Hiển thị các bài đăng có nhãn đi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2010

Xích đạo

1.
Đây đang mùa mưa em ạ. Mưa nhiệt đới ràn rạt như thể những cơn mưa giã bão. Con đường đi lên cao nguyên chạy xuyên qua trong mưa và những vạt cây xanh ngăn ngắt. Những khe lũng len lỏi khuất khúc dưới bóng rừng sẫm tối làm anh nhớ Homo Faber.

2.
Quán cafe ở thành phố nhỏ mà anh đã rời đi, nó giống hệt những Quán cafe khác. Chủ quán lanh lợi và đã từng đi nhiều nơi. Căn phòng phải nhiều ngóc ngách và đồ đạc. Mỗi thứ gợi nhớ 1 vùng đất, 1 liên tưởng. Dường như không cố ý. Quả địa cầu cũ ở góc nhà, con thuyền gỗ lăn lóc trên kệ sách ám bụi. Còn Vespa thì để cạnh bàn cafe sáng. Phải là bàn gỗ mộc, chân cầu kỳ kiểu dân địa phương. Người ta đi cả nửa vòng trái đất, chui vào 1 xó xỉnh và hài lòng với những gì nhìn thấy. Bắt chân lên ghế và lôi 1 cuốn sách mang đi từ nhà ra đọc. Hẳn họ tính sống đến cuối đời với những câu chuyện kể. Những câu chuyện bắt nguồn từ những câu chuyện. Đại tự sự của những quạ biển còn hay hơn nếu buổi sáng bâng quơ có đủ yên tĩnh và mấy vại bia.

3.
Nếu muốn kinh doanh tốt, hãy đóng tròn vai một cá tính. Cũng cần đủ phổ quát để người lạ hiểu: là anh đó. Cậu bồi bàn nhanh nhẹn quá mức cần thiết. Gã chủ quán biết kể những câu chuyện ngày xưa. Người bán hàng đội mũ bê-rê và có chòm râu đẹp...

Anh thích ông lái taxi biết nhận dạng nhân chủng học hơn cả. Thứ căn cước võ đoán đó làm người ta thấy yên lòng.

Nếu ở hoang mạc, chắc chỉ cần là người thôi cũng đủ. Giờ còn phải giải quyết nốt điều này: đâu mới thực sự là ranh giới của hoang mạc?

Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2010

Ghi chép dọc đường - Xuân Hương đi vắng

1.
Tôi đi Thung lũng tình yêu.

2.
Xuân Hương đi vắng.
Phục Sinh mù sương.

3.
Cháu bé cao nguyên bốn tuổi chân trần dẫn tôi men dọc lối đi của bò.
Tìm một con đường dân sinh mới.
Thẳng từ nghĩa địa ngã ba Thánh Mẫu đến tận chân núi thẳm Langbiang.
Mộ xây sát mép đường và rau sạch bón bằng xác cá mắm là điều mới lạ của tôi lần này.

Đến vườn cây dưới chân núi từ mai sẽ khác
Không cần qua Thung lũng Tình yêu.

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2010

Sapa. Chapa.

1.
Ngày hôm qua, trong vòng 30 giờ đã chạy qua chính xác là 1100km. Hơn 500km đường rừng (đường HCM) trong khuya làm tôi nhớ những chuyến tàu đi Sapa trong kí ức. Bài viết là những mẩu viết ngắn rải rác.

2.

Có một lần, tôi thất vọng ghê lắm. Không cái gì cụ thể đến mức là chính yếu, nhưng một giọt nước làm tràn ly...công việc, quan hệ xung quanh, tự soi bản thân...Chiều, gần tối rồi mà tôi thấy bần thần không yên. Không thể ngồi trong nhà được. Hai thằng em ở cùng lại chưa về. Không có gì níu kéo cả. Tôi nhớ chuyến tàu..thế là quyết định đi Sapa. Lấy một cái áo khoác ấm, tắt ĐT vứt vào tủ, nhắn lại mấy câu là đi vài ngày..rồi xuống đường đi bộ. Lúc ấy là 6g tối. Tôi lững thững đi bộ từ Nam Đồng đến tận ga B. Mua vé, rồi ngồi uống nước chè, đốt thuốc, chờ. Tàu đến. Thế là chắc chắn, không thay đổi nữa, kệ em yêu, kệ tất cả. Bắt đầu tôi thấy ý nghĩ của mình chuyển sang những điều khác.

Luôn luôn tôi nhớ những chuyến tàu đêm đi Yên Bái, Lào Cai..nhớ cái ấn tượng đến ám ảnh của lần đầu tiên. Con tàu cổ lỗ, còi hơi. Hành khách là những người bình dân-đủ mọi hạng người, nhếch nhác..Cái không khí chộn rộn, ngai ngái của sân ga về đêm, dưới ánh đèn điện vàng vọt. Cái giọng nhắc tàu rất đặc biệt, đặc biệt ngang với chương trình ngâm thơ trong mục Văn nghệ của đài tiếng nói VN lúc đêm khuya gần Tết âm lịch. Xe ôm, xich lô, khuân vác, chè chén..người đưa người tiễn, cái dáng vẻ láo nháo ngơ ngáo tìm nhau. .Sự vội vàng của người về, vẻ bồn chồn của người đi...

Con tàu sẽ rục rịch rồi đi qua phía lưng của những khu phố cũ. Tôi ngồi trong toa ghế cứng (đấy mới là nơi của đa số mọi người), nhìn qua khung cửa. Không bao giờ người ta chú ý đến phía sau ngôi nhà cả. Con tàu như đi qua một thế giới chưa hề thay đổi-một thế giới, cũ, nhếch nhác và không hề mảy may làm duyên làm dáng. Thảng hoặc có xuất hiện vài người thì cũng là những phút giây không hề duyên dáng, cũng chẳng buồn ngó con tàu..Tất cả là một thế giới không phải của hiện tại. Khi tàu đi qua đoạn Đường Thành, tự nhiên thấy khác lạ vô cùng. Phố cũ Hà Nội nhìn từ trên cao xuống thấp thoáng sau hàng bàng đã thưa lá ngày cuối đông thật yên tĩnh khác thường. Từ trên đây thấy phố chả khác ngày xưa chút gì.

Ngang qua sông Hồng, gió bắt đầu lộng thổi. Cây cầu Long Biên xa xa trong ánh đèn vàng mờ mờ một quầng..cầu chỉ riêng cho người đi bộ và đi xe đạp-chủ yếu là xe đạp thồ, nhiều nhất vào sáng tinh mơ, khi mọi người chở rau sang phố..Thành phố lãng quên nhiều thứ quá, nên mới còn đầu sông cuối bãi này để mà đôi khi ta ra ngó cho lòng dịu lại...Tôi luôn thấy chuyến tàu là một hình ảnh thật giống với hình ảnh cuộc đời. Đủ mọi hạng người trên cùng một hướng đến đại thể. Ngồi lên đây rồi là không ai nghĩ đến một hướng đi khác nữa-không chọn lựa. Ở trong xe lửa là yên tâm nhất. Mọi sự vẫn trôi đi mà khối sắt thép này là đảm bảo tuyệt đối cho sự an toàn trước mưa gió ngoài kia. Có thể gặp vô số cảnh đời nơi đây: một cụ già về quê, một gia đình chộn rộn có con nít, những người đi buôn, những người đi làm, những đôi lứa đi du lịch, những người không thể biết...Trên tàu cũng có sự phân biệt, có trật tự riêng..trật tự của những người cả cuộc đời ở trên dòng lắc lư này...

...Khi đêm đã hơi muộn rồi, trời se lạnh thì mọi người đa phần đều ngủ hay gà gật. Tàu đang đi qua những cung đường vắng. Một vài ngọn đèn vẫn bật đủ soi mờ tỏ những dáng hình con người. Mọi người cố xoay sở cho mình tư thế thoải mái nhất có thể: những cái áo đắp tạm, người thì nằm ngang, chân gác qua thành đối diện, có người mắc võng và không ít người nằm luôn xuống sàn tàu có hoặc không có tấm gì kê lưng. Tạm bợ, tất cả đều tạm bợ vì chuyến đi chỉ là tình cờ, mọi người đều chờ đợi sự sạch sẽ tại nơi đến của mình. Bất giác tôi liên tưởng đến một cái nhìn trong suốt-tôi luôn ao ước có ai vẽ ra bức tranh ấy:trong con tàu, loại trừ đi những vách ngăn, nơi này là những người nằm ngồi la liệt, khoang bên là sáu con người một gian..mỗi người một tư thế, một dáng vẻ trong một thế giới ba chiều. Ai cũng bàng quan nghĩ rằng mình đơn lẻ, riêng tư...Ai đó nói mê, một vài người trở mình, thỉnh thoảng có người quờ quạng đi về phía toa lét, băng qua những cái chân ngáng, len lách giữa những thân người. Mỗi lần ngồi trong một toa tàu tôi thường luôn tìm một hình dáng nổi bật nhất. Một cô nào đó sẽ được chọn làm hoa hậu và hễ cô còn ở đó và không bị thay thế thì cảm xúc của tôi vẫn còn trung thành với cô đấy...Bất chợt một vài người bừng tỉnh, lục sục đồ đạc. Giọng thông báo ngái ngủ, con tàu sắp dừng lại một ga lẻ nào đó. Khuya rồi. Sương lạnh xuống mờ mịt. Con tàu dừng lại giữa một quãng rừng vắng. Trong đêm tối, cái ga xép chả thấy đâu, quầng sáng vàng vọt chỉ đủ soi thấp thoáng cây cột điện, hình như có nếp nhà sàn..Vài ba người xuống tàu, rồi vội vã tan mất vào trong đêm tối. Không biết giữa rừng thế này họ đi về đâu? Cũng không ai để ý họ cả, mọi người chìm trong giấc mộng mị, thấp thỏm..

....Giờ thì chỉ toàn là đường rừng. Ngó mông lung trong đêm tối, thỉnh thoảng vang vọng tiếng còi tàu tôi tưởng rằng như đâu đây sau bóng tối kia là cả rừng già đang hồi hộp. (Những cánh rừng thơ ấu chắc chỉ tồn tại trong những phút giây này thôi)...

...Tàu sẽ đến ga vào sáng tinh sương. Lần nào tôi xuống tàu cũng gặp những cơn mưa lơi rơi. Nửa mưa nửa sương nặng hạt. Buổi sáng nhoè nhoẹt và đường thì ướt rượt. Mọi người đều vội vã nhanh chóng đi tìm một chuyến xe vì chỉ một lúc thì ga lại vắng hoe. Xe đi Chapa bây giờ rất tiện và khá lịch sự. Loại 16 chỗ, đủ người là chạy ngay nên không khó khăn gì để lại được ngồi trong xe ấm áp mà ngó con đường. Núi chẳng mấy khi đẹp như tranh ảnh cả, mà thường bình dị, hơi nao lòng. Thỉnh thoảng vài chiếc xe Mink hay Simson của người Mèo chạy vượt qua. Đường vòng vèo khó đi, thỉnh thoảng lại có tai nạn, có năm bị sạt đất, lở đường..Vài người đeo gùi lầm lụi đi, đôi khi gặp bọn trẻ con-trẻ con ở đâu cũng vẫn vậy, thật dễ làm lòng dịu xuống và bâng khuâng, trong trẻo..Tôi vẫn nhớ nhất lần đầu lên Chapa vì hồi đó xe đi còn rất đa dạng chưa đồng bộ hoá như bây giờ. Lần ấy, xuống tàu ở Cam Đường rồi đi xe lên thị xã Lào Cai rồi mới đổi xe đi Chapa. Lần đầu hỏi thăm, mọi người bảo dễ lắm, taxi đi Sapa thì lúc nào cũng có. Choáng, mình sinh viên, lên đây mà đi taxi thì chỉ có nước mua vé tàu về xuôi luôn! Hoá ra không phải, trên này đồng bào gọi xe khách, ô tô, xe đò..là taxi..(không biết bây giờ còn thế không?).

...Rồi chúng tôi cũng lên được chuyến taxi của mình. Một chiếc U oắt dã chiến, phía sau để hở. Trên xe có bốn anh em chúng tôi hồi ấy sinh viên, ba lô, túi, bảng vẽ, túi giấy lỉnh kỉnh..hai vợ chồng già đi chơi về, bình dị..giữa đường đón thêm hai vợ chồng người Hmông xách đôi gà trống nói giọng Kinh hơi ngọng..hai cậu bộ đội trẻ đi lấy củi dọc đường cũng ghé lên và được phân công đánh đu đằng sau cùng của xe! Sàn xe có một lỗ thủng to tướng, tí nữa thì tôi bị rơi cả giầy xuống đường. Đoạn đường mỗi lúc một khó đi hơn. Lần đầu nếm mùi đường đèo khúc khuỷu, chúng tôi phải mất đến 15 phút mới quen được với tâm trạng là mình đã ngồi trên xe rồi..thôi kệ sống chết có số. Lên đến độ cao nhất định thì hơi có cảm giác ù tai, se lạnh. Anh bạn đi cùng vì quá hào hứng với phong cảnh mới buột miệng khen "một bác tài miền núi bằng ba ông đồng bằng" thế là ôi thôi...chiếc xe tha hồ lượn lách, vượt, đánh võng cua gấp..Chỉ dịu lại khi đã xuýt xô phải một chiếc xe Mink từ ngõ chồm ra. Đi mấy nơi tôi thấy cứ nơi nào miền núi nhiều dốc đèo là người dân có thói quen phóng nhanh ào ào, mình không quen thấy rất nguy hiểm. Hay người ta sống giữa núi rừng thì dũng cảm hơn nhỉ? Thỉnh thoảng vượt một chiếc xe đạp-pó tay với pác lày luôn. Thỉnh thoảng có chiếc xe đạp đổ đèo thì có một cành cây rất to làm phanh kéo lê thê đằng sau..rất hiên ngang, phong trần phết. Dĩ nhiên là cả nhóm mấy bà mấy cô Hmong đi chợ, mấy con trâu con ngựa gầy, bẩn, lầm lũi...Từ đấy về sau chả mấy con đường nào còn khiến tôi hoảng sợ như thế nữa..nghe nói đường đá Hà Giang còn nguy hiểm hơn nhiều phải không bác Chít?

...Xe đổ khách ở bên hông nhà thờ chợ Sapa. Hơi hoang mang, chúng tôi chưa ngắm ngắm nghía nhiều mà còn lo tìm một chỗ trọ khả dĩ với túi tiền. Sự thực lúc đi bọn tôi rất liều, không dự tính, không đóng góp chung mà cứ người này suy diễn người kia..Đại ý chỉ dự tính đủ hai lượt vé đi về là đủ. Giờ mới lo đây. Cả bọn bàn phải tìm một quán nước nào dễ bắt chuyện để hỏi dò mọi sự. Tôi ngó quanh quất rồi chỉ "Kia, bà chị áo vàng!". Cả bọn đi một nửa vòng đến ngồi ở một quán nước dưới một gốc thông căng che bằng một tấm bạt, nằm phía đối diện nhà thờ qua sân chợ tình. Bấy giờ là mùa hè, nhưng chưa đông khách du lịch, chúng tôi đi vào giữa tuần nên không đông khách. Thị trấn Sapa đìu hiu thưa thớt...

...Cho đến tận giờ tôi vẫn còn giữ niềm tự hào rất chi chủ quan về khả năng dự đoán tính cách người khác qua dù chỉ một thoáng nhìn (Tôi vẫn huênh hoang bá láp vậy thôi với bạn bè mặc cho những cú vấp đau lòng. Kệ! Mình phải tin vào con người chứ nhỉ?). Chị Ánh-tên cô chủ quán-còn trẻ, dưới ba mươi, không ồn ào nhưng rất nhiệt tình và cởi mở. Sau vài tuần trà, điếu thuốc thì chị đã biết là chúng tôi không vội vã đi đâu là vì chúng tôi đang tìm một chỗ trọ rẻ tiền. Chị giới thiệu mấy chỗ...Chen giữa câu chuyện thong thả, chúng tôi đã kịp biết bà cụ mang nước nóng ra là mẹ chị Ánh, bà không hay chuyện nhưng có cảm tình với chúng tôi. Bà kể chuyến đi tàu dọc Nam Bắc thăm con và họ hàng đầu năm. Cả nhà là dân gốc Yên Bái, chị Ánh theo chồng lên đây làm việc trong trường dân tộc nội trú, rồi bà cụ chuyển nhà lên đây, còn cô gái út đang làm cô giáo bản, đang nghỉ hè...Biết chúng tôi chưa có chỗ trọ, bà bảo lên nhà tôi ngủ, có đủ chăn chiếu, cần gì đi đâu..Êm rồi, chiều Sapa đẹp quá đi...nhưng dù sao vẫn hơi ngài ngại...Chợt chị Ánh nghĩ ra-"để chị hỏi bọn ký túc xá trường" Tuyệt vời, cuối cùng chúng tôi sẽ nghỉ trong ký túc xá của trường dân tộc nội trú. Có một phích nước nóng và 5000đ một người một đêm. (Hồi đó giá của nhà nghỉ là 30-50nghìn). Cất đồ xong thì chúng tôi bắt đầu đi dạo loăng quăng, ngó nghiêng. Lúc từ trường học đi ra gặp cảnh một đám đông xúm xít xem một đôi Hmông đang co kéo. Một anh chàng dùng chiếc khăn thít chặt tay cô gái kéo đi. Cô gái đỏ mặt tía tai dằng lại quyết liệt. Họ nói tiếng dân tộc, chúng tôi không hiểu gì. Chỉ thấy anh trai có thoáng cười, còn cô gái thì có vẻ bực. định can thiệp lại nghe có người bảo đấy là người ta bắt dâu nên thôi..Không biết về sau thế nào, cũng không thấy ai can ngăn gì cả...Tôi mua một chiếc áo khoác thổ cẩm không có tay rồi diện suốt đến tận khi về Hà nội. Sau đấy còn đeo mang cả năm trời cho tới khi giã từ trào lưu quần bò xé gấu, bị cói, túi vải, tóc dài...Tôi lại ra quán chị Ánh ngồi. Luôn luôn tôi có thói quen dè dặt sử dụng thời gian của mình với cái mình đang tìm kiếm. Vào thư viện, tôi thường lang thang cả buổi từ góc xa nhất cho tới kệ sách cuối cùng mới là nơi có cuốn sách hay thể loại tôi ưa thích. Tôi thường lo mình đã bỏ qua điều gì vương vất...

...Quỳnh là tên em gái chị Ánh đã ra ngồi gần chỗ chị mình và bày thúng ngô bản bắt đầu chuẩn bị nướng. Hơn bốn giờ chiều và chẳng cần giải thích nhiều khi chúng tôi không còn hăng hái đi tham quan cái gì cả hơn là ngồi hơ tay trên bếp lửa ăn ngô nướng ngọt mềm và hỏi chuyện cô chủ...Câu chuyện cũng bâng quơ và nhẹ nhàng vì hơi tội là trong lũ tôi chả ai có được cái tính tán tỉnh lăng nhăng cả. Em dạy bọn học sinh ở cách ba quả đồi. Học sinh một lớp học mấy chương trình cùng lúc vì gộp cả các lớp vào mới đủ người. Học trò nói tiếng Kinh một lúc, cô giáo nói tiếng Mèo một lúc...Hết hè rồi thì phải đi tìm học sinh giục lên lớp. Quỳnh mới đi dạy một năm, không biết cô sẽ gắn bó với cái lớp học ấy được bao lâu?...

...Sương đã xuống mù mịt, người cũng đông hơn và nhiều hàng quán hơn. Trời tối đen kịt, đi vào chỗ nào không có bóng đèn thì chả nhìn thấy gì. Tôi cũng không còn nhớ nhiều mình đã đi lang thang thế nào..chỉ nhớ lúc phải rời bếp than hồng nướng ngô vì đã sắp buồn nôn vì ăn quá nhiều. Ôi ôi là cái sự ăn ngô vì cô chủ!..Lúc về ký túc xá thì đã khuya. Có tiếng cười rúc rích ở gần cổng, trời tối quá, ai đó định tiến về phía tôi rồi lại rụt lùi, tiếng mấy cô gái Mèo cười rộ..Hơ hơ, hình như họ nhầm mình với anh giai bản nào đó-tôi mặc áo thổ cẩm. May mà không bị lôi vào bụi cây nào rồi thì lại bị chài, bị bỏ bùa thì còn mong gì ngày về!...Tôi kịp nhìn trên thành giường tên chủ nhân của nó:hôm nay tôi là Vàng A Pao....

...Những lần sau này tôi toàn xỏ tay vào túi đi một mình, không hành lý, không gì cả, tiền chỉ vừa đủ dùng. Thấy mình nhẹ nhàng hẳn. Khi bước xuống tàu, hay xuống ô tô, dù là ga tàu hay bãi chợ Sapa, tôi luôn có một thoáng chạnh lòng. Những người cũ không gặp nữa, cũng không tìm. Nhưng trong tôi, luôn luôn thấy ấm lòng khi biết đâu đó sẽ có người nhận ra mình chăng...Cũng như luôn vang vọng cả buổi chiều cuối năm một câu reo hỏi "ô kìa ông khách kia, hôm nay mới ra à?" ở giữa dòng suối Yến. Tôi không thích đi Hương Sơn mùa lễ hội cũng vì vậy, phải là một ngày thường, trong lòng núi, trên dòng sông, đâu đó có người hỏi thăm "ông khách thăm ai?", những tấm lòng lại hồn hậu, dễ dãi, không còn hằn gắt như những ngày đua chen mù mịt...

...Sapa. Sáng hôm sau, chúng tôi tỉnh dậy từ sớm tinh mơ và trả phòng luôn. Hôm ấy là thứ bảy, mới là ngày vui nhen nhóm, nhưng chúng tôi phải về vì hết tiền đến nơi rồi. Với lại, tôi biết, tôi còn quay lại nơi đây. Từ 9g trở đi đã thêm nhiều người khách du lịch cuối tuần lên đến nơi làm không khí vui hẳn. Một gia đình, mấy đôi trai gái, mấy cô học trò..họ luôn nổi bật lên vì trông cách ăn mặc là đã biết là du khách, tha hồ cho các bà Mèo mang vòng túi đến chào đón. Không ai hỏi chúng tôi mấy vì bộ dạng. Chết cười, có lúc tôi bảo để em đi tách ra, thế nào cũng có người hỏi. Vì tôi hôm ấy mặc quần soóc, đi đôi dày da lộn rất xịn (nhưng đã há mõm vì là đồ se con hen), lấy cái mũ rộng vành đội vào, khoác balô bộ đội, mặc chiếc áo khoác ngoài thổ cẩm thì cũng giống Tây phết! (vì đã bỏ lại cái quần bò, mấy cái túi, mấy thứ lỉnh kỉnh cho anh em rồi. Y như rằng một thoáng, mấy bà mấy em Hmông xúm vào, mình cũng phùng má no, no..như thật. Sau họ biết, cười rũ rượi rồi thôi.

...Sau ấm trà của chị Ánh, chúng tôi đi bộ ra suối Cát Cát, khoảng 3km. Đường gập gềnh, nhưng hôm nay đông người đi. Đến nơi thấy cũng thường, định lôi bảng vẽ ra rồi lại thôi. Đi chơi cho nó nhớ, vẽ vời mà làm gì! Lang thang lên đầu suối, hỏi chuyện mấy người dân tộc biết là năm nào cũng có người chết đuối ở đây vì chủ quan. Chết thật, lúc nãy, tôi với thằng bạn lần mò tắm ở đoạn trên mãi, chả biết sợ là gì. Suối trong mà sâu lắm, lúc đánh rơi cái thắt lưng định mò vớt tôi mới thấy hoảng. Nó hiện rõ thế kia mà nhúng cái que đến 3m chả thấy đâu. Tự nhiên thấy đoạn về thật khó khăn.(chúng tôi men theo dòng suối đi mãi lên trên đầu nguồn, không có đường, cứ bám vào rễ cây mà đi). Hai năm trước, có người bạn của mấy cậu em, không quen nhưng mà biết, vừa ra trường xong đi sinh nhật một mình trên ấy, rồi sảy chân ngã cũng chết ở đây. Mấy hôm sau mới vớt được. Bạn bè lên đón về, còn ướt rười rượi…

...Lúc đi rẽ ngang lối vào bản xa, gặp nhà sàn, có người mẹ địu con đang dệt vải. Người ở đây con gái tay ai cũng lấm chàm đến ngang khuỷu. Phụ nữ Mông thấp người, mặt to, dáng đi gù gù như cái điệu đeo gùi quanh năm, không đẹp như đàn ông tộc mình. Chúng tôi chào..."Chúng mày vào chơi, không sợ chó cắn đâu.." Nhưng lần ấy chúng tôi không vào...Nhà họ nuôi gia súc dưới gầm nên hôi và nhiều ruồi muỗi, không như nhà người Thái. Ồ người Thái, tôi lại nhớ cái lần liêng liêng vỗ tay hát hò theo điệu đàn dây của ông thợ săn trong căn nhà thấp tối cũ kỹ cuối bản Mai Châu buổi đêm, lúc ngoảnh ra thấy ngoài cửa sổ có chục cặp mắt của lũ bạn cùng lớp ngó vào-họ cũng e ngại người dân tộc như chúng tôi hồi ấy.

...Buổi chiều, mỗi người lang thang một nẻo. Tôi men con đường nhỏ đi về phía mấy căn nhà hoang phế. Tình cờ gặp ông anh cũng đang lang thang. Hai anh em đi một đoạn thì gặp người quen. Bà cụ mẹ chị Ánh dáng người nhỏ nhắn nhanh nhẹn mang cái ấm không về (bà thường mang nước nóng ra cho con). Qua hàng rào cây ngang người, từ xa bà nhận ra chúng tôi, gọi vào nhà chơi. Lúc về, chúng tôi băng ngang vườn, hái mấy trái đào trái mùa mà thấy ngon tuyệt...

...Sapa. Lần này tôi không vội vàng gì, tôi quá quen thuộc rồi mà. Xe dừng, tôi lững thững lên phía nhà nghỉ công đoàn Lâm nghiệp(?) lấy một phòng. Lại là mấy người khác rồi, những người cũ không làm nữa. Bên ngoài trời lạnh, sương mù mịt. Tôi chẳng đi đâu, ngủ cả ngày, đến bữa đi ăn. Hôm sau, trả phòng sớm. Lại lên tàu về Hà nội. Lòng tôi vẫn nặng chĩu suốt nửa chuyến đường về....

Sapa. Lần đầu tiên đi tàu ban ngày trên tuyến đường này. Hơi nao nao, vì nhớ những chuyến tàu đêm. Thị trấn không làm yên lòng, cảnh vật lại nhắc nhở chuyện đời thực mộng. Tôi phiền muộn, lơ đãng ngồi vào ghế của mình. Có hai người giống như hai cha con bác nông dân miền núi ngồi cùng. Một đống quang gánh vứt dưới gầm ghế. Cậu con trai mang theo một cái lồng chim hoạ mi. Họ ăn mặc rất nhếch nhác:áo sơ mi không thể coi là màu gì, quần kaki trung quốc, ống thấp, ống cao..dép lê. Người cha khoảng sắp 60, người con trai khoảng giữa hai mươi. Câu chuyện rời rạc..Một lúc nào đó, một người lấy quyển sổ học sinh lem nhem ra tính toán, chữ nguệch ngoạc, không nhìn ra được là ghi chép gì. Một người nhẩm tính cả mỳ tôm...Hình như không phải hai cha con. Họ đi buôn thì phải. Có vẻ như phải mấy tháng rồi mới từ rừng về. Tôi vẫn không để ý nhiều câu chuyện của họ, liên quan gì đâu...Chỉ hơi buồn cười cho cái vẻ luộm thuộm và tẩn mẩn của cậu con trai khi giữ khư khư cái lồng chim hoạ mi mua được từ trong rừng ra ấy. Tôi vốn không ưa việc nhốt thiên nhiên lại trong một cái lồng nên tự nhiên sinh sự để ý. Hơi buồn cười khi anh chàng nhắc tôi cẩn thận không dẫm phải chim của em!

...Đã qua Yên Bái, tự nhiên câu chuyện của hai người nhắc đến những tuyến quốc lộ. Tôi góp một vài con đường, thế là bắt chuyện. Vài lời nữa thì ô hô, a ha, hơ hơ...không tả được là tâm trạng tôi như thế nào khi nhận ra đây là hai công nhân của đội trắc đạc nào đó vừa đi đạc tuyến điện trung thế trong rừng về. Cái đống quang gánh mà tôi hờ hững dẫm lên lúc nãy là mấy cái mia, máy thuỷ bình...Cuốn vở học sinh thì kiêm luôn sơ đồ hoạ mốc...(Mãi sau này tôi luôn nhớ lại ấn tượng này như một lời cảnh tỉnh nhẹ nhàng với bản thân về cái sự nhỏ hẹp của lòng mình, khi mải nhìn mình người ta chẳng nhận ra dù một sự vật giản đơn, mà sa đà ngay vào những phán xét ước lệ..). Câu chuyện sôi động hẳn lên vì nghề nghiệp khiến gần như tôi thường xuyên có liên quan với những người như họ. Đến một nơi hoang sơ, ngắm nghía tìm hiểu qua qua, ước lượng quy mô rồi khoát tay một vòng...tôi sẽ về và mơ màng những kỷ niệm, còn họ sẽ bắt đầu hạ đồ, dựng lều, tìm nguồn nước..chuẩn bị một vài tuần lặn lội với muỗi, vắt và hoang vu...

...Khi xuống ga Hà nội, lòng tôi an bình lạ. Tôi nhìn mọi sự đã qua thực không đáng một mảy may...Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ những câu chuyện rơi rơi của ông bác công nhân già ấy về một cuộc đời lang thang khắp đất nước. Về những chuyến đi vừa mới từ Nam về đã lên Bắc mấy tháng với cậu trai trẻ kia. Hôm ấy giáp Tết, ông tính về nhà kịp đám cưới cô con gái, ra Tết lại vào Bình Dương...Hình như người thanh niên có hỏi ông về kế hoạch nghỉ hưu...Giọng ông thực thà đơn sơ lắm "Đi cả đời rồi thấy quen. Ở nhà vài ngày lại không chịu được.." Từ đây, không bao giờ tôi nản lòng trước cuộc sống. Mỗi khi thấy mình bải hoải, bế tắc..tôi lại biết, tôi đang quẩn quanh quá..cuộc đời dài rộng lắm...

3.
Lúc đó bất giác muốn đọc mấy câu "Tôi đi mãi mãi vào sơn cước..."

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Một quãng đường trường


1.

Tản mạn về những chuyến đi.


Một lần tôi có việc đột xuất phải đi vào TP Vinh. Lúc ấy không kịp lựa chọn bất cứ một loại phương tiện nào ngoài việc sẽ đi xe máy. Đi cùng với một bác, mà không, phải kể là một ông già gân vì suốt chặng đường bác (đã ngoài 60) nhất định không để tôi cầm lái! Hai bác cháu đi từ 4g sáng để kịp 10g30 thì tới nơi. Lúc ấy tầm đầu tháng 10, trời còn khá ấm vào ban ngày nên lúc đi chủ quan không mặc áo khoác, ra khỏi Hà nội vài cây số thì trời lạnh không chịu được, thế là đành phải trời không mưa đi mặc áo mưa chạy vào tận Thanh Hoá mới thôi.


Từ Thanh Hoá trở vào đi đường mình cứ lo bác ấy mệt, buồn ngủ thì nguy to nên cứ gợi hết chuyện này chuyện kia để hỏi. Thế là được nghe rất nhiều câu chuyện liên quan đến những địa danh hai bên đường. Cái kênh nhà Lê khi xưa làm giao thông Nam Bắc bây giờ nhìn bé tí, rộng nhất chỉ được khoảng chưa đến 10m. Qua đến Bà Triệu, qua quê Hồ Xuân Hương, rồi đền Cuông thờ An Dương Vương và Mỵ Châu, vùng núi hai vai (bây giờ làm xi măng cụt mất một vai), nghe chuyện con bò đen con bò vàng...Lượt đi vì vội nên không có gì kể ngoài rất nhiều chuyện vụn như vừa kể, nhưng buồn cười nhất là vào gần đến nơi mới hay rằng: hoá ra bác ấy cũng sợ tôi ngủ gật nên cố nghĩ ra chuyện để nói!

Sáng hôm sau quay trở ra thì đi rất thong thả vì khởi hành muộn mà hôm ấy trời đẹp, nắng nhẹ, không khí trong lành nên cứ đi dọc đường đến điểm nào hay thì chúng tôi lại dừng lại nghỉ ngơi thăm viếng. Về nhà điểm lại thì toàn vào thăm các bà! Đầu tiên là Đền Cuông. Đền nằm bên quốc lộ 1, quay hướng Tây, kiến trúc đẹp, có phần độc đáo so với những ngôi đền có quy mô tương tự. Từ mấy trụ biểu vào đến hậu cung chia làm 2 phần cốt thấp và cốt cao một cách rất rõ rệt, thế dựa vào sườn núi. Vì vậy mặc dù ngôi đền không to lắm nhưng có một dáng vẻ rất trang nghiêm. Nhớ lại quãng đường đã qua trên một chiếc xe cũ kĩ khiến tôi liên tưởng đến chặng đường rong ruổi của 2 cha con Mỵ Châu trong truyền thuyết. Quãng đi qua núi gì (Cuông?) mà nơi có ngôi đền cổ nhỏ bé nằm trên đình, truyền rằng mới chính là nơi đầu tiên thờ cúng An Dương Vương, và chân núi là nơi có bờ biển xảy ra câu chuyện ngọc trai...Con đường đi ngang qua một cánh đồng rộng rãi, ngôi đền nhỏ bé nằm trơ trọi bơ vơ trên đỉnh dãy núi quay mặt ra biển quay lưng lại phía con đường-lần nào đi qua đây tôi cũng cảm thấy bồi hồi.


Quay lại lúc vào đền Cuông, tôi vẫn còn tâm trạng ấy. Trèo lên mấy bậc cao để vào hậu cung, không hiểu sao cứ liên tưởng đến hình ảnh An Dương Vương có phần hơi nghiêm khắc cứng nhắc, có nỗi khổ tâm đối với hình ảnh Mỵ Châu ngơ ngác, bơ vơ. (Đền thờ công chúa nhỏ bé, đơn sơ nằm bên cạnh bên tay trái đền vua-bên trong tiêu điều sơ sài. Một không gian lạnh lẽo tui tủi). Truyền thuyết chả nhắc đến mẹ nàng bao giờ. Cha già con dại, một quãng đường trường, nghìn năm gió bụi. Bâng khuâng lúc thắp hương cho nàng, tôi nhủ thầm chắc hẳn họ đã ở một nơi nào đó gần gũi hơn - để nàng có thể chăm sóc cha già, một cuộc đời đơn sơ không vướng bận. (Đền xây thời Tự Đức thì phải. Rốt cuộc đó là nơi thờ một ông vua và một công chúa, không phải là nơi cư ngụ của hai cha con. Hay họ còn ở trên đỉnh ngọn núi kia?

Đền Bà Triệu cũng ở bên đường quốc lộ, phải đi qua đường tàu. Cũng cổ kính, có mấy cây cổ thụ phủ bóng. Nhưng ở đây có phần ấm áp hơn vì bối cảnh xung quanh có nhiều dân cư và hình như cũng có nhiều hoạt động kiểu cầu tài cầu lộc. Đối diện bên kia đường ở giữa cánh đồng có ngọn núi tương truyền là mộ của bà ở đó. Cũng có một ngôi đền, từ xa nhìn thấy màu trắng thấp thoáng. Ngày trước học sử, cứ tưởng tức lên là cầm kiếm đánh nhau rồi thành ra khởi nghĩa ngay. Thực ra, ở trong vùng vẫn còn những mẩu chuyện, vết tích về thời kỳ chuẩn bị lực lượng của hai anh em bà. Bản thân bà Triệu hình như cũng có vết tích khắp mấy tỉnh trong vùng. Bây giờ giao thông thuận tiện, thông tin đầy đủ mà giật mình nhìn lại, chưa bao giờ có được cái nhìn bao quát trải ra một vùng rộng, như thế đủ thấy những con người của lịch sử luôn luôn có một bản lĩnh và tầm nhìn lớn rộng và những hành động thiết thực, đích đáng. Ông Mai Thúc Loan cũng vậy, tôi đọc đâu đấy rằng ông là một hào phú có tới 4 bà vợ ở 4 vùng miền trọng điểm thời đó. Đủ biết cụ gây cơ sở cách mạng kỹ lưỡng như thế nào! Ngày xưa nghe chuyện rút đòn gánh đánh lính nghe giống như truyện Trần Thiệp, Ngô Quảng bên Tàu vậy. (Ai đó còn có giả thuyết về gốc tích Chiêm Thành của Vua Đen nữa. Sự tích, khảo cứu vùng này, tôi đọc được cuốn An - Tĩnh cổ lục của ông gì người Pháp dạy học từ thời đầu thế kỷ mới tái bản (xuất bản?) thấy là rất có giá trị về khảo cứu.


Chính trong đấy có câu chuyện về một bài luận của học sinh An nam của ông làm sau khi được đi điền dã khảo sát họ Nguyễn Tiên Điền. Mộ Nguyễn Du khi ấy còn sè sè một nấm bên đường chứ chưa bị ồn ào như ngày nay. Có ảnh chụp, hoang sơ giữa đám cỏ, một vùng cỏ áy bóng tà. Người học trò (sau rất có tiếng, là thày dạy của một vài trí thức nổi danh) đã bất bình cảm thán nhắc lại câu thơ "bất tri tam bách dư niên hậu" mà mong có được sự quan tâm của chính quyền. Chính ông thày người Pháp đã có một lời nhận xét là ND mong có người nhớ đến mà nay Truyện Kiều đã đi vào hồn dân tộc thì còn tượng đài nào hơn nữa, chắc gì tôn vinh mà đã hơn, lại khéo sa vòng tục luỵ như những câu chuyện về điện vinh danh của Pháp? Cứ như vậy lại có khi vừa lòng ông. Chuyện thăm mộ Nguyễn Du, thăm nhà và mộ Nguyên Công Trứ tôi sẽ kể sau, nhưng thật là một nhận định của người trí thức chân chính và hết lòng yêu vùng đất con người bản xứ-nhất là khi bạn đến thăm khu di tích Nguyễn Du sẽ cảm nhận thấy điều nhận xét ấy xác đáng thế nào.

Kỷ niệm về ngôi đền cuối là một kỷ niệm ngọt ngào mà lâu lắm tôi chưa gặp lại được như thế. Ở giữa Thanh Hoá và Ninh Bình, có một đoạn đường một chiều là dốc, một chiều là hầm (tự nhiên quên mất địa danh). Bên đường có đền Rồng, tương truyền là nơi thờ vua Quang Trung do sự tích họp quân trước khi ra Thăng Long năm Kỷ Dậu. Nhìn từ ngoài thấy sặc sỡ, lại nhiều bà nhiều cô cậu lúc đi đã chả muốn vào. Lúc về tự nhiên ngó thấy có bảng đề có đền Mẫu Thoải ở sâu bên trong, thế là hai bác cháu bảo vào thăm cho đủ ba bà!


Đi một quãng ngắn thì đến nơi. Ở đây chả có ai để ý đến. Nói thế nào nhỉ, lúc ấy là gần 11g trưa. Trời nắng đẹp, ấm áp. Trời xanh cao rộng rãi, mây trắng vụn phiêu dạt. Thế mà len qua một quãng đường đất có hàng cây bụi hai bên, ven theo dòng suối rộng đến chân một vách núi dựng lại có một ngôi đền nhỏ bé, nép mình. Có cây đại già cổ kính rải đầy hoa trắng. Yên tĩnh. Mát lành. Quay ra bờ suối nhìn thấy dòng nước trong vắt, êm đềm từ trong hang nhỏ lan ra cả một vùng. Đáy suối là cả một tảng đá nguyên khối phẳng lỳ rộng dễ có đến hàng trăm mét vuông. Ngọt ngào nhất là mấy bông thuỷ tiên trắng phớt vàng đương độ lơ lửng trên mặt nước trong trẻo. Tất cả rất yên lặng. Bất ngờ một con rắn nước từ bờ thấy động trườn vào suối làm mặt nước rung rinh xao động. (Tôi đùa là mẫu ra hỏi thăm hai bác cháu!)


Một lúc sau ông từ đến-gọi thế thực ra chỉ là một người trông coi vì ở đây ít người đến cúng kiếng, tất cả ở ngoài kia). Ông mở cửa cho chúng tôi vào thắp hương. Nội điện quá nhỏ và cũ kỹ chứ không cổ xưa. Nhưng thật bất ngờ, ba bức tượng thờ thì lại đích thực là tượng cổ. Phong cách điêu khắc khuôn mặt rất đặc trưng, hơi thiên về tả thực và phúc hậu. Màu sơn thiếp cũng đặc trưng, dịu và có màu nâu nhạt, sâu, bóng. Tự nhiên tôi thấy được an ủi cho cái vẻ ngoài quá cũ kỹ của ngôi đền.


Quay trở ra nói chuyện với người coi đền. Hoá ra ông chỉ bằng tuổi bác đi cùng mình mà hai người trông như hai thế hệ! Thực quả là con người ta có mấy loại tuổi: tuổi trời giao cho mẹ cho mình thì bằng nhau, nhưng cái tuổi sinh dưỡng đã khác nhau rồi cái tuổi xã hội lại càng khác nữa. Tôi đã thấy cả một hậu cảnh cho cái buổi trưa hôm ấy, nhưng nói làm gì nhiều, đời người còn do duyên nghiệp.


Có thể rồi ai đó sẽ đến hay đã qua và thấy khác tôi. Nhưng tôi cũng biết vậy và cũng chưa hề có ý định quay lại. Cái trong tôi còn vang vọng, ảnh không kể hết được, chỉ có thể khơi gợi ra. Một buổi trưa rộng rãi, trời xanh, mây trắng, nắng hanh hao. Một quãng đường trường, một hàng cây bờ suối.


Cả cái câu chuyện có phần rời rạc, se sẽ trong một bầu không khí khác, xa xa văng vẳng lại tiếng xe cộ thảng hoặc...


2.

Bài viết cũ. Hôm nay muốn đọc lại. Nó là bài viết hầu như đầu tiên của tôi trên thế giới mạng. Kể chuyện hầu như đầu đời về công việc lúc ra trường. Định hình nên một cách sống, cách làm và một lối nhìn đời.


Có những câu văn hầu như lặp lại. Có những tâm tình vừa viết ra đã thấy giống như là chứng déjà vu. Một quãng đường trường, một quãng đời, hay chuyện nhân gian cứ đến rồi đi thao thức mãi vẫn chỉ là bấy nhiêu?


Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Ghi chép dọc đường - Quảng Nam. NDHCTCM.2.

3.
Những bận nào Trà Linh qua Đá Dừng Hòn Dựng
Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược Khe Rinh
Bao lần anh cùng chúng em lận đận
Bôn ba qua rú rậm luống rùng mình


Hoá ra Tam Kỳ là một thị xã nhỏ đang phấn đấu thăng cấp lên thành phố. Thành phố thì mọi thứ cần to hơn và điều dễ nhận thấy đầu tiên là tất cả các trụ sở của Tỉnh ở đây đều được đặt trong các khuôn viên rộng rãi đến loãng cả không gian. Cả thị xã là những lô lớn rộng thênh thang với những con đường trồng toàn cây trứng cá. Loại cây này là một sai lầm sơ đẳng về nguyên tắc trồng cây xanh đô thị: những quả trứng cá chín rụng be bét trên vỉa hè loang lổ những vệt nám đen xạm cùng với lũ côn trùng khiến cho ta chỉ có thể nói về cảm giác đó bằng một hình dung từ "nhớp nháp".

Ở trong này vào quán thật khó để kiếm được món rau xanh như ngoài Bắc. Có thể trước hết là tại khí hậu, thổ nhưỡng, sau là tại đã thành văn hoá luôn rồi. Lạ là bia lấn át rượu một cách tuyệt đối. Lạ nữa là mọi người ở đây đều bảo làm quái gì có rượu Hồng Đào. Ừ cũng có thể rượu hồng đào chứ không phải rượu Hồng Đào mới là chưa uống đã say.

4.
Sở TM&DL QN lúc đó mới được thành lập, trụ sở còn chưa kịp hoành tráng như các sở khác. Hoá ra ông giám đốc Sở là một người dân dã và dễ mến. Ông hào hứng với việc sẽ xếp được lịch để cùng đoàn đi khảo sát toàn bộ cung đường HCM mới mở đi xuyên qua tỉnh QN. Như vậy là sẽ đi khoảng đâu chừng bốn năm trăm cây số đường miền núi. Sẽ qua một vài cung đường còn chưa chắc chắn là có đi được không, nhưng tất cả xác định là cứ đi đi đã.

Chuyến xe chính thức khởi hành từ 5 g sáng và người cuối cùng được đón là một vị khách đặc biệt mà ông GĐ rất quý mến muốn mời đi cùng. Một nhạc sỹ, nhà báo, nhà phê bình chuyện chưởng, nhà nghiên cứu...nói chung là một giáo sư biết tuốt. Suốt chặng đường dài nhờ giáo sư mà chuyến xe luôn đầy bộn những câu chuyện trên trời dưới bể. Ông nói nhiều và nhanh, như thể sợ rằng người ta sẽ không kịp nhận thấy hết tất cả những vốn liếng kết giao giang hồ chốn văn nghệ sỹ, những sưu tập ngóc ngách giai thoại anh nọ bác kia của trí thức miền Nam. Thực lòng tôi cũng chẳng thành kiến gì những chuyện này, nhưng ta sẽ thấy ngao ngán khi nhận ra rằng hoá ra lại cũng có cả những mô tuýp phong cách cho những nghệ sỹ phủi, trí thức bụi. Tình cảnh chẳng khác gì việc phải đi ăn hai cái đám cưới cùng một ngày cùng một lúc tại hội trường kia và lại cùng một anh MC nọ. GS Biết Tuốt thực ra cũng chỉ tám những chuyện vô thưởng vô phạt kiểu trích dẫn "cộ xe nhiều cũng cửng như hươu" nhưng ông bị tâm trí tôi đề kháng vì vô tình ông là ví dụ điển hình cho cái tâm thế du hý văn hoá dễ dãi mà tôi đang muốn vượt qua ngay từ lúc khởi hành. Từ đây ông sẽ đứng bên lề câu chuyện của tôi, nhưng dẫu sao ông cũng đã góp phần tạo nhân duyên cho một không khí, một cuộc du hành của tâm trí.

5.
Em nhớ hay không? hồn hoa dại cỏ
Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya
Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ
Gió cây rung trút lá mộng tan lìa

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Ghi chép dọc đường - Quảng Nam. Nghĩa địa hoang cháy trong chiều muộn. 1.

Không thích kiểu đặt gạch này nhưng muốn ép mình viết đôi điều về Quảng Nam-một vùng đất khởi đi từ BG, lòng tôi vương vấn nhiều tình cảm. Mỗi lần muốn viết, lại thấy trong mình còn thiếu vắng hụt hẫng điều gì đó không làm rõ ra được.
-------------
1.
Quãng năm 2003 tôi ghé Quảng Nam chừng 01 tuần trong khuôn khổ chuyến đi công việc một loạt các tỉnh phía Nam. Nội dung làm việc ở QN là khảo sát thực địa để lập QH du lịch toàn tỉnh. Vậy là tha hồ đi dọc ngang một vùng đất, hàng nghìn km trong vài ngày. Nơi nào đẹp, còn hoang sơ có tiềm năng (nhưng chưa) khai thác ta tới xem chơi. Món gì ngon lạ (thiên hạ chưa biết) ta nếm thử :) Tiền có nhà nước trả, đường có người trong ngành dẫn đi - hỏi còn tiện nghi nào hơn. Riêng những đặc điểm này có thể coi là xứng đáng để trừ vào 8 tháng mài mòn con người trong môi trường quốc doanh được lắm thay.

Từ trước chuyến đi, chúng tôi đã hồ hởi tìm kiếm tài liệu, tra cứu bản đồ để lên một lịch trình, những chỗ phải đến, những thứ chắc là phải xem...Những thao tác không khỏi hình thành trong tôi một mường tượng sơ khởi về vùng đất này. Ngày đó tôi mới đọc một tác phẩm duy nhất của BG là cuốn "M.H và Tư tưởng hiện đại". Tôi có cảm tình với ổng và biết ổng là người QN nên không khỏi hồi hộp về việc mình sẽ ghé qua Duy Xuyên xem đàn bò trên đồi sim chín ra sao.

Nhưng tôi cũng giữ cho mình một khoảng hờ hững để khỏi thất vọng: không có gì là nhất thiết cả, hãy để cho mọi khả năng đều có thể đến. Hơn nữa chuyện quê hương xứ sở tôi vốn coi chỉ là câu chuyện một dòng sông, chúng ta chỉ cần coi trọng một căn cước chung là thân phận con người-những con người luôn hoài hướng về một quê hương không biết ở đâu. Gói ghém một nhân cách như BG vào một địa phương là chuyện có cũng được, không biết lại càng hay; tôi nghĩ vậy và tôi đã khởi đầu chuyến đi bằng tâm thế của một người dưng lang thang.

Đã hơn 6 năm nhưng trong tôi, sau tất cả những gì đã trải qua, vẫn cảm thấy mình đã lạc lại đâu đó ở vùng đất ấy. Có lẽ chính vì vậy mà chưa bao giờ tôi thực sự cảm thấy có thể kể liền lạc về Quảng Nam, về một buổi chiều hoang tàn đến thê lương trên đập Vĩnh Trinh năm xưa. Thực ra mà nói, cũng chẳng có gì để nói. Chỉ là tôi nghĩ sẽ không tái hiện được chính xác những gì tôi đã trải qua. Và trong chuyến đi miên viễn của tinh thần, chưa bao giờ tôi muốn kể lại nó chỉ như là một câu chuyện mua vui. Vậy đây có lẽ cũng lại là một chuyện có thể dài mãi mãi nào đó đôi phen ta kể lể như là chỉ để chính ta nghe.

2.
Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự
Chỉ yếu Đàn lang nhận đắc thanh.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

Ghi chép dọc đường - Đà Lạt. DALAT

- Đồng cỏ khô ở Bình Thuận -


Dat allis laetium allis temperriem -
cho người này niềm vui, cho người kia sự mát lành*.

1.
Sáng đọc thấy tin liên quan đến một dự án ở Đà Lạt. Có vẻ một lần nữa Đà Lạt lại được đem ra chạm trổ theo kiểu trang trí. Tôi thấy hơi tiếc vì đã từng làm concept một lần cho khu vực này cách đây gần 5 năm. Dự án không triển khai được vì nhiều lý do nhưng nguyên nhân chính vẫn là ở sự mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư một khu công viên công cộng với những toan tính vụ lợi của các chủ đầu tư thiếu tầm. Đà Lạt cũng như Huế là một trong những nơi hiếm hoi các vị giám đốc Sở chuyên trách đứng lên phản đối cả chủ trương của Tỉnh nếu nó có nguy cơ làm hỏng tinh thần nơi chốn của địa điểm. Với những vấn đề phức tạp của đầu tư, đôi khi người ta có thể đợi được, vì 5 năm là một nhiệm kỳ. One man one vote, chỉ là giấc mơ DALAT trong tôi đang thoáng hư hao.

2.
Làm thế nào để có thể thâm nhập vào tinh thần của một vùng đất khi còn chưa đặt chân đến đó? Làm thế nào để có thể chia sẻ những ký ức cộng đồng với những cư dân bản địa. Cần vượt qua cả những lối mòn mang dáng vẻ văn hoá đã xói mòn để tìm về với những căn cốt nguyên sơ của vùng đất, thứ ký ức mơ hồ bàng bạc trong đất trong cây.

Khi yêu nhau người ta thường muốn khắc ghi những dấu ấn. Kỷ niệm của tình yêu dù là nét hồi tưởng âu yếm hay vẻ sầu muộn khắc khoải đều khiến người ta muốn trở lại. Một địa điểm cần được cảm nghiệm và trân trọng tinh thần nơi chốn của nó, và con người cần được dẫn dắt để bắt lại nhịp điệu của đất. Sẽ vừa hay biết bao nhiêu nếu tạo được những trải nghiệm tinh thần cho du khách theo hướng đồng điệu với vẻ đơn sơ thoáng đạt đến nao lòng ở nơi mà cả những buổi chiều cũng nghiêng nghiêng.

Cái nền chung của vùng đất này với tôi là sự nguyên sơ trữ tình thanh thoát. Những con đường vừa phải khuất khúc ven những nếp đất và những vạt thông già. Những mảng sương nước lếnh láng theo những nhịp đồi. Người Pháp đã chặn lại dòng suối để dâng thành mặt nước hồ Xuân Hương (không nên nhầm thành nữ sĩ họ Hồ đâu ạ - do đó cũng không phải tụ điểm của các Bà Huyện như người ta đã trót lầm nữa). Cùng với việc đặt sân golf đồi Cù, khoanh vùng không xây dựng quanh khu trung tâm hồ nước và nhất là phác thảo những điều lệ quản lý xây dựng khu biệt thự, người trước đã vạch ra những nét lớn vừa thoáng đãng vừa tinh tế cho viễn cảnh một vùng đất. Đáng tiếc không phải nhà quản lý nào cũng có thể chia sẻ được những thang bậc giá trị mơ hồ này.

Thế là không chạm đến được giấc mơ lang thang trong đường hầm Chếnh Choáng của những men vang, bắt chuyến xe phù thuỷ lạc vào xứ Thượng giữa lòng đất nghe kể những sử thi của xứ sở.

3.
Tôi đã đứng rất lâu bên cạnh chiếc Đại Hồng Chung trên đỉnh Phượng Hoàng. Muốn đấm một tiếng vang buốt lồng ngực nhưng mọi thứ nghẹn lại bải hoải. Tôi phải lựa chọn và đã lựa chọn: một mảy vọng niệm cũng không cầu. Đà Lạt trong tôi còn là một buổi chiều không khốc đó.
------------

(*) - Câu ghi trên phù điêu chợ Đà Lạt bằng chữ La tinh, nhiều người nhận là nguồn gốc tên của thành phố thay vì là một trò chơi chữ từ cái tên ĐL.


Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

Ghi chép dọc đường - Sài Gòn. Mộc Châu: phía sau núi lại có chân trời.

by Stephane

1.
Sau khi xác định là không còn công việc nào phải làm nữa là tự nhiên người chùng ra, mệt nhũn. Cả đêm hôm qua vật vờ lơ mơ nửa thức nửa ngủ. Không yên lòng. Ba đêm ở trong này thì một đêm ngủ trên xe, một đêm ngủ trên ghế văn phòng và chỉ một đêm được ngủ trên giường. Đáng được an ủi thì là vì đó là một đêm trăng muộn, ngủ trên nhà sàn giữa thảo nguyên.

Ba ngày chạy xe ngót nghìn cây số. Nhưng thà như thế còn hơn mấy chục phút tắc đường làm quà của SG. Sao người dân ở đây có thể chấp nhận những cái lô cốt lâu đến như vậy. Tư cách lãnh đạo quản lý thành phố kiểu gì cà chớn quá dzậy ^^

Nhưng SG thật đông vui và năng động. Lần sau sẽ cố gắng thu xếp để có thể la cà được chút chút. Tối bay về HN. Tạm biệt SG.

2.
Thêm 1 mẩu chuyện về thảo nguyên. Những đồi chè san sát của cao nguyên Mộc Châu cũng có thể tính là một cảnh đẹp sững người cho những tay nhà quê đồng bằng như tôi. Kỷ niệm và ấn tượng về Mộc Châu hơi nhạt nhoà. Có lẽ vì đã đến đây nhiều lần. Cũng có thể vì những dãy đồi bát úp chưa đủ bát ngát và đường chân trời lại bị vây bởi những rặng núi cao. Không nhìn thấy chân trời thì còn có thể nuôi dưỡng vài ba ảo vọng để sống qua ngày. Nhưng nếu chân trời rốt cuộc cũng chỉ là một ảo tưởng hư hao thì đời nhiều khi cũng là một gánh nặng khôn kham.

Tôi khóc những người bay không có chân trời
Và khóc những chân trời không có người bay
(TD)

Bạn ạ, lỗi không phải tại những chân trời, chân trời chỉ là nơi mặt đất nhẫn nại cho ta biết đâu đâu cũng thể quê xưa chốn cũ. Hãy để bàn chân trần lấm đất và rong chơi. Ta lại có thể đùa vui về những chân trời mê mải. Sống không phải là hoặc thế này hoặc thế kia. Sống hình như là vừa thế này vừa thế kia mà thôi.

3.
(...) Cả một cảnh đời băng giá dưới ánh trăng huyền diệu của văn chương đã được Tố Như giăng giăng phơi trải…Và mọi chúng ta, bước trên con đường bon chen của cuộc sống, dừng lại, đưa mắt bâng khuâng. Thanh thản chợt về lại tâm hồn. Ta soi lại bóng mình. Và thấy lòng yên dạ: cuộc sống vẫn là xô bồ, nhưng bên kia cái xô bồ còn lung linh một bóng hình diễm ảo: cứu cánh của đời thì ra không phải chỉ có lợi, danh, tình…nhưng của phù phiếm ấy có nghĩa gì giữa cuộc sống phù du? Nếu người không biết để lòng mình dạt dào trong một nỗi cảm thông nào cùng trời đất, mà nghìn năm cây lá vẫn ngân vang:

Con là sáo, mẹ là ngàn vạn gió,
Mẹ là trời, con là hạt sương rung
…”
(XD)

Kiều đã sống một cuộc sống giống chúng ta. Nàng đã đau khổ. Như mọi chúng ta thôi. Nhiều hơn một số, và ít hơn một số. Nàng tỏ ra có thiện chí ít nhiều, và nhiều lần tội lỗi. Đời nàng tầm thường là hình ảnh kiếp người tầm thường. Nhưng khi kể lại đời nàng cho ta nghe, Nguyễn Du đã có một giọng điệu nhặt, khoan, trầm, bổng thế nào, và đã làm sáng ngời bài học luân lý. Chúng ta cảm động. Khi lặng nghe Nguyễn Du chậm rãi giọng lời, chúng ta thấy bên kia tối tăm, một kiếp người đang vùng vẫy. Trong tâm khảm ta, từ nay hình ảnh ấy sẽ in sâu, rõ nét, đậm màu. Vì bên tai ta luôn luôn văng vẳng giọng Nguyễn Du. Con người nhỏ bé trong tác phẩm đã cho ta một bài học lớn. Chúng ta thầm tạ ơn tác giả. Giá trị luân lý của Đoạn trường tân thanh không do những hành động vụn vặt của Kiều, mà do lời thuật chuyện của thi nhân, lời đây không phải là lời văn, mà là giọng nói của một tấm lòng. Lời nói mang nặng biết mấy tâm tư: tâm linh của người dân Việt hội tụ lại ở đây, một lần duy nhất: trong sáng hơn ca dao, thâm thuý hơn tôn gíao, diễm tuyệt hơn văn chương, vì cái giọng não nùng của một kiếp sống dở dang trong dòng đau thương của thế kỉ. Dở dang mà không gì nguyên vẹn cho bằng.

(Bùi Giáng tuổi trẻ bình Nguyễn Du - "Giá trị luân lí của Đoạn trường tân thanh hay là Tiếng nói của Nguyễn Du". Ai muốn hiểu BG một cách đơn sơ hơn nên tìm đọc tập sách mỏng này. Lạ là mãi chưa được tái bản)

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2009

Ghi chép dọc đường - Bình Thuận. Đồng cỏ khô.

1.
Trên bản đồ đất nước đoạn miền Trung về phía nam, khi cạnh bờ biển chuyển từ phương thẳng đứng sang phương ngang thì đó bắt đầu là tỉnh Bình Thuận. Theo Wikipedia thì ngay cả trong các văn bản chính thức người ta cũng không rõ ràng trong việc xếp Bình Thuận vào vùng duyên hải Nam Trung Bộ hay vùng Đông Nam Bộ. Trong quá khứ, việc chuyển đi rồi chuyển lại từ Trung Kỳ sang Nam Kỳ cũng đã từng có tiền lệ. Một khu vực ở ranh giới vùng đồng nghĩa với việc tính đồng nhất của các yếu tố tạo vùng ở đó so với trung tâm là thấp nhất. Nhìn từ mặt khác của vấn đề, nếu một địa phương chấp chới giữa ranh giới 2 vùng cho thấy nó cũng có thể là do bản sắc của nó khó có thể xếp loại. Câu hỏi đầu tiên bật ra với tôi khi nhìn địa thế của Bình Thuận trên bản đồ là "Bình Thuận có gì khác biệt?".

Với tôi sự khác biệt nổi bật nhất đó chính là đường chân trời dăng dăng bát ngát của những địa hình đồng cỏ khô (xavan). Bình Thuận cùng với Ninh Thuận ghép chung một hình ảnh về kiểu khí hậu khô cằn nhưng ở Ninh Thuận địa hình nhiều núi gấp hơn, mọi thứ cũng khắc nghiệt hơn. Đứng ở chân núi Chúa người ta dễ cảm nhận thấy sự e ngại trước những vạt rừng cây thấp kết tán dày đặc bao phủ toàn vùng rộng lớn. Nhưng khi đứng trước những đồng cỏ khô miên man ngút ngát vào lúc hửng sáng, rõi theo cuộc dạo chơi của thứ ánh sáng mát lành trên những triền địa hình nghiêng nghiêng đang chuyển dần từ sẫm tối sang vàng sáng hơi biêng biếc của cỏ và cát, ta bất giác thảng thốt. Khi đứng trong gian nhà gỗ nhìn xuyên qua khung cửa về phía chân trời mê hoặc đó, đứa trẻ châu thổ trong tôi vụt muốn băng một mạch về phía những giấc mơ tuổi nhỏ. Những vạt cây rừng lác đác, những khe trũng bất ngờ và dáng núi Tà Cú hùng trầm phía xa tạo cho khung cảnh ở đây có nhiều sức gợi riêng có.

Tất cả chỉ là luật tương phản của trải nghiệm cảm xúc. Nếu so sánh theo kiểu đo đếm thì dẫu thế nào những đồng cỏ của nơi đây cũng không là mảy may với những xavan của châu Phi hay những thảo nguyên hùng vĩ Trung Á. Nhưng trong chiều kích hiện hữu của một cá thể, thiết tưởng tính trữ tình của không gian hầu như phụ thuộc vào vần luật trải nghiệm trên con đường ta đã đi qua. Cùng chiều kích một vùng đất, một cuộc đời, mỗi con đường có một tình điệu riêng ai qua nấy biết, chỉ có thể khơi gợi mà chẳng thể truyền trao. Phải chăng vì thế những tác phẩm lớn thường có giọng điệu ngậm ngùi kể lể chyện nhân gian?


Những cơn gió nóng mùa hè, những cơn gió bấc mùa đông xoáy xiết không gian chập chờn khắc khoải

Giật tung những cánh cửa im lìm
Gió tạt vào mặt vào miệng vào những kẽ tay
Nước mắt dàn dụa lưỡi nghe vị mặn của biển, ẩm ướt của rừng lẫn trong mùi hăng thảo nguyên mùi khét sa mạc
Nghe tận cùng...vị ngái của mùa thu

Và kiệt sức, khốn cùng, quỵ giữa cánh đồng hoang

Anh bật cười, rao bán những giấc mơ.


Thảo nguyên ướt đẫm và vang vọng, tha thứ cho ta già béo bụng phệ không còn muốn chạy miên man nữa. Nhưng ta hãy còn những giấc mơ...

2.
Lâu rồi chưa đọc lại Luận ngữ. Cảm giác đáng kể nhất là sự thăng bằng điều hoà giản phác.

Tử viết: Hưng ư Thi, Lập ư Lễ, Thành ư Nhạc.
Thi ca làm phấn phát tinh thần. Lễ điều hoà con người và xã hội. Con người thành tựu tinh thần như Nhạc.

Và thành tựu cao nhất của Nhạc là ở những di âm vang vọng mãi. Tinh thần nhờ đó hoà nhập đến chỗ không có hình dạng.

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2009

Đã nổi phong yên lộng bốn trời

...và một vài dị bản khác "đẩy, dấy...ở giữa trời". Bài này té nước theo mưa từ bài của bác NL (nói toàn chuyện cũ rích nhưng rất nhiều tên sách :)

1.
Đi.
Nhắc đến đúng là gãi vào chỗ ngứa của nhân gian. Ngày trước bên blog cũ có 2 tag mình quan tâm nhất là "đi" và "đọc" nhưng 360 hay trục trặc nên về sau tag ít được dùng. Vì hình như để nhiều bài trong 1 tag quá là nó mất tiêu luôn. Trong khi hầu như những điều mình nghĩ và viết đều có thể quy về đi và đọc. Chính vì thế nên rồi nó trở lên khó nắm bắt và rộng đến độ loãng ra không còn theo dõi được nữa. Hầu như cũng tính là một chủ ý của mình: đi vòng quanh chủ đề để một lúc nào đó tự nó hình thành một không khí, một giọng riêng của câu chuyện - vốn dĩ chẳng có gì để kể. Viết bài này để tạo lại tag "đi". Xong mới để ý có 1 tag về "những chuyến đi" nhưng nó cũng có hơi khác về sắc thái. Những chuyến đi là những chủ đề khá xác định và đủ nội dung. Còn đi như là một tâm thế thì vẫn nên tạo riêng ra.

2.
Chịu không tìm được đoạn phát triển cái ý tưởng về chuyển động và trải nghiệm là đã từng viết ở đâu. Đại ý mình thấy rằng chính khi chúng ta chuyển động trên một chiếc xe, chúng ta trải nghiệm cái cảm giác vừa phóng chiếu vào tương lai vừa tri nhận một khuôn khổ thực tại khá gọn ghẽ: ta gần như nhìn thấy tương lai trong 1 khoảnh khắc và ngay trước mắt. Nó tạo ra một ảo giác về sự hợp nhất do vậy nó thú vị và gây say mê. Nhưng như Erich Fromm từng phân tích, dấu hiệu của mọi chứng nghiện là luôn phải tăng cường độ đến khi suy sụp, đi - theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng - cũng chỉ là một giải pháp giả tạm. Sau cơn hưng phấn sẽ là cảm giác trống rỗng và mệt mỏi. "Về" chỉ là một phép đảo ngược dễ dãi của ngôn ngữ. Thoát khỏi là một câu chuyện khác.


Đừng chạm đến - hãy còn mùa thu ở đó
Giữa hai dòng là nỗi nhớ về em.

Sau dấu chấm anh thành người hay vội vàng tham việc
Gạch đầu dòng những gì của ngày mai
Mẩu giấy con con choán hết một ngày dài
Những câu ngắn, vội vàng, nhỏ mọn...
Hôm nay là tất cả những gì đã gạch xóa, vo tròn và ném vào sọt rác.
Ngày mai lại cong cớn, vội vàng trên cánh cửa...

Gió cũng nhẹ trong sân nhà chung cư
Mưa cũng khẽ chả bao giờ bị dột
Cửa sổ nhà này nhìn thấu nhà kia
Những giấc ngủ e dè khép chặt
Gió trở về trong những giấc mơ...
Những cơn gió nóng mùa hè, những cơn gió bấc mùa đông xoáy xiết không gian chập chờn khắc khoải
Giật tung những cánh cửa im lìm
Gió tạt vào mặt vào miệng vào những kẽ tay
Nước mắt dàn dụa lưỡi nghe vị mặn của biển, ẩm ướt của rừng lẫn trong mùi hăng thảo nguyên mùi khét sa mạc
Nghe tận cùng...vị ngái của mùa thu

Và kiệt sức, khốn cùng, quỵ giữa cánh đồng hoang
Anh bật cười, rao bán những giấc mơ.

Chỉ_khi_trắng_tay _hoàn_toàn Anh mới được trở_về.

Những dòng này viết hồi 20 tuổi. Bấy nhiêu đến giờ vẫn vậy. Loay hoay rao bán giấc mơ mà chửa xong.

3.
Này thì "đi" và "Huế" này em MT. (Nhặt 1 đoạn từ bài viết cũ bên 360)

Hồi trước đọc tập thơ đầu tiên là tập thơ Nguyễn Bính. Huế với mình là một xứ lạ, xa xôi. Biết là xứ Huế mưa dai dẳng trắng trời qua những câu thơ "Giời mưa ở Huế sao buồn thế/ Cứ kéo dài ra đến mấy ngày..." Bắt đầu thích cái cảm giác lữ thứ, thú thương đau của phiêu bạt giang hồ. Thích những câu thơ trong bài "Hành phương Nam", tưởng tượng như đâu đó trong một quán nhỏ giữa chợ vắng trong buổi chiều mưa trắng trời

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi !

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại
Hát rằng phương Nam ta với ngươi
Ngươi ơi ! Ngươi ơi ! Hề ngươi ơi !
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi...

Có lẽ vì vậy mà những năm tháng sau này đến Huế làm mình thấy có gì hẫng hụt, nao nao. Vài ngày xô bồ chả bao giờ cho mình cảm giác đấy cả. Không phải Huế của năm tháng kia, không cả như "Tuổi thơ dữ dội" nữa. Biết là phải trong những ngày dài nào đó, nhạt nhoà, đơn bạc nơi góc phố cuối thôn, phải nhạt nhoà nữa nữa..mới gặp được những hư hao 1 thuở. Thuở ngầm ngậm buồn với cái xóm nhỏ xa xôi nào đó ngoài kia, mai này...

(...) Năm tháng qua đi, nhớ lại câu chuyện hồi 15 tuổi, cũng trong một ngày mưa gió nằm bó gối trong căn nhà trọ tận ngõ hẻm của thành phố xa lạ cũ kỹ, đã cãi một cách cả quyết và tin tưởng về những dự định tương lai sau này. Mình đã kể ước mơ của mình là đi-suốt đời làm một chuyến đi vô định, phiêu bạt chân trời góc bể. Một thằng bạn, một ông anh ngoài 20, họ đã cười lăn cười lóc vì cho là mình viển vông mơ hồ. 'Mày ăn bằng gì? Đi bằng gì?" Thì sẽ đi bộ chứ sao. Thiên mã hành không, độc vãng độc lai. "Mày có thấy ai không có tiền mà sống được không?". Rất ấm ức. Ấm ức không phải vì chứng cớ hay lý luận - họ đã phải công nhận là có thể như thế được khi mình dẫn ra (1 cách yếu ớt) 1 anh chàng người Pháp đi khắp 5 châu, viết sách rồi lại đi - mà là họ đã không thể chia sẻ niềm tin quyết liệt trong mình là mình có thể dành toàn bộ cuộc sống để theo đuổi 1 điều gì đó xa xôi, sâu thẳm. Đi là biểu hiện của sự kiện hoán đổi rằng sống không phải để làm duyên làm dáng mà sống là tận lực máu xương, là lựa chọn và chấp nhận.

Chiều hôm ấy, trong ánh sáng lờ mờ của ô cửa sổ dưới gác xép kia mình cũng lờ mờ nhận ra 1 sự thực rằng đôi khi chúng ta sẽ rất lẻ loi trong cuộc sống này như một thứ dị dạng, chập chập...chỉ để pha trò cho cuộc chơi khác. 1 thoáng se mình khép lòng lại. Như đứng trước cơn mưa giã bão đang ràn rạt ngoài kia. Lạnh lặng lẽ thấm vào thăm thẳm.

4.
Một vài ghi chép khác cũng nhấc lên đây.

Người ta nói "trở về", "quê hương"-tức là người ta luôn cảm thấy sống-có cái gì đó giống với chuyến đi/hành động đi. Đặc điểm là gì?

+Phải bước tới
+Mọi cái thay đổi và mình cũng thay đổi
+Phải hướng đến đâu đó
+Chưa đạt đến
+Để lại phía sau
+Gắn với tiến trình
+Tương tác với tha nhân/người khác
+Mệt mỏi
+...
-------------

5.
Những chuyện thế này có bao giờ hết được?

(Đánh võng sang bài của bác GM về tiếng Việt): thực tế mình viết blog theo giọng đọc văn nói, chú ý đến lấy hơi và tiết điệu hơn là cấu trúc ngữ pháp. Kiểu viết này lợi ở chỗ dễ gợi ý nhưng dở ở chỗ rất khó sửa thành một cái gì rắn rỏi ra hồn.

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2009

Đi mãi thì đến Chèm

Ở thành phố lâu thật dễ cảm thấy nhàm chán. Phần nhiều là vô cơn cớ. Không gian tù túng chật chội. Con người ta sống sít sát với nhau nhưng lại rời rạc như những hạt cơm nguội trong một cái hũ tù mù. Mỗi nửa đêm, mỗi khi tắt điện, ngả lưng xuống và tự nhủ rằng đã hết một ngày thì tôi lại nao nao nhìn thứ ánh sáng mờ nhạt từ ngoài khung cửa sổ đang hắt vào trong nhà. Dù biết quanh năm vẫn chỉ là thứ ánh sáng quầng của đèn đường dưới kia vọng lên đấy nhưng luôn luôn tại thời khắc đó trong tôi dội lại hai tâm trạng. Ánh trăng ở nông thôn rộng rãi bàng bạc trở về cùng cảm giác thếch thoác vì nó chỉ luôn dừng ở lằn ranh ký ức nhìn tôi.

Cho dù trăng vẫn đấy và ngoại ô đang ngoài kia nhưng tâm thức thì đã như vốc cát khô lọt qua những kẽ tay từ bao giờ.

Chiều. Tôi nghĩ mình phải ra khỏi nhà. Nhưng đi đâu? Có thể đi đến đâu thì sẽ dừng lại? Không nghĩ nữa nhưng đó phải là một vùng rìa. Một "xứ lạ". Hà nội chỉ có hồ Tây là chỗ tầm mắt có thể rõi mãi đến mờ mịt. Nhưng đứng san sát nhau thì thật khó để đưa mắt ra chỗ xa mờ.

Vòng theo con đường đê, thoát khỏi những lớp nhà lô xô mới nổi thì sẽ đến chỗ có mấy rặng tre. Mấy khoảnh ruộng trồng hoa đào đã gần như biến mất khỏi tầm mắt. Nhà cửa lao nhao đã chiếm hết những khoảng lùi cần thiết cho một vùng ấn tượng. Ruộng đồng còn đó nhưng không có chút hồn vía nào nữa. U ám gần như là tăm tối trong buổi chiều mây mù cuối năm.

Khuất sau những bóng tre có một triền cát dài ngút ngát nằm cạnh bờ sông. Nhưng bây giờ lối đi men đê đã có biển chỉ đường: TRE PLACE. Khi đám đông phát hiện ra những bụi tre thì những bụi tre liền trở thành một sân khấu kịch toen hoẻn của những thị dân.

Đi dọc bờ đê cho ta cảm giác như đang song hành cùng dòng sông. Như đang cùng người bạn thân cũ tìm về một chốn xưa ẩn tàng trong ký ức chung.

Qua chỗ có cây cầu Thăng Long, quá con đường vòng về Hà nội, khi mà ô tô đã bớt đi nhiều thì sẽ thấy đình Chèm nằm chênh vênh bên bờ sông ngoài đê. Dừng lại đứng trên thềm cao nhìn xuống triền sông bên dưới sẽ yên bình nhưng nếu cứ đi ngang qua luôn thì còn thấy yên lòng hơn. Nhưng giờ sẽ đi đâu nữa? Kệ, miễn là cứ men theo dòng sông. Có thể sẽ là một bãi sông rộng rãi.

Con đường thắt lại, quành vào một khúc quanh và con sông khuất đi sau một bãi nổi. Chỗ cái cống ngang sông này lần nào cũng đem lại cảm tưởng như sắp đến một góc hiu hắt nào đó. Cho dù thực ra cứ đi tiếp lại sẽ thấy con sông thấp thoáng bên kia đê. Mấy khu cảng làm ngần ngại cả một dải bờ sông tiếp theo. Nhưng giờ sẽ đi đến đâu nữa? Kệ, cứ đi cho đến bao giờ muốn quay lại. Hơi buồn cười vì ý nghĩ nếu là trong một cuốn truyện thì nhân vật có lẽ sẽ đi mãi đến mất hút trong sương mù.

Chợ Kẻ. Hình như đã hết Chèm rồi. Hình như đây cũng là Kẻ mười năm trước mình cùng anh bạn đạp xe lên chơi nhà những người thợ mộc. Hồi ấy đi lối Hà Tây và không có khái niệm về phương hướng. Cứ đi vậy thôi. Chắc là đúng rồi: những bãi gỗ ven sông. Cái mùi ngái ngái. Buồn cười, đi mãi đến đây mới để ý đến cái mùi đặc trưng của mùa này. Chiều thu, khói đồng mù mịt và khói sông bảng lảng. Hình như đã đi ngang qua khá nhiều đình chùa nhỏ nhỏ của những ngôi làng dọc theo con sông. Ngồi trên xe máy, co hẳn hai chân lên cao sẽ có một cảm giác chênh vênh rất lạ. Nếu bây giờ đi cùng một bạn nào trẻ hăng hái thì có khi sẽ rủ nhau ghé lại chụp ảnh hay vẽ vời. Một mình, ngay cả cái ý nghĩ dừng lại cũng sẽ làm mọi thứ tan biến bẽ bàng.

Chợ bên sông. Chợ trên đê. Rồi những khóm nhà ở sát men sông. Nghĩ đến làng Không-có-đâu. Giá kể mà rủ rê được người bạn nào khi rủng rỉnh cùng nhau tậu một miếng đất ven sông ở đâu quanh đây mà lập Trại-hoa-vàng thì có khi sẽ rất thú. Nhưng sẽ là ở đâu nhỉ? Đoạn trước hay là đoạn này? Thôi kệ, để chờ anh bạn chọn trước, mình sẽ tham khảo sau. Đại khái là vậy. Hình như đây đã là sang Đan Phượng. Thật không nghĩ là sẽ đi xa thế này. Bây giờ làm sao dừng lại? Làm sao để bắt đầu quay lại?

Bụi mù mịt và xe tải lại chạy đầy đường. Kệ, cứ men theo dòng sông. Thế nào chả có lý do để quay lại. Hình như vừa có một con đường nhỏ đi thẳng ra bãi sông. Cứ để đấy, có thể sẽ quay lại. Để vớt vát buổi chiều chẳng hạn.

Rồi cũng chẳng cần. Cuối cùng cũng thấy một bãi sông rộng rãi và một vùng sương nước mênh mang.

Bây giờ quay lại chưa nhỉ? Đi tiếp một chút nữa đã rồi hẵng quay lại. Như vậy sẽ không làm tan biến di âm. Đi quá ngôi chùa đằng kia là có thể quay lại được rồi. Giật mình vì tiếng chuông chiều bất chợt. Nếu là trong truyện thì có thể đã tan đắm vào trong đó chứ không vơ váo thế này. Thôi quay lại. Ừ quay lại.

Vỗ tay reo
Tiếng vang vang..

Gọi khoang thuyền ngày xưa
Bàn chân trần lấm cát
Dẫm ván sàn
chênh chao..
Vỗ tay reo
Tiếng vang vang..

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2009

Tự nhiên nghĩ đến phố Gầm Cầu

Chính xác thì chưa biết sẽ viết ra điều gì-(ảnh của bác 7X)

Bây giờ là 3g sáng và mình đang ngồi một mình ở văn phòng công ty bạn. Lý do chẳng lãng mạn gì: in nhờ cái luận văn cho nó tiết kiệm tiền in màu. Thôi tự nhủ với lương tâm phần thặng dư sẽ mời giám đốc vài ly rượu với gió Tây hồ đầu hạ.

À đây rồi-ký ức. 3 g sáng làm mình nhớ thời sinh viên năm thứ 3 hồi còn ở Chùa Bộc. Chắc là cũng tầm này vì hồi đó còn nhớ là đang làm đồ án sinh viên về phố cổ. Hay là cuối hè nhỉ? Không chắc lắm nhưng nó là một ngày hè nóng nực-cho đến tận 3 g đêm.

Hồi đó lấy đêm làm ngày nên 3g đêm chỉ mới coi như vừa đủ lâu để chuẩn bị phóng xe đi uống nước chè bà cụ trên Đinh Tiên Hoàng. 5-6 anh em trần trùng trục ngồi trước màn hình máy tính và khói thuốc lá nghi ngút. Mình đã đi làm, đã "lăn vào cuộc sống" như vậy được chừng đâu hơn một năm. Lúc ấy đang dựng mặt đứng phố cổ-hình như là Hàng Buồm. Bất giác ngửa người ra sau nhìn chăm chú vào màn hình. Như thể tâm trí vụt thoát ra, lơ lửng trên trần nhà nhìn xuống mọi chuyện. Chuỗi liên tưởng bắt đầu từ ấn tượng cả một dãy phố cổ lơ lửng trong không trung-một không gian đen ngòm của giao diện Auto Cad.

Một con phố không có cây cối và không có người. Bình thường thì nó sẽ cứng và trơ ra. Nhưng khi zoom đủ xa để nhìn cả con phố lơ lửng trong vòm không gian đen ngòm tượng trưng kia thì cảm giác thật khác lạ. Lúc đó hình như mình đã đứng dậy đi tìm lại đoạn tản văn của Nguyễn Bình Phương mô tả mùi ngòn ngọt của phố Hàng Buồm trong cuốn "Trí nhớ suy tàn". Ồ, cô gái và chiếc áo xám. Bây giờ rốt cuộc tôi cũng đã đi quá tuổi trẻ của cô rồi. Hai mươi sáu hay là hai mươi tám thì cũng đã như đoàn tàu trùi trũi đi dấn về phương Nam từ mấy hôm trước.

Tôi thích Hà nội của NBP như vậy. Nó đã kịp lẫn vào ký ức dẫu bây giờ không thể cầm lại tập sách mỏng để đọc thêm một lượt. Nó là điều gì đó đã đi qua. Đã qua đi như thể bây giờ không còn thấy tự nhiên khi muốn rủ bạn phóng xe lang thang trong đêm mùa hè nữa. Sẽ có mùi của cây về đêm. Vị của gió sông Hồng và khoảng lãng đãng trôi qua đường Cổ Ngư.

Ngày đó chúng tôi có tuổi trẻ và sự ngổn ngang làm duyên dáng. Mọi bừa bộn hàm ý một dang dở. Nhưng cái dang dở ngày đó không có ý thức gì là nó sẽ bẽ bàng hay tức tưởi. Nó là một kiểu không thèm làm. Chưa thèm chiếm lấy. Một kiểu cho không của tuổi trẻ. Và tôi đã sống 5 năm như vậy. Lâu hơn tất cả những người bạn khác. 7 hay là 8 người đã từng ghé qua.

Ghé qua nghĩa là đã từng thức cả tuần để "cày" một con nhà dân hay cái trụ sở. Là một ngày 5-6 cữ cafe đen nóng không đường. Thỉnh thoảng tôi xin một lát chanh chấm ít muối trắng để ngẫm nghĩ vị the của cafe man mát xa xa. Là cùng nhau đi khám phá những quán mới, những ngóc ngách bất ngờ của Hà Nội-như một lần đi vào khu Liên Trì trong đêm để xem ánh đèn điện vàng đổ bóng xiêu vẹo lên những mảng tường cũ trong ngõ hẹp. Là cùng nhau phóng xe đi đón gió mùa đông bắc thổi tung người trên bờ đê lúc nửa đêm. Hay trèo lên sân thượng bình luận về các cô bạn gái (của thằng khác). Cũng có khi là ngồi cả tháng uống nước chè chị Nga điệu già như con ngan lâu năm, nhà mãi trên Phúc Xá dạt về CB bán nước chè đêm. Đêm nào cũng cắm một bình hoa và hình như có tô son.

Bây giờ nhớ lại, hầu như những ước mơ ngày đó của chúng tôi, mọi người đều đã chạm đến ít nhiều. Vậy mà lại không thấy yên ổn. Ngày đó hình như ước mơ lớn nhất của mình là có một cái tủ lạnh con con để ở đầu giường. Giúi vào đấy mấy chai bia, nhất thiết một chai vodka, một ít bánh mì. Thế thôi, mà cũng chỉ 2 năm sau là mua được một cái tủ lạnh Xa ra tốp cũ rích rồi. Nhưng bia thì thỉnh thoảng mới có và cho gì vào tủ lạnh là cả một vấn đề.

Hơn mười năm nhìn lại, hầu như cuộc sống của mỗi người cũng không có nhiều bất ngờ lắm so với tính cách của họ. Mình cũng vậy và mình đang ngầm ngậm chán nó.

Thơ thẩn chỉ là đống rác to đùng...
------------


Quán cà phê dưới gầm xe lửa
Hạt mưa đen rơi trên ô kính vỡ
Ngón tay dài trong bóng tối run run
Lá đầu thu xao xác bên đường
Trời chuyển gió sắp quay cuồng bão lớn
Điều tôi nói phải chăng là quá muộn
Em u buồn em có nhận hay không?

Em gầy như huệ trắng xanh
Ngọn lửa nhỏ giữa hai vực thẳm
Em tê dại, em âm thầm kiêu hãnh
Em cô đơn như biển, lạ lùng ơi!
Đi tìm nhau suốt đời
Sao bây giờ mới gặp?
Khi mặt đất mênh mông đầy biến loạn
Khi bước chân lầm lạc
Khi con người giết nhau
Những lá thư không biết gửi về đâu
Những hải cảng không có tàu cặp bến
Quen thất vọng, tôi hồ nghi mọi chuyện
Tìm trong mắt em náo động những chân trời.
Ngõ phố dài hôm ấy mưa rơi
Đã xa vắng trên mặt đường ướt lạnh,
Tóc em rối và áo em đỏ thắm
Những bức tranh nổi gió ở trên tường
Hoa cúc vàng nỗi nhớ của hoàng hôn
Những dãy phố, những con thuyền phiêu bạt
Những người con gái con trai im lặng
Mắt mở to trong nắng thẳm mong chờ.

Thế giới xanh xao những sự thật gầy gò
Em đã đập vỡ ra từng mảnh.
Giấu sôi sục trong những đường nét lạnh
Em đi tìm thế giới của riêng em,
Tình yêu và nỗi khổ của riêng em,
Niềm tin lớn giữa cuộc đời vô lý.

Nghĩ về em bao buổi chiều lặng lẽ
Tìm trong em bao khát vọng không ngờ
Môi tôi run những lời nói dại khờ
Em ẩn hiện sao còn xa lạ thế
Tôi ảo tưởng quá nhiều ư? Có lẽ...
Em cần gì gió lốc của đời tôi!

Mai em đi, mùa hạ cũng qua rồi
Tôi ở lại một mình trên phố vắng.
Hoa cúc rồi chiều xuân nào tôi đến
Chẳng gặp em chỉ màu hoa vàng rực
Đêm nay về đốt lửa giữa hồn tôi
Đêm phòng không tiếng nổ vỡ khắp trời
Thời đau khổ chung quanh đều đổ nát
Nỗi cô đơn đen ngòm như miệng vực
Tôi muốn đi tới đích cùng em.
Tôi phải đi tới đích cùng em!

Lòng tôi như buổi sớm vẫn nguyên lành
Em nhận lấy, em đừng e ngại mãi
Tôi tan nát, kinh hoàng, sợ hãi
Em cô đơn rồ dại của tôi ơi
!
-----------

Không ăn thua rồi.

"Mắt chó vàng như trăng"


Cúc với chả queo.

Ế ồ.

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2009

Có khi mơ hồ tưởng tượng như đi ra đường sẽ gặp ai đó

Ký ức mờ nhạt dần. Thật đáng sợ là một lúc nào đó sẽ quên những điều đã từng cho là quan trọng. Nhưng còn đáng sợ hơn khi trí nhớ sẽ quên một cách vô thức những việc không muốn nhớ. Là khi đó đã biết thoả hiệp với lương tâm rồi chăng?


Những ngày tháng đều đặn và nhàn nhạt. Ngày chỉ thoảng nao nức khi chiều xuống. Thật khó tả. Luôn luôn là cảm giác ở nơi nào xa lắm.


Có khi mơ hồ tưởng tượng như đi ra đường sẽ gặp ai đó.

Như là Diễm.


Nhưng chiều vừa đủ sáng để mắt nhướng lên rồi sậm dần. Uể oải như đẩy mìnhvào bốn bức tường. Tự giam trong chút tiện nghi và thoả hiệp. Thoả hiệp vì mỏi mệt. Đêm không còn gọi mình đi nữa. Đêm cũng trở lên ráo hoảnh và cạn kiệt rồi vẻ sâu thẳm huyền bí. Trống rỗng. Sâu thẳm bao nhiêu đã trở thành trống rỗng bấy nhiêu. Thắc thỏm không ngủ nhưng nghĩ đến đi ra ngoài thì lại chán nản. Và thời gian bóp nghẹt hơi thở. Chỉ đôi khi là lúc nửa đêm.


Mong muốn vô vọng một tiếng đổ chuông điện thoại nghe một ai đó khi đêm đã khiến người ta trở về hoàn toàn với bản thân.

Nhấc máy bấm vu vơ.

Giọng đàn bà nhè nhẹ mà rành rọt báo giờ.

Cười một mình cho thoáng ngần ngại khi đã gọi quá khuya. Đấy chỉ là máy vi tính. Tiếng nói ấy đã chết tự lâu rồi.


Nó chỉ còn là tiếng vọng - rành rọt và nhẹ nhàng.

Vang vọng giữa đêm khuya với một chút nhẫn nại, một chút khoan dung.


Nhưng những cơn mưa về đêm sẽ cứu lấy chút thảng hoặc mơ hồ của bí ẩn còn sót lại. Thèm co ro ngoài mái hiên và chút khói thuốc. Cũng không đi xa hơn.


Có bao giờ mưa đúng hẹn đâu.

------------


Xin lỗi các bạn vì cứ nhai lại những điều cũ rích. Thì cũng đã ngắt dòng đấy thôi.

Chỉ vì tớ đang vật vã tuổi 30...

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2007

Gạch đầu dòng những gì của ngày mai


Và khi tro bụi


- 1 cuốn sổ mỏng trên mặt bàn. Những suy nghĩ thoảng qua. Vụt chạc.



Mô tuýp:

- Cuộc sống trên tàu-vô định-gọn nhẹ-sang trọng-vô lo
- Cuốn sổ ghi đời
- Vết đứt với hiện tại-không thân thích
- Dứt bỏ quá khứ-cho đi tất cả những gì ưa thích, quen thuộc-tại sao cho? Mà không phải là huỷ.
- Dấu ấn của thời kỳ từ bỏ tiếng mẹ đẻ
- Homo Faber của Max Frisch
- Cho 1 người xa lạ/phải là người xa lạ-mình là ai-tôi và người lạ
- Lưu lạc-không quê hương
- Cha nuôi-dậy thì-lớn-cây đàn-âm nhạc-tuyệt đối-lựa chọn-an phận-quyết định-sống-chết-sự thực-ngộ nhận-sự thực-biến cố-muộn-lỡ nhịp-việc cô An-Mi nhớ ra quá khứ có ý nghĩa gì không?

Thực ra chỉ có 2 nét phác chính:
+Chuyến tàu-Trí nhớ suy tàn-Nguyễn Bình Phương
+Cuốn sổ/chẳng biết ghi gì-hoặc viết rất nhiều nhưng từ chối xác nhận-Kẹo Mút

NBP:-Thực ra việc ra đi không phải vì đích đến-vì chuyến tàu

Cuốn sổ-người lạ-1 đời sống khác-lảng tránh đối mặt hiện tại/và hy vọng-1 cái gì khác. Tại sao khác: hy vọng ở sự thay đổi, thoát ra, vượt ra giới hạn hiện trình của bản thân

Tưởng tượng cuộc viễn du của mình thì cũng thường thôi-đẩy sang 1 vị trí khác-lôi mình đi vào 1 tình huống/câu chuyện 1 đồng xu-Andecxen

Sống trong tình huống: lựa chọn. Biến cố quyết định-tại sao lại đi phớt qua?

Tiểu luận của A. Camus: Không có ý nghĩa chứ không phải là vô nghĩa.

- Câu chuyện ở trung tâm và không thể ở trong trung tâm-hay không có trung tâm-cảm nghiệm ly cách.

[Giấc mơ:
+Gia đình: gượng gạo, buồn nản, lo lắng, tủi tủi, đơn độc
+Cái chết: hoang mang, không nghĩ được gì, khóc]

Giấc mơ mặt trời-2 nửa

Trở về chính mình/bị quên lãng vì chối bỏ? Ko, ko phải lý do chính.

Tàu hoả-vỏ sắt, 1 cuộc sống hoàn chỉnh, 1 lộ trình duy nhất, an toàn tất định. Tiếng bánh xe quay đều 1 nhịp điệu-nhịp thở. Con người tái hồi trong lòng mẹ-trở lui.

- Trở về chính mình hay rút lui hoàn toàn? "Trí nhớ của trái tim"/cảm xúc xưa cũ.
--------------------



Người ta nói "trở về", "quê hương"-tức là người ta luôn cảm thấy sống-có cái gì đó giống với chuyến đi/hành động đi. Đặc điểm là gì?

+Phải bước tới
+Mọi cái thay đổi và mình cũng thay đổi
+Phải hướng đến đâu đó
+Chưa đạt đến
+Để lại phía sau
+Gắn với tiến trình
+Tương tác với tha nhân/người khác
+Mệt mỏi
+...
------------------------

Lang thang trong thành phố

Entry for June 15, 2007

Đểu thật! Mình từ lâu rồi mất ý thức về thời gian. Không ngày tháng, không giờ giấc. Chỉ còn lại là những việc gì đã làm và nhớ được. Vấn đề là ở chỗ: đó là thời gian của riêng mình. Mất hết tương quan với xung quanh. Như hôm trước, đang định viết là hôm qua mới sực nhớ đó là hôm kia đã có một kinh nghiệm trở lại với mình. Làm kẻ lang thang vật vờ vô định. (Mà thực sự ở giai đoạn này khi mà không bạn bè, không đồng nghiệp, không thân thích - không một mối liên hệ thân tình đơn giản nào cả thì chẳng đích thị là thằng lang thang à?)

Gửi xe ở Bưu điện Bờ Hồ rồi bước qua đường tìm một cái ghế đá để ngồi. Thực ra thì thích ngồi bên kia hơn vì view nhìn xa vắng hơn, lại tránh được nắng hướng Tây nhưng rốt cuộc ngại đi xa quá mà vẫn ở bên này. Khó mà kiếm một cái ghế nào trong bóng râm lại chưa có ai ngồi. Giải pháp trung hoà: một chỗ có nửa phần ghế dưới bóng liễu lưa thưa. Như vậy hơi nắng nhưng có cái mũ bán kem với lại đeo cái kính mát nửa mùa vào là trời đất nom rất tuyệt. Như vậy cũng sẽ không có ai mon men lại gần xung quanh nữa - trời nắng mà. Huống hồ hẳn mình nom rất giống một thành phần khó tả, đại loại không nên dây vào.

Giờ phải lùi lại chút nữa, tức là vào khoảng gần 1g trưa hôm đó. Phố Tôn Thất Thiệp có lẽ là cái phố có tên phố ngắn nhất mà mình biết (ngoại trừ Hoả Lò xem ra không nên gọi là phố nữa). Có cả thảy 6 số nhà là hết một dãy phố. Nó nằm kẹp ở gọng kéo Điện Biên Phủ với Trần Phú. Mình tò mò phi xe thẳng về phía cuối đường, vắt ngang qua Trần Phú thì nó thành một cái ngõ. Chợt nhớ ra có lần bác Dung dẫn mình đến chơi nhà ông anh trai của bác ở bên Viện Lịch sử Quân đội, trong một cái chung cư trong ngõ này. Đi tiếp vào một khu có vẻ là phía sau của khối cơ quan quân đội hay Đảng Đoàn gì đấy. Thích cái sự vắng vẻ giữa trưa của nó. Đi nữa hình như đâm ra Lý Nam Đế. Thế là hết bí mật rồi nên quay lại. Đi xuôi Điện Biên Phủ về phía đường Hùng Vương. Hôm đấy là một hôm trời rất đẹp, trong xanh, mát mẻ dù đang giữa trưa. Lòng mình thì thảnh thơi vô hạn vì đã ghép mình vào một công việc rồi nên không bận tâm những việc khác nữa. Giờ đấy lại là khoảng thời gian hoàn toàn tự do của mình. Làm gì với nó bây giờ nhỉ? Xe trôi lãng đãng trong bóng cây xanh rì và đường thênh thang. Đi qua chỗ Cột Cờ, thấy quán Cafe HighLand yên tĩnh bên dưới chân tường rêu đổ là trong đầu thoáng nhen lên tưởng tượng ngồi một mình trong đó nhâm nhi Capuchino nghe tiếng trưa yên tĩnh. Nhưng vẫn không dừng lại được. Ngày hình như còn gì đó phía kia. Thoáng nhớ lại cuộc tranh luận về nên-không nên có kiểu khai thác di tích lịch sử như cái quán kia. Nên đấy chứ. Đừng cứng nhắc và đơn giản hoá cuộc sống như thế chứ? Chỉ miễn là cái chỗ đấy phải giữ cho người ta cái cảm giác đang ngồi dưới bóng và bên cạnh chân tường của quá khứ. Khoảng cách và độ vênh sẽ tạo ra thế năng để người ta sẽ thêm vào phần suy tư về quá khứ bên cạnh suy tư về chính mình...

...Rồi rẽ đi ra đường Hùng Vương. Không gian lồng lộng cây xanh và trời cao. Vang vang tiếng trưa hè. Làm mình tưởng như đang đi giữa tuổi thơ. Không có ký ức cụ thể nào được gợi lại, nhưng chắc bởi vì ngày bé thì bao giờ mùa hè chả là lúc mình ở HN với mấy cuốn sách thiếu nhi và một cái gác xép nhỏ? Bấy nhiêu đủ để biến thành vĩnh viễn rồi.

Đi qua đền Quán Thánh, dọc đường Cổ Ngư. Mấy cái quán bánh ngọt chòi ra ven hồ lại chen vào mắt mình. Nhớ lại ý định hồi lâu lắc muốn viết báo nhắc nhở về chuyện này lại thôi. Sau đấy khoảng nửa năm hình như cũng có người làm rồi. Nhớ sang chuyện mấy cái công viên của Hà Nội giao cho tư nhân làm. Người ta phải phân biệt rõ ràng mọi chuyện chứ? Phải biết đứng từ chỗ nào mà lựa chọn chứ? Những điểm cây xanh mặt nước như thế này của thành phố HN phải nhìn từ góc độ lợi ích của cả thành phố và phải quy chiếu về những 50 năm sau. Không gian thảng đãng còn lại hiếm hoi của HN nằm trên con đường này có nên để so sánh với cái lợi ích và trách nhiệm nhân danh công ty khai thác Hồ Tây? Mấy cái công viên của HN cũng vậy, bảo là chưa hiệu quả trong khai thác nhưng cái cách người ta làm tăng hiệu quả mới thật đáng ngờ. Thô thiển. Mình gặp quá nhiều những dự án kiểu ấy rồi. Chẳng thằng điên nào chịu nghĩ cho cộng đồng trước khi tính xong bài toán cấu véo yên thân của nó đã. Luôn luôn có kiểu lý luận đa dạng hoá chức năng, xã hội hoá hoạt động đầu tư...bala..bala..5-10% đất công viên làm đất văn phòng chẳng hạn, có chết ai đâu...Mịa, ngày thằng Vincom làm dự án toà nhà VC chắc nó cũng đâu có nói nó sẽ chặt mấy cái cây cổ thụ để nhét vào mấy cái cây cau vua quê mùa dơ dáy ấy? Bản thân cau vua thì đẹp, tý nữa đi qua dốc Bác Cổ mình sẽ xác nhận việc đấy, nhưng chúng nó không biết rằng đẹp hay sang trọng gì nữa - nó là do tương quan và bối cảnh. Nếu chỉ vì cái chỉ tiêu mấy m2 cây xanh một đầu người thì chẳng ai cần đến khoảng không gian công viên làm gì! Thay nhau ra gốc cây bên đường mà đứng là được rồi! Con người ta cần một ảo tưởng về sự đơn độc nhỏ bé giữa sự vô tận của thiên nhiên chứ không phải vài gốc cây được sơn tỉa. Thế mới nói cái quy hoạch quận Tây Hồ và vùng ven đê sông Hồng là một sự thiển cận và lãng phí rất lớn. Lãng phí cái hồn vía của một nơi chốn mà cái giá phải trả là sự ngợm hoá của người đô thị. Chuyện trên còn một vấn đề nữa - đó là có những phạm vi không thể thoả hiệp, những nguyên tắc quản lý một đô thị không bao giờ được vi phạm.
...

Có một con đường mà nếu kể ra chả ai dễ đồng ý với mình là nó hay. Nhưng mình lại thấy nó rất hay. Mình thích :) Nó là đường Yên Phụ, không phải hình như cuối đường Thanh Niên rẽ trái thì đã gọi là đường Trần Quang Khải rồi hay sao ấy. Không quan trọng. Ý mình là đoạn đường đi từ khách sạn Sofitel đi qua nhà máy nước Yên Phụ ấy. Nó là đường vành đai, mọi thứ lôm nhôm-nhất là phía bên ngoài đê. Nhưng với mình chỉ cần đoạn ngắn quãng nhà máy nước, trường Mạc Đĩnh Chi...tức là phía bên phải đường theo chiều đi về cầu Long Biên là đủ. Có cái nhà gì cũ từ thời Pháp có đế tầng trệt rất to ấy, bên cạnh người ta bán bia hơi. Nó làm cho mình có cảm giác đang đi qua 1 chỗ không bao giờ thay đổi. Thấy mình đang đi trong thời gian. Thế thôi thì chưa hết ý. Nó còn liên quan đến nhịp điệu và tương quan cảm xúc của mình trên toàn chặng nữa.

Quay lại đoạn trên 1 tý. Thực ra những ý nghĩ có phần gay gắt kia chỉ thoáng qua như gió thổi. Vì chỉ là nhớ lại. Nhìn sang phía hồ Tây, thấy phục những bạn trẻ đang đạp thuyền Thiên Nga giữa nắng buổi trưa thế kia. Có những thứ mãi mãi chỉ xảy ra 1 lần, không bao giờ lặp lại. Mình vẫn thích bơi thuyền trên Hồ Tây, để cảm nhận sự lãng đãng vô biên trong một chiều sương bảng lảng nào đó ngày xưa. Cũng như lúc nhìn quán cafe Highland bên hồ kia, thoáng muốn lên cao ngồi nhâm nhi buổi trưa với nắng lấp loá và nước lóng lánh. Lại nhớ buổi chiều vô sự năm nào cùng với anh Phát phóng xe vào khách sạn Thắng Lợi để ra bar sát mép hồ ngồi khám phá ra 1 hồ Tây khác như cổ tích. Nắng 9g sáng xiên xiên trong trẻo hắt lấp loá những vẩy bạc. Chiếc thuyền đi cào ốc ngược sáng xa xa như là thuỷ mặc. Hà Nội nhìn phía này không thấy nhà cửa, chỉ xanh rì một dải xa xăm. Vắng lặng đến nghe rõ tiếng nước vỗ bờ oàm oạp.

Đến cuối đường Cổ Ngư có 2 lựa chọn. Rẽ trái là đi về quá khứ một thuở. Thuở yêu đương da diết, thuở mơ mộng trong sáng mà khao khát run rẩy của tuổi trẻ. Ngày xưa mình thường hay một mình lang thang về phía đó. Ra phủ Tây Hồ, hay chỉ vào chùa Linh Ẩn có khi chỉ là đi dọc con đường thông. Đường Xuân Diệu có cái quán T&C mà dịch ra là Thanh Cảnh cạnh đại sứ quán Argentina ngày trước thường ra đó buổi tối uống bia Ken với thử món mì spagheti lạ lẫm. Ở đó trốn được những bạn bè đã quá nhẵn mặt các quán xá HN. Ngày đó bên cạnh còn là vườn cây chứ không phải là quán lá loi choi như bây giờ.

Nếu đi ngoài đường Lạc Long Quân thì lại nhớ những chiều cuối năm mưa rét đạp xe lang thang xem đầu sông cuối bãi. Ngóng gió ngàn và thơ thẩn tìm lại dĩ vãng mù xưa. Làng nhỏ ven đê lô xô mái ngói như đường về quê nào từ tiền kiếp. Nhớ lần đầu ra tận bãi cát ngoài đê, uống chén rượu nồng trong cái chòi cheo leo sát mép nước ì oặp trong gió lạnh căm căm và mưa lất phất. Quán nhỏ bán mấy thứ lăng nhăng cho những người bốc vác ngoài đê. Chủ yếu là làm cát. Nhớ những chiều cuối năm ra thăm cánh đồng hoa đào. Đi như là Liêu Trai. Nhớ nếu cứ đi thẳng mãi, qua cả gầm cầu Thăng Long là sẽ đi lên Chèm. Tên cổ như nhắc lại một dĩ vãng cổ kính, cái gì đó bị quên lãng và ít thay đổi. Sẽ đi qua một cái đình nhỏ nằm sát mép sông Hồng ven bờ đê bên tay phải. Đẹp và xa vắng. Cũng sẽ không dừng lại. Đi mãi đến một khúc quanh để qua một cây cầu sắt nhỏ, rẽ về phía sông, ra bờ đê để ngó ngã sông nước mênh mang. Có căn nhà bé tý sơ sài bên ngoài đê giữa những luống màu. Ôm em thật chặt và hẹn nhau hay là về đây cuốc đất trồng rau cho yên tĩnh :)) Đứng từ đây lại nhớ cứ ngược theo dòng sông mãi nữa là sẽ qua đoạn Kẻ Gỗ năm nào khi mình đạp xe lên thăm mấy người thợ hồ đã cùng dựng cái quán Khoảnh Khắc năm xưa. Trong nhà mình, trên vùng đất của mình, mời bạn chén rượu họ lại thấy tự tin và sảng khoái như từ muôn thuở...

...Bây giờ chỉ rẽ phải. Đèn xanh chỉ hướng nhấp nháy, không biết có được rẽ luôn không. Kệ cứ đi ào đi. Qua chỗ đường thấp ngang trường Mạc Đĩnh Chi lại nhớ năm nào hay lang thang theo xe buýt đi đến tận bến cuối, rồi lại đi bộ dặt dẹo ở khu này. Có cái lần ngồi uống nước chè ở phố gì văng vắng phía sau cái trường này. Hình như không phải Hoè Nhai. Cũng chả tìm. Đi ngang qua đầu phố Hàng Thùng rồi. Nhớ phố này có quán cafe Tùng Hậu có tranh mà đã có lần cùng bạn Thuỵ Vũ nhắc đến. Nhớ cơn mưa bất chợt phải ghé vào tránh mưa. Có bạn, có em. Ngoài ra chưa rủ ai vào đấy nữa thì phải. Bây giờ thì cũng đến 3-4 năm không uống cafe rồi. Tệ nhỉ?

Dốc Bác Cổ. Cái miếng đất tam giác trước bảo tàng Lịch Sử thật đẹp. Gửi xe vào chỗ Bưu Điện Bờ Hồ xong vốn định tìm bà bán nước chè ngồi ngay trên bậc tam cấp nhưng không thấy. Chắc là bị đuổi rồi. Sang đường. Ngồi vào cái ghế đá. Hơi khó nhìn thấy cái tháp Rùa.

Buồn cười thật. Họ cắm những cái đèn hắt ngược vào thân tháp tua tủa bốn xung quanh, cao hơn cả cỏ. Biết là buổi tối nhìn hiệu quả nhưng có nhất thiết phải thô lỗ thế không. Cái Tháp Rùa này, thậm chí còn không được như cái cầu Long Biên nữa, vốn không đẹp để phân tích, không có ý nghĩa lịch sử để kể lại. Nó chỉ đơn giản là cũ kỹ, ở đó, một mình một thế giới, làm chứng nhân cho đổi thay của Hà Nội. Ai không có tâm trạng với thời gian, dĩ vãng của thành phố này thì sẽ bật cười cho cái thái độ hâm mộ của người Hà Nội với nó. Nó ở đó. Dường như bị quên lãng nhưng không thể thiếu được. Một ngày, nếu một ngày ai đó đi qua và thấy không có nó ở đấy nữa hẳn người ta sẽ đau lòng lắm. Và hơn thế, với nhiều người nó là một thế giới cận kề đấy mà không với tới được. Cũ kỹ, hoang phế như cất giấu giấc mơ tuổi thơ. Chứ không phải hòn ngọc lấp lánh trong đêm đâu Hà Nội ạ! Giá như chỉ là một ánh đèn vàng vọt từ trên cao chiếu xuống trong đêm. Nó sẽ có bóng. Bóng hắt xuống một khoảng tối cho lịch sử và huyền thoại toả phủ. Cũng đừng đếm xem có bao nhiêu Rùa Già trong Hồ thì hơn chứ Hà Nội nhỉ? Phải bí mật chứ. Chỉ cần giữ cho nước lại trong xanh là tốt nhất rồi. Dưới đấy, dưới đáy hồ, bên dưới rong rêu có cả hơn 1000 năm sự tích đấy. Từ hồi Hồ còn ở ven rìa Kinh Kỳ, soi bóng chùa cổ xưa cơ.

Mây trắng thỉnh thoảng giãn ra như tơ. Li ti. Trời xanh biếc. Mùa này lá cây xanh ngăn ngắt. Bóng loáng, sức sống xôn xao rướn mình lên trong nắng. Có vẻ hơi ồn ào Lá ạ. Thường nếu không kể các cụ hưu ra ngồi chờ hết ngày thì Hoàn Kiếm chỉ đơn giản dành cho các bạn tỉnh lẻ đến thăm thú. Lang thang và chụp ảnh. Các bạn Tây ghé qua. Ngồi 1 chút. Cười cười hơi bỡ ngỡ với Hồ rồi đi mất. Thế là cũng có lần mình thức trắng đêm ở đây rồi đấy. Bạn tỉnh lẻ thứ hai kia giờ đang lãng đãng tận Điện Biên cơ. Tết lại một mình một xe phi về thăm quê. Một trai hỏi mình cái gì đấy. Quay lại hoá ra bạn mời mình ký hoạ lấy ngay. Có một cái bảng vẽ A3 với mấy tờ giấy Việt Trì. Trông bạn không trẻ nữa lại ít dáng nghệ. Buột miệng từ chối theo phản xạ. Bạn có vẻ gì hơi rụt rè. Không biết bạn có phải sinh viên không nữa. Nếu là hồi năm nhất năm hai chắc hẳn mình cũng sẽ rất tự hào nếu như đấy là một việc làm thêm. Nhưng bây giờ thì...bạn làm mình nhớ đến câu chuyện mấy ngày nay ám mình mãi. "Bên lề xã hội" - thuật ngữ dành riêng cho nước Pháp, có lẽ cho những vùng ngoại ô. Không cùng khổ, nhưng ở bên lề của xã hội. Ở bên lề.

Bất giác mệt quá, mình muốn nằm xuống. Ờ nhỉ, tại sao không? Ôi chà, mắt không bị chắn tầm nhìn nữa thoải mái quá! Như đang nằm trong vườn xưa yên ắng. Lâu lắm rồi mới thanh thản chờ xem được những đám mây biến hình. Ô ngày xưa. Ngày xưa lít nhít chục đứa trèo cành xoan đầu hồi thi xem ai tìm được hình con gì giống nhất...

Toét! Toét! Thổi ai thì phải? Hoá ra chính là mình. Không được nằm trên ghế đá. Phải ngồi. Đây là trung tâm thành phố. Phải có quy tắc nào đó thôi. Thì thôi vậy.