Hiển thị các bài đăng có nhãn Quang Dũng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quang Dũng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2021

ngày xưa là kỷ niệm

 "Tôi viết chiều nay chiều tưởng vọng

Làm thơ mình lại tặng riêng mình
Sông trôi luống gợi dòng vô hạn
Biền biệt ngày xanh xa ngày xanh"
QD
 
Bài này Quang Dũng tự viết cho một tình cảm hầu như là tưởng tượng của riêng mình. Tuổi trẻ hay tự mình riêng mình như vậy. Nhưng vấn đề không phải ở chỗ viết ra cho mình hay cho ai - ai có hiểu ai không - mà là ta có tự biết được hay không. Cùng trải qua một chiều thu, một đêm trăng nhưng mỗi người là mỗi chiêm bao, sẽ chẳng có một đêm trăng nào là duy thực cả. Hiểu người và hiểu mình là đồng thời trong giao tiếp tương liên với tha nhân. Không có cơ hội đó thì thôi, đến trăng kia cũng là hư ảo. Buồn của tuổi trẻ thường là nỗi buồn thẳm sâu của bị ngộ nhận, tự ngộ nhận và tự mình mình hay. Không nói rõ không phải vì không muốn nói mà vì không thể nói rõ.
"Em sẽ khóc và sương và giá lạnh
Tôi sẽ đàn và lại hát vu vơ
Bài thơ buồn sẽ tan loãng theo sương
Trăng nhắc nhở bằng màu trăng dịu mát
Tôi tự buồn rồi tôi sẽ tự vui
Ừ -thì sương thì trăng thì chiều hôm nắng nhạt
Ừ -loang chiều là một mái chèo xuôi
Ừ -kỷ niệm, ngày xưa là kỷ niệm
Bây giờ, em nhớ ngày xưa
Bây giờ, tôi nhớ ngày xưa
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Vịn câu thơ"
qua trùng dương là hết mùa thu. tám chút thơ tình cuối thu cho hợp cảnh. tri kỷ tri âm đâu phải chuyện để nói ra nhắc đến. trong lòng tự có hoa cúc, tự có rượu nồng. trong đời tự biết đã từng như thế như thế.
một chút linh hồn nhỏ
đi về chân núi xanh
 
10.10.2019

 

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Ký họa


1.
Hôm trước khi viết những cảm nhận về tập thơ của Quang Dũng, thực ra cũng là một loại phác thảo - những ghi chép dạng blog bao giờ chả là như vậy - nên đôi khi để bảo toàn một tổng thể khả dĩ nào đó mà phải lướt qua/nhập nhòa với các khả năng khác. Bây giờ thử lại theo cách ngắn gọn:

- Ký họa là ghi chép lại bằng hình ảnh một khoảnh khắc của cuộc sống. Trong truyền thống hội họa kinh điển châu Âu thì ký họa có vai trò mờ nhạt (*), điều này khác với sự ưa thích (thậm chí sùng mộ trong một giới nhỏ) ở VN trong giai đoạn từ 1945 đến gần đây (hoặc tính đến hết chiến tranh 1975). Ngoài lý do đặc thù câu chuyện lịch sử chiến tranh khốc liệt mà riêng việc là nhân chứng đã đem lại tính hấp dẫn đặc biệt thì diễn trình lịch sử hội họa VN bán khai cũng vừa vặn phù hợp với thị hiếu công chúng giai đoạn đó - ký họa chứng tỏ tài năng vẽ giống, nắm bắt thần tình, cũng chứng tỏ xuất xứ đào tạo hàn lâm, hứa hẹn những tác phẩm kinh điển...


Quang Dũng ưa ký họa, thích khắc họa khoảnh khắc. Đặc trưng thơ QD có dấu ấn ký họa rất nổi bật. Thơ ông có nhiều câu rời sống cuộc đời thơ rất riêng trong lòng công chúng. Tự nhiên nó cũng rất vừa vặn với những cảm xúc bâng khuâng, tha thiết nhưng mơ hồ của tiền chiến (kéo dài).

2.
Tuy nhiên có hai điểm quan trọng mấu chốt có thể triển khai ở chủ đề trên thì tôi lại chưa điểm đến. Điểm đầu tiên đó là sự khác biệt trong nhìn nhận vai trò của ký họa ở châu Âu và ở VN có thể liên quan đến một gốc rễ sâu xa hơn từ hệ hình tư duy. Riêng chuyện từ đâu tôi nhận ra điểm này cũng là một câu chuyện khúc khuỷu để kể: khởi từ việc đọc tập "Những cách thấy" của John Berger tôi nhận thấy lờ mờ có nhiều luận điểm thoạt đầu nghe rất hợp lý nhưng suôn sẻ quá nên gờn gợn khả năng khác mà có thể việc đọc lại cuốn "Cái Nu không thể có" của Francois Jullien sẽ cho thấy độ chênh. Cả hai cuốn tôi đều đang đọc dở nên chưa nói được gì nhiều nhưng có một điểm quan trọng có thể kể ở đây: nếu trong truyền thống hội họa kinh viện châu Âu thì cái bất động là điều quan trọng (ít nhất với cái Nu) thì ở phương Đông - Trung Hoa - chính cái bất động là kẻ thù của họa pháp truyền thống. Phương Đông tôn vinh tiến trình - cái đang biến đổi - mà ký họa thì vừa vặn là phương thức của hội họa châu Âu để mô tả khoảnh khắc - cái đang biến đổi. Từ Tây sang Đông, đến VN nó trở thành khách quý mặc dù dưới danh phận của cái-có-thể-trở-thành.

Điểm thứ hai thực ra rất khó bàn ngắn gọn nhưng đã tư duy kiểu song thoại đối chiếu thì không thể không nhìn từ phía đặc trưng cốt yếu của thơ - từ cổ điển đến hiện đại/từ Tây sang Đông/đến Quang Dũng - để gợi sự tương đồng ở tầng sâu hơn. Chuyện này có thể nương tựa một lần nữa bác F.J với cuốn "Đường vòng và lối vào"; để xem lại những bàn luận về khoảnh khắc/vĩnh viễn, di âm, khoảng cách...

Có điều kể cả tìm tòi thêm được gì nữa thì tôi vẫn lựa chọn cách phát biểu rằng đó chỉ là một khả năng mà từ chỗ tôi thì tôi thấy thế.

Ngoài ra là người học vẽ, tôi có thể kể ra một sự kiện có tính chất bằng chứng: việc ký họa với tôi có một niềm vui rất trực tiếp và hứng khởi, trước khi mọi sức ép và ý nghĩ khác vụt đến.

3.
Nhân tiện giới thiệu mọi người một tác phẩm kết hợp tuyệt vời giữa ký họa - vũ điệu - âm nhạc - đồ họa 2D mà có lẽ chính là minh chứng hoàn hảo cho điểm chung nổi bật khắc họa cái khoảnh khắc.

http://www.youtube.com/watch?v=OBk3ynRbtsw&feature=share

Các hình họa đẹp có thể tìm thấy tại:

http://conteanimated.com/the-book/


Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Xem tập Mắt người Sơn Tây - Quang Dũng



Sắp xong chưa ông Vân ơi!


1.
Tôi mua tập thơ Quang Dũng trước hết vì tình cảm với những bài thơ thời hoa niên như Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây. Hồi đó lớp 11-12, vẫn còn nhớ rất rõ liên tưởng đến góc camera thay đổi những khung hình trong bài Tây Tiến, nhưng khi thử nghĩ kỹ thì không làm rõ ra được tại sao lại như vậy.

Tập Mắt người Sơn Tây do Nhã Nam làm lần này (Trác Phong tuyển chọn) có cả thơ, ký họa và ký sự của Quang Dũng. Một cách trực quan, những ký họa khiến tôi thấy có thể hiểu hơn về lối làm thơ (dùng chữ thi pháp thì to quá ^^ ) và những thiên hướng của ông: một tâm thế phù hợp nhất với những đặc trưng của thể loại ký.

Các ký họa của Quang Dũng đều là ký họa phong cảnh (màu nước). Chắc thời gian đã làm ảnh hưởng đến chất lượng của chúng: chất màu đã bị khê nhiều. Nếu xét trên phương diện hội họa thì thấy không quá ấn tượng. Nhưng có một đặc điểm của những ký họa phong cảnh bằng mầu nước này làm tôi quan tâm: trên bình diện tổng thể thì một bức vẽ có cách thể hiện rất nhiều chi tiết, nhưng nhìn vào từng chi tiết thì nét ký họa lại không sắc sảo lắm. Hay nói theo kiểu dân học vẽ là chỗ nào cũng vẽ nên hơi tham chi tiết.

Tất nhiên đối với một bức ký họa thì tính chất tư liệu của nó được đặt lên hàng đầu. Nhưng cũng tại một bức phác họa màu nước thì đã gần tương đương một bức tranh hoàn chỉnh rồi nên đặc điểm trên nó có tính dấu ấn cá nhân. Ở đây, có gì đó tương đồng với phong cách thơ của QD mà trong bài giới thiệu Vũ Quần Phương có một nhận xét liên quan: càng về sau QD càng thiếu đi những bài thơ hay hoàn chỉnh, nhưng vẫn có những câu thơ, tứ thơ hay rải rác. Cái tương đồng là ở xu hướng nắm bắt khoảnh khắc, chi tiết.

Thơ QD có điểm giống thơ Lưu Quang Vũ sau này mà tôi nghĩ là do đặc điểm chung của những người học vẽ: giàu chất liệu hình ảnh và trong những khung hình rất gần với hội họa. Nhưng tâm thế tình cảm thì hai người khác nhau: LQV gần chúng ta  hơn, mê đắm rõ rệt; trong khi QD vẫn là của tiền chiến - hào hoa, nhiều ước lệ và chừng mực trong man mác. Có thể liệt kê được một loạt những "ơi/xa cách/nhớ mong..." với tần suất khá cao từ tập thơ. Nhưng cũng chỉ trong tâm tiền chiến mới có thể tự nhiên gọi những câu rất thiết tha như "Buồn lắm Hồ Nam ơi!". Tha thiết, bâng khuâng, tiết chế, chừng mực trong cảm xúc nhưng rộng rãi thoáng đạt, linh động trong không gian và thời gian - đó cũng là những đặc điểm của thể loại ký họa.


2.
Ký họa ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn 1945-1975 có vị thế đặc biệt về thể loại, khác với ở các nước khác nhiều khi chỉ nhạt nhòa trong vai trò tư liệu của hội họa giá vẽ kinh điển. Tính chất thâm nhập thực tế sinh động, lưu giữ chi tiết (mặt kia là điển hình hóa) trong phong cách lưu loát thoáng đạt của thể loại ký họa đặc biệt phù hợp với điều kiện chiến tranh ở VN. Ngoài ra cũng phải kể đến tiến trình phát triển từ ảnh hưởng của thời Mỹ thuật Đông Dương:  Hội họa thời kỳ này ở VN hầu như chỉ mới ở thời kỳ đầu của lịch sử hội họa hiện đại mà ảnh hưởng của hội họa kinh điển với đặc trưng "Hình họa là danh dự của họa sỹ" - Salvador Dalis - trừ một số ngoại lệ (Trần Trung Tín là ví dụ) - nên tâm lý coi trọng ký họa như là một cái gì có tính hương xưa, được huyền thoại hóa cũng là dễ hiểu.

Trong tư cách là tài liệu nguồn do thâm nhập thực tế, ký họa có tính chất đối diện với đối tượng: có một khoảng cách tinh thần giữa người vẽ với khung cảnh hay câu chuyện. Một mặt anh ta là chứng nhân của sự kiện, mặt kia ngay tức thì anh ta không để cảm xúc chủ quan của mình chi phối tính chất ghi chép dữ liệu. Vẽ  bằng đường nét là phương tiện vừa vặn với ký họa - bằng một sự nhạy cảm tuyệt đỉnh vốn đã như thế ngay từ nguyên thủy. Người vẽ ở đây đóng vai khách lạ với khung cảnh/câu chuyện. Trong chiều kia, câu chuyện được kể lại (bằng hình ảnh) của một người trở về từ những chuyến du hành luôn có tính hấp dẫn đặc biệt của chốn chưa biết với người thưởng lãm.

Thể loại ký - văn xuôi tự sự, những ghi chép trong văn chương có một phổ khá dài từ nhật ký, ký sự, bút ký đến tùy bút. Chúng có đặc điểm chung là sự di chuyển - trong không gian và thời gian. Rõi theo, mô tả, dẫn dắt. Trải nghiệm, chuyển động, giản lược trong sự kiện và những tự sự trữ tình của người viết/đi được gia giảm liều lượng theo từng đặc trưng thể loại. Với ký, người ta không thể tách ra khỏi câu chuyện cái phong cách lữ khách riêng có và do vậy bản thân sinh động của con người tác giả cũng dự-phần bàng bạc trong suốt các câu chuyện. Ai bình thơ Quang Dũng mà chả nhắc đến nét đẹp trai, hào hoa người Hà nội của ông. Phải chăng đó là cách những câu thơ tuyệt diệu mênh mông rời rạc trong thơ Quang Dũng sống cuộc đời thơ của riêng mình.


Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?


3.
Nhưng điều đọng lại nhiều nhất sau tập thơ với tôi là câu chuyện của Phan Lạc Tiếp (11,1971) về tình cảm mẹ con nhà thơ. "Lời mà cụ Tổng nói với chúng tôi là "Hôm anh Diệm về có hai người đi kèm. Anh chỉ nói với mẹ một câu rằng mẹ đi đi. Thế thôi.". Bài thơ "Nhớ về mẹ" được viết sau đó vài năm.



(Entry này tặng riêng bác Gỗ Mun)


^^