Thằng Bé lớn lên cùng chúng tôi và đương nhiên tất cả lũ chúng tôi tuyệt không bao giờ thèm để ý đến việc thực ra nó là Thần Thánh. Bà cụ mất trước khi chúng tôi đi học nên có lẽ cũng như mọi người bà lúc đó cũng đã không phải phiền lòng nghĩ đến việc có lúc thằng Bé sẽ gặp trở lại vấn đề của Thần Thánh.

Thật lạ, có những con người bằng lối sống chân thành tận tâm của mình, dù chỉ phớt qua trong cuộc đời một đứa nhỏ bốn năm tuổi, cũng có thể để lại những thiện cảm sâu xa và lâu dài trong tâm trí người khác đến vậy.

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2007

Ở chỗ mấy cái lò gạch rìa sông cuối làng gọi là đồng Mả Li


1. Hẹn nhau 9g15, nhưng 9g30 mình mới đến chỗ hẹn được. Vẫn không thấy thằng cu J đến. Đoán là nó sẽ không đến nhưng cứ ngồi chờ 1 tý. Trời HN hôm nay mưa lạnh lất phất. Cái quán nước chè vỉa hè trơ trọi với 1 cái ô to cũ kỹ, nằm chênh chếch dưới chân cầu Chương Dương, gây cho mình sự thích thú. Cái cảm giác co ro trong mưa lạnh, xuýt xoa với chén trà nóng và không chờ đợi gì. Ở cái gầm cầu này có lẽ sẽ rất lâu nữa mới có sự thay đổi. Cũng có nghĩa là nó đã rất lâu rồi như thế này. Từ dưới thấp nhìn lên con dốc, đoàn người cứ hối hả đi trong mưa rét. Đây thì mặc kệ.

Dù vẫn còn ngại nhưng không ngăn nổi việc đốt 1 điếu thuốc. Bập bập cho đỏ lửa và nhả khói. Tự do làm người ta e sợ. Người ta có xu hướng chùng lòng xuống và làm những việc như là bản năng, thói quen.

J sẽ không đến, nó lúng búng trong điện thoại nhưng mình cũng chẳng chờ đợi gì ở nó. Phân vân xem có nên đi 1 mình hơn 20km trong mưa rét và lầy lội hay không. Lúc sáng đã xoay sở mãi với cái áo mưa mà vẫn bị ướt. Nhưng cái ý nghĩ sẽ co ro trong áo mưa, co chân lên cao và thả xe đi miên man dọc bờ đê sông Hồng trong mưa phùn lất phất và gió lạnh lại đang rủ rê mình phiêu lưu. Chần chừ mãi, quyết định quay lại HN mua 1 cái áo mưa to hơn kín hơn rồi sẽ quyết định xem có đi nữa không. Lên xe và quành tay lái. Không hiểu cơn cớ gì mình lại rẽ về phía đê. Và cứ thế đi luôn.

2. Mình nhớ hồi nhỏ những lần bố mẹ chở về quê nội ăn giỗ. Quê nội cách nhà hơn 10km. Bố mẹ chở 2 anh em bằng 2 cái xe đạp và đi tắt lối đường đồng. Con đường đất nhỏ 1 bên là ruộng 1 bên có dòng mương nhỏ. Hai bên đường có phi lao. Những ngày giáp tết mưa liu riu, chui trong áo mưa he hé nhìn ra ngoài, cánh đồng loáng loáng nước một màu trắng đục. Thỉnh thoảng nhìn thấy những cánh cò lang thang. Phải đi qua 1 cây cầu sắt nhỏ. Đầu bên kia có 1 cây đa to. Mỗi lần qua cầu thì mình được dặn ngồi im, bám chắc để bố mẹ dắt xe qua cầu. Lúc đi sẽ là tầm 8 giờ sáng. Lúc về thì xâm xẩm tối. Có lần thằng em mình lúc đấy khoảng 2 tuổi ngủ gật trên xe, bố mẹ phải dừng lại cho nó ngủ. Cả gia đình dừng lại giữa cánh đồng mùa đông, loang loáng nước màu trắng đục và vài cánh có lang bạt.

3. Lang thang vào mấy điểm chưa đến trong những lần trước. Đi vào những con đường đất nội đồng lầy lội đầy rãnh trơn. Đi chầm chậm, thả lỏng tay lái và thõng chân sang 2 bên để chống phòng hờ. Ngày xưa bố bảo là nếu bị lạc ở giữa đồng thì tìm theo những dấu xe lớn mà đi. Hồi bé thì chả lạc bao giờ. Lớn rồi thì những cánh đồng thành ra bé tí tẹo, cũng lại chả lạc được.

Mò đến khu mấy cái lò gạch ở ngã ba sông cuối rìa xã. Hẻo lánh và heo hút. Những mặt nước ngoắt nghéo ngẫu nhiên với những bờ tre um tùm. Cảm giác như đang đi về 1 xứ sở nào đó xa xăm dĩ vãng. Cánh đồng đang gặt dở, vàng xậm, úa màu và rạp xuống nham nhở trong giá lạnh và ướt lướt thướt. Vài người cắm cúi gặt. Cả không gian yên ắng lành lạnh.

Nhà thờ tổ nghề vàng quỳ bây giờ hoá ra là cái hội trường thôn. Người phụ nữ trung trung tuổi chỉ cho mình, thoáng ngạc nhiên và hờ hững. Cái làng này phải kể là giàu có. Bây giờ người ta thờ tổ nghề chung ở ngoài đình-đình mới được tu sửa và lễ hội cũng mới được nhen nhóm lại. Đi dật dờ trong những con dong ngõ nhỏ, mình thoáng thấy khôi hài khi đối nghịch những hình mẫu văn hoá của các nhà nghiên cứu với đời sống thực của người dân quê. Biết vậy nhưng cả 2 bên đều cần 1 cái ảo ảnh văn hoá như thế. 1 đời sống xã hội trù mật và nghiêm cẩn với truyền thống và sự dè dặt của kiếp người trong làng quê sẽ là 1 ảo ảnh vĩ đại nhất. Cuộc sống không hẳn vậy. Nó chuệch choạc, bền bỉ và nhẫn nại trôi qua. Không có cái gì chung cả ngoài sự lộn xộn của tổ mối.


Hình như mỗi lần bọn mình về thì cả UB xã sẽ đánh chén. Tính vào chi phí tiếp khách. Câu hỏi đơn giản, thiết thực và thường trực là "Bao giờ thì dự án sẽ triển khai?".

Hôm nay ăn thịt chó với muối ớt vì đang cấm mắm tôm. Hết 2 chai vodka to cho 6 người. Chiều về cứ biêng biêng trong gió lạnh.

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2007

Làm con phải nhớ

1. Suy nghĩ lúc ốm. Bạn gửi tin cho tôi nói về nỗi buồn vấp váp ở đời. Việc này làm tôi xúc động và lo lắng. Xúc động vì trong cõi ảo hoá này giữa chúng ta có sự tín nhiệm nhau. Lo lắng vì việc này thật khó để trả lời, cho dù ngay cả là sự im lặng. Bạn sa lầy trong sự nhùng nhằng oái oăm của ngôn từ và những tình bạn "cùng nhau trông thế nhân cười". Những người bạn rất tốt, rất hiếm hoi trong cuộc sống này. Nhưng chúng ta thường phản ứng dễ dãi quá, và tình bạn thực chất là một liên minh thoả hiệp. Chính sự dễ dãi từ đầu này sẽ làm cho bạn trở lên xói mòn theo thời gian. Khi 1 nhóm cùng sử dụng chung 1 thứ ngôn ngữ thì ngôn từ sẽ trở thành ước lệ. Sự bất an khi gặp phải tính ước lệ sẽ thành 1 hố cát tham lam và tàn nhẫn.

Lo lắng còn là vì mình sẽ càng ngày phải trở lên tín nhiệm với lời nói của mình hơn. Nếu con người bắt đầu không còn trung thực với chính mình thì cuộc sống sẽ trở lên buồn thảm, trơ tráo.

Tôi đã có thể nói gì? Rằng hoặc là "Khi không thể yêu thương được nữa thì hãy tha thứ, im lặng và bước qua-(F.Nietzche)"; hoặc là "người ta vấp ngã nơi mặt đất thì cũng y nơi mặt đất mà đứng dậy-(Kinh Thánh)"; hoặc là "người ta vấp phải hòn đá thì người ta không cáu giận vì họ biết hòn đá vô tri. Nhưng người ta dễ dàng oán giận kẻ khác dẫu vẫn biết rằng họ lầm lỡ vì họ vô tri-(Osho)". Hoặc giả bạn hãy dễ dàng và tự nhiên ngay lúc đó phân biện đúng sai, mắng cho kẻ đó 1 trận rồi từ rày không dính chấp vào nữa. Dăm bữa nửa tháng thì kẻ gây ra lỗi lầm đã quên rồi trong khi chúng ta thậm chí đeo đẳng điều tệ hại đó đến 20 năm và tự gây đau khổ cho mình. Lời nói hay hành động, chúng xảy ra trong 1 tương quan-mà tương quan đấy thì như nước chảy qua cầu, 1 lần là vĩnh viễn không quay lại.

Còn rất nhiều nữa những khả năng, nhưng tất cả đó chỉ là lời NÓI. Tự sâu xa tôi hiểu cái bạn thiếu là 1 cái gì đó thuộc về miền sâu TÂM LÝ. Cái cần chữa trị nằm thăm thẳm trong đó chứ không ở lời nói. Cách tôi thường làm là giữ với bạn 1 khoảng cách vừa đủ để bạn nhận thấy sự trống trải, cũng vừa đủ để nuôi dưỡng 1 hy vọng, 1 sự tín nhiệm vào hiện hữu con người.

Tôi biết rằng: khi chúng ta diễn đạt bản thân bằng ngôn từ, đồng thời cái đó thoát ra khỏi chúng ta. Điều duy nhất có thực là sự bấp bênh của cả nội tâm và ngoại cảnh-"mà kẻ dẫn đường duy nhất là tinh thần quyết vượt-(Bạch Ẩn Huệ Hạc)".

Rất khó để diễn đạt với bạn về điều mà tôi đang kinh nghiệm về TINH THẦN QUYẾT VƯỢT. Có lẽ nó như thế này chăng: ta chỉ đau đáu quan sát và hành xử tức thì như trong trận đấu kiếm trên bờ ghềnh sinh tử. Mọi sai lầm sẽ không lặp lại và chỉ cứ chăm chú thế thôi.

Từ nhỏ tôi là người hay đau ốm vặt. Những trận ốm thật khó chịu và chúng ta chỉ có 1 cách là chịu đựng và chờ đợi. Nhưng chờ đợi thì dễ cáu bẳn và buồn nản. Tôi tự đúc kết kinh nghiệm cho mình là hãy làm tất cả những gì có thể làm và sau đó là tự quan sát bình thản tất cả những gì đang diễn ra. Dửng dưng như kẻ ngoài cuộc với chính mình. Thấy như vậy. Biết như vậy. Tôi cũng tự cho phép mình rên khe khẽ. Như thế tôi thấy mình tương tác với tình hình. Và cũng bởi tôi đọc đâu đó là rên khi ốm có tác dụng gấp 200 lần 1 liều thuốc :)

Hay là vì vậy mà tôi ít oán giận cuộc sống và dễ thông cảm với người khác?
Bạn đừng tin ai cả-ngay cả chính tôi hay chính bạn-như là 1 cái gì đó bị dính chấp. Đây là cuộc dạo chơi trong rừng hái lá tìm thuốc chữa bệnh của kẻ ốm. Mọi cái đều có thể và đều không thể. Tuỳ duyên tiếp vật. Miễn khỏi bệnh thì thôi.

Nhưng quan trọng là luôn kiểm soát chặt chẽ bệnh tình của mình. Không phó mặc. Không tự lừa dối.


2. Chuyện kể của bà nội, bà ngoại, bố, mẹ và những điều anh đọc được trong số hồ sơ cá nhân ít ỏi của ông ngoại còn lại. Trong 1 bài khảo cứu của người Pháp, họ nhận thấy rằng người VN ít khi nhớ đến thế hệ G4-tức là các cụ của mình. Mối quan hệ thâm tình thường gói trong 3 đời hiện hữu. Chắc là vì tuổi thọ trung bình của chúng ta còn chưa cao, chúng ta chỉ biết đến ông bà chúng ta. Và ông bà chúng ta đa số là người bình thường nên cũng chỉ như vệt khói thoáng qua ngang trời. Vì vậy mà chúng ta lãng quên rất nhanh. Cũng vì chúng ta là chúng sinh loay hoay trong biển khổ vô bờ nên chúng ta khó mà nhận ra tình cảnh của chúng ta.

Tôi có 1 dự định, đó là chăm chú sống trọn vẹn cuộc sống ở đời của mình, không gán ghép nó sang đời con cháu. Và cũng không mong chờ 1 sự vĩnh viễn nào từ cuộc đời. Chừng đâu trong vòng sáu bảy chục năm là trọn vẹn 1 kiếp người chung chung. Nếu biết sống thì mỗi hơi thở đã là 1 kiếp luân hồi.

Nhưng anh sẽ kể cho em nghe về ông bà của chúng ta dần dần, chú em của tôi ạ. Hiểu biết và sống trải làm nên sự gắn bó-phải có cả 2 điều đó.

- Ông nội của chúng ta tên là HVM, mất năm 1985 thọ vừa tròn 60 tuổi nên suy ra ông sinh ra trong khoảng 1925. Cụ mình là HVT và 2 đời trên là HVQ và HVN. Các cụ ngày xưa là nhà giàu ở 1 làng quê nông thôn nghèo Bắc Bộ. Ông có 6-7 chị em và là độc đinh. Từ nhỏ không phải làm gì và được cho học chữ nho. Ăn cơm 1 mình 1 mâm-đàn bà trong nhà phải ăn cơm dưới bếp. Vậy nên đời sau chịu nghiệp là con cái trong nhà thường kiêu hãnh độc đoán và cô độc. Tình cảm giấu vào trong mà không biết bày tỏ với nhau. Ông mất sớm, bố không có nhà nên ông dặn chú thứ 6 là khu mộ của họ ta có sao cứ để vậy, chôn cao và không đảo trật tự. Mẹ đi xem bói người ta bảo rằng "họ này nhiều đinh, phần nhiều sống xa nhau, nhiều người tinh quái làm những việc liều lĩnh khác người, hết rồi lại có."

- Bà nội tên là TTS, năm nay 80 tuổi nên sinh khoảng 1927. Bà là con nhà lý trưởng, ngày xưa môn đăng hộ đối về làm dâu cho các cụ từ năm 16 tuổi. Từ hồi ruộng của nhà còn rộng mênh mông quanh làng. Bà đẻ 9 người con, nay đã mất 2 còn lại 7. Bây giờ bà còn khoẻ nhưng đã lẫn, chỉ biết loáng thoáng các con, không nhớ cháu trừ ông cháu đích tôn gắn bó với bà nhiều.

Ngày xưa nhà các cụ giàu nhưng đến đời ông nội vì đông con mà gia sản cũng suy hao. Cải cách ruộng đất các cụ thì mất rồi nhưng bị quy địa chủ. May là ông chỉ bị quy là trung nông. Bà kể "tôi còn nhớ rõ trong ruột nửa cái làng này nó đấu tôi. Chúng nó đến nhà lấy đi từng cái nồi cái mâm đồng". Trong làng có 2 người bị xử bắn trong dịp đó. Bố có vẻ rất ấn tượng với việc đó nên thỉnh thoảng lại kể "năm tao mấy tuổi, tao thấy họ bắn ông A, ông B ở rìa làng...". Nữa, chi của ông là chi trưởng hay còn gọi là họ phái. Nhà thờ họ ở gần nhà về phía Tây Bắc.

- Ông ngoại mình tên là NVL, đi làm còn có tên là NVN. Ông mất sớm năm 1980 thọ 55 tuổi nên suy ra ông sinh khoảng 1925. Ông chỉ bế được mỗi anh, và biết thằng H nhà dì lúc khoảng hơn 1 tháng; không biết mặt các cháu khác. Ông với ông B là 2 anh em trai cách nhau 8 tuổi, gia đình bần cố nông, mồ côi cả cha lẫn mẹ từ lúc sơ sinh. Ông được nuôi ở nhà người họ hàng đến chừng 13 tuổi, cho ăn học thầy đồ. 13 tuổi thì vào chùa làm tiểu. Sau lưu lạc vào mãi quê bà ngoại và gặp bà trong đó. Ông nhân hậu, hiền lành nên nhiều người quý mến. Sau 1945 người ta phá chùa thì ra làm liên lạc, nhân viên cho Ty Thông tin của huyện hay tỉnh gì đó. 1 lần bị máy bay Pháp đuổi chạy vào hang, bị bom đánh sập cửa hang nên sau này có tật ở chân, đi hơi tập tễnh. Sau này lấy bà có 2 con thì gánh cả về quê rồi đi làm bên Đông Y của huyện. Ông có bằng sơ cấp Đông Y. Ông bà ở xa nhau. Bà ngoại làm cấp dưỡng và làm kho ở BV huyện khác. Ông ở tập thể của Đông Y. Sau này khi mẹ đẻ anh cũng lại sống xa bố nên ông ở cùng với mẹ và bế anh. Cả cuộc đời ông hiền lãnh nhẫn nhịn, chịu nhiều khổ cực. Chưa bao giờ được ăn miếng ngon nào. Khi ở một mình ông thường đem cơm thiu ra tãi, hấp lại để ăn cho tiết kiệm. Ông mất vì bệnh đường ruột ngày đó không chữa được.
Bà ngoại đi xem bói bảo ông bây giờ dưới âm làm quan rồi, hay phù hộ cho con cháu.

- Bà ngoại mình tên là ĐTT, năm nay 82 tuổi nên cũng sinh khoảng 1926. Bà sinh ra ở 1 huyện gần miền núi, mồ côi mẹ từ nhỏ, sống với bố và cụ nội. Nhà nghèo xác xơ, thường ăn ngô tướt nước vôi. Cụ nội của bà già hơn 90 tuổi không có răng, mỗi lần ăn phải cho vào cối ăn giầu giầm nhuyễn. Một ngày bà tỉnh giấc, vẫn đang ôm cổ cụ nội thì thấy cụ mất tự bao giờ. Nhẹ nhõm, thanh thản. Bố bà lấy 1 đời vợ nữa, người Mán, ở với nhau 3 năm không sinh được con nên họ xin về nhà mẹ đẻ lấy chồng khác. Từ nhỏ bà không được ăn học hay kèm cặp gì. Lớn 1 chút thì đi chăn bò. Tính tình cương cường, yêu ghét đều thái quá. Con gái họ Đ đẹp nổi tiếng vùng đó nên năm 13 tuổi bà được gả tảo hôn với nhà giàu kia. Chồng mới 8 tuổi, con dâu thực chất làm người ở, tối ngủ riêng ở nhà dưới. 1 lần bị chồng đành hanh chửi mắng, bà bạt tai cho ngã dúi dụi rồi đang đem chui qua luỹ tre làng trốn khỏi làng. Băng qua 2 quãng đồng thấp thoáng đầy ma trơi. Mỗi lần thấy ma trơi thi bà lại tạt xuống ruộng tránh. Đêm ngủ trên rú, phải trèo lên cây để tránh hổ đói. Bà ra chợ huyện rồi xin vô chùa. Sau này nhà kia kiện tụng nhưng bà nhất quyết không về. Bà vợ ông quan huyện thích bà xinh xắn muốn nhận làm con nuôi nên bênh. Nhưng bà cũng nhất quyết không về làm con nuôi nhà họ. Căng thẳng đến mức doạ tự tử mấy lần nên về sau cũng êm cả.

Sau 1945, họ phá chùa, bà đi làm cứu thương, gặp và lấy ông rồi sinh ra 2 người con đầu ở đấy. Để mưu sinh, bà đi buôn cau trên mạn ngược. Lên những bản Mường Mán, trèo lên những cây cau cao chót vót trảy cau mang về xuôi. Cau đổi lấy dầu và muối cho người dân tộc. Cau được chẻ ra để bán hàng khô cho được giá. Bà có 2 người em họ, 1người là ông H ngày còn bé trốn nhà đi bộ đội chống Pháp, không đủ cân phải nhét đá vào trong quần.

Những ngày khốn khó ông bà được 1 gia đình địa chủ cưu mang. Đến khi có đấu tố hồi CMRĐ, ông bà nhất quyết không tham gia đấu tố họ. Không được vào nông hội cũng không sợ. Tính bà quật cường từ những ngày ấy như thế đấy. Sau này về quê ông ngoại, ông bà cũng nhất quyết không tham gia đấu tố địa chủ.

Ông thì hiền, bà sống độc lập từ nhỏ, không chịu sự ràng buộc của gia đình, cũng không phải làm dâu, đi làm trong môi trường tập thể nên càng ngày cái tính cương cường, yêu ghét theo bản năng càng thái quá. Con bà cháu bà là nhất. Mà con cháu cũng yêu ghét khác nhau. Thành ra nghiệp quả ảnh hưởng nên tính cách con cháu về sau.

Bây giờ bà già rồi, yếu và lẫn. Hay kể lể, hay tủi thân và thích được dỗ ngọt. Con cháu biết ý thì không sao. Dỗi lên lại bỏ cơm đòi chết. Đêm nằm nghĩ tiếc lương hưu sáng ra lại thôi.

Cháu ngoại của bà đều hiền lành giống ông ngoại, có chút thông minh nhanh nhẹn của bà. Bà vẫn thường lấy đó làm tự hào. Nhiều lúc hơi thái quá.

Căn nhà, vườn điền thanh và ô cửa sổ.

Vậy mà quên mất thật nhiều điều. Lúc nãy tôi cố gắng nhớ lại căn hộ tập thể mà gia đình tôi đã ở đấy từ lúc tôi khoảng 3-4 tuổi đến tận 13 tuổi. Khu tập thể 1 tầng 10 căn nhưng căn đầu vốn là nhà trẻ sau đó để hoang. Còn lại là 9 gia đình. Mỗi gia đình ở trong 1 gian nhà rộng khoảng 3,5m sâu độ 10m. Bếp nằm phía sau, ở giữa có 1 giếng trời khoảng 2m. Đằng trước chỉ có 1 cái cửa 2 cánh ở chính giữa. Phía sau có cái cửa sổ mở ra giếng trời. Góc giếng trời có 1 cái bể nước có nắp khoảng 1m3. Hàng ngày phải gánh nước đổ vào bể. Cạnh bể nước, bên dưới cửa sổ để 2 cái xô. Trong bếp gần 1 nửa bên tay trái là chuồng lợn, phần còn lại gồm 1 chỗ để trấu và củi, 1 phần là bếp củi. Cũng có thời gian nhà đắp bếp lò nhưng ít thôi. Trước mỗi nhà là 1 khoảng sân có chiều rộng khoảng hơn 3m. Thường là làm giàn mướp ở bên trên. Mỗi nhà thường trồng 1 cây gì đó, phần nhiều là xoan để có thể kết hợp bắc giàn mướp. Tiếp theo nữa là 1 mảnh vườn dài, chia làm nhiều phần, gần nhà trồng rau, tiếp theo có thể trồng khoai lang. Tiếp nữa là mảnh đất trũng ngập nước thường để hoang hay trồng điền thanh. Khu tập thể nằm giữa vùng đất trống. Một phía là cánh đồng, 1 phía là phía sau bệnh viện, gần nhà xác. Hồi bé lũ trẻ con chúng tôi thường ra rình ở đấy để được xem người chết hay mổ pháp y. Có lẽ vì vậy mà chúng tôi thường không biết sợ ma là gì cả. Sau này khoảng 16 tuổi (khi đã chuyển nhà) có 2 lần vào gần nửa đêm hôm rằm tháng 7 tôi một mình đi ra nghĩa địa giữa cánh đồng sau làng để xem có gặp ma không mà không thấy gì. Tôi đứng đó trong ánh trăng sáng tỏ, dưới hàng cây phi lao và gần như muốn gọi to lên xem ma có thấy tôi không. Kỳ cục thật, tôi không kể với ai về điều này nhưng tôi nghĩ là nếu có ma thì họ cũng sẽ làm bạn với tôi thôi. Bà tôi đi xem bói thường kể là họ bảo tôi có nhiều người quý mến, cả trần cả âm. Khi nào ốm nhiều là vì có người âm quý. Vậy chứng tỏ tôi hay chơi với người âm rồi :)

Trong nhà đồ đạc chẳng có gì nhiều, 2 cái giường đôi ở 2 đầu nhà, giữa là cái bàn uống nước, góc phải sát cửa có cái chạn, chỗ còn lại để tủ quần áo và để xe đạp. Cái giường phía trong nằm xuống có thể nhìn thấy 1 khoảng trời xanh ngăn ngắt. Không hiểu sao trong ký ức của tôi luôn nhớ hình ảnh này: năm đó chắc tôi khoảng học lớp 2-3, em tôi còn bé chưa đi học. Một lần hiếm hoi 3 mẹ con tôi rỗi rãi vào buổi trưa cùng chơi trên giường. Tôi nhớ tôi đã hỏi mẹ về câu ca dao mẹ đang đọc cho em tôi nghe

"Con cò bay lả bay la
Bay từ cổng phủ bay ra cánh đồng"

Tôi hỏi về cổng phủ, tôi không biết nó là cái gì. Mẹ giải thích gì đó nhưng tôi chỉ nhớ cái cảm giác nằm lăn ra nhìn bầu trời xanh ngăn ngắt và tưởng tượng có con cò trắng đang bay ngang qua trong lúc mẹ đang nô với em. Tóc mẹ đen vừa mới gội bồ kết rất thơm. Trí óc tôi lưu giữ tất cả: buổi trưa, bầu trời và cánh cò, mẹ chơi với em và mình nằm bên cạnh, mái tóc mẹ đen, ướt và hình như có mùi bồ kết...

Quá vãng.

Vỗ tay reo
Tiếng vang vang..

Hò lơ
Gọi
khoang thuyền ngày xưa
Bàn chân trần lấm cát
Dẫm ván sàn
chênh chao..
Hò lơ
Rắc nắng, rây vàng
Loang xanh
Thả gió
Cho
ngày bình yên..

Vỗ tay reo
Tiếng vang vang..
---

...Mình ưa những gì hàm chứa dấu ấn thời gian; những gì có thể kể cho mình nghe một câu chuyện thì thầm quá vãng…Hóa ra vì vậy mình không thích nghi lâu được những cái gì quá sạch sẽ, quá mới, quá ngăn nắp, chỉn chu.
…Mỗi người là một thế giới riêng hao mòn. Thời gian chệnh choạng. Sự kiện vụt lướt qua. Kể lại chả ích gì cả. Cái đã xảy ra với anh sẽ không bao giờ giống cái sẽ kể - sẽ xảy ra với em. Trách chi cuộc sống ngày càng vụn ra, rời rã.
…Ngày xưa mây trắng bay phiêu dật chân trời. Buổi chiều mùa hè. Nắng đầy chiều. Lũ trẻ đu mình trên cây xoan bên bờ mương, dõi nhìn phía bầu trời trên cánh đồng. Mây trắng hình gì ấy nhỉ? Thi xem ai tìm được nhiều hình nhé! Dịu nhẹ. Ký ức ấy rất nhẹ nhõm trong cõi lòng tôi vụn vặt.
…Ngày xưa, bờ sông là một thế giới lạ lẫm, nhiều hứa hẹn. Dòng sông là dấu vết của một nơi nào xa vắng. Dòng sông lớn hơn bây giờ nhiều. Nước sông đục ngầu màu nâu của bùn đất phù sa. Mặt sông cuộn lên những thớ nước như cơ bắp người khỏe mạnh vậy. Con đường gập ghềnh là con đường to nhất tôi biết. Rất có thể tìm được những viên đá xanh to, có vân để mài bi. Mặt đường hứa hẹn thật nhiều…
…Một buổi chiều mưa gió mùa đông. Lũ trẻ 5, 6 tuổi là tôi lang thang chơi ven đường. Đầu ngõ vào khu tập thể có cây bàng đã cỗi. Gốc bàng đỏ, đầy những cục u nổi lên. Rễ bàng xiên cả ra ngoài đất. Nhặt mấy cái rễ còn tươi mùi hăng hắc, nồng nồng, cảm giác như mình đang nắm giữ những bí mật về một vị thuôc lâu đời. Cái hàng hiên nhìn ra đường cái mà luôn luôn đóng kín cửa ấy là một nơi kín gió và ít mưa hắt vì nó có hai đầu hồi bị bịt kín bởi hai căn buồng. Mặt hiên lát gạch mộc. Thứ gạch đã cũ mèm. Mủn ra và bẩn thỉu. Hình như có một trò chơi dang dở về cô dâu chú rể. Cũng chẳng còn nhớ nữa có phải chú rể là mình không… Không phải là một ký ức tươi tắn rộn ràng của trẻ thơ mà là một ký ức mơ màng, ám ảnh da diết . Nó làm thu lòng lại.
…Ông chủ quán gầy gò mắt trố hay ngồi thu lu, co cả hai chân lên ghế bên chén rượu, trong cái quán nước bên sông. Cười mãi điệu cười lành lành, tinh quái. Có những con thuyền thường cập bờ bên kia. Chở cát và những thứ tương tự. Ước ao của tuổi thơ tôi. Một nỗi ước ao thật riêng tư và thầm kín – được lên những con thuyền ấy mà xuôi ngược theo dòng sông. Biển cũng lạ lùng như đầm lầy trong rừng sâu vậy. Những buổi chiều mùa thu mù sương, khói đồng vảng vất. Con thuyền là nỗi nhớ nhung khôn nguôi. Ước mơ một lần nằm duỗi mình trên sàn thuyền, nhìn qua khe mà ngó những bàn chân trần dẫm dẫm dọc mạn thuyền.
…Một lần thức giấc trong đêm mà nghe tiếng mưa rơi. Qua song cửa tiếng mưa lộp độp, màu mưa bàng bạc. Vườn điền thanh xa xa cũng bỗng thành một xứ sở. Bây giờ thì nước ngập sâm sấp. Ở đấy như một đầm lầy, có ếch, có cả rắn nước nữa. Một xứ lạ trong khoảnh không gian tuổi thơ tôi.








Mọi cái đều đẹp, đều đáng mến, nhưng tại sao lại cứ phải chờ cho đến lúc đã qua đi? Cứ nhìn lại mãi thế này à? Ngay cả giờ đây, chẳng phải là đang ở trong một không gian thật tuyệt sao? Mỗi thứ xung quanh đều kể một câu chuyện trìu mến. Dàn hòa với cuộc sống của mình là một điều thật khó khăn.