Hiển thị các bài đăng có nhãn Hans - Georg Gadamer. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hans - Georg Gadamer. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Người cha đã (muốn) nói điều gì với con trai mình?

 "Con thường ít khi có thể nói chuyện lâu với ba con. Ông nói chuyện toàn những điều như trong sách Đắc nhân tâm.". Một chàng trai trẻ đã chia sẻ với tôi như vậy. Tất nhiên anh ấy vẫn yêu quý cha mẹ mình và thường chọn cách im lặng, tôn trọng lễ phép hay không phản biện gì. Nhưng như thế thì cũng là cuộc giao tiếp đã không trọn vẹn như mong muốn của mỗi người trong 2 cha con họ. 

Vậy người cha đã thực sự (muốn) nói gì với con trai mình? Đứng từ góc độ đọc tín hiệu chỉ hiệu, đã có điều gì đó xảy ra và người cha đã thực sự muốn giao tiếp với con trai mình. Có lẽ ông muốn chia sẻ trải nghiệm sống của tuổi trung niên với phiên bản trẻ tuổi, phần chịu ủy nhiệm mở rộng bản ngã của mình là người con trai trai (tất nhiên là từ góc nhìn của ông ấy - kể cả là một cách vô thức). Khi ông nói về mọi điều theo cách như thể khuôn mẫu (khuôn vàng thước ngọc) của phép thành công trong việc sống ở đời (xử thế, tu thân hay chuyện làm ăn, sự nghiệp) là thực ra ông đang chiêm nghiệm và âm thầm vô thức tự chỉnh sửa những sai sót, hối tiếc và chập chững của đời mình với con trai. 

Nhưng ông không biết/không thể kể trực tiếp về những trải nghiệm đó theo cách thông thường. 

Vì cuộc đời vốn là những tiếng ồn ào vô phương hướng chứ không phải là một cốt truyện mạch lạc mà chúng ta sẽ là kẻ có ánh sáng hào quang của nhân vật chính. Nhân sinh là phải tự mình trải qua. (Có thể bạn đang ép đời sống trả lời một câu hỏi mà nó không được cấu trúc để trả lời).

Vì khuôn mẫu nam tính truyền thống luôn đòi hỏi ông phải tự mình gánh vác, phải mạnh mẽ, phải thành công, phải hy sinh...Khi ông phải không được yếu đuối thì cũng sẽ không thể hiện theo cách thông thường được về những gì đang xảy ra với chính ông. Và khi đó người con nên biết từ sâu thẳm rằng ông đang bằng một lối ngược đời tâm sự với bạn, tìm cách kể với bạn về nỗi cô đơn, sự yếu đuối của mình trong cuộc đời. 

Chỉ là ông đã chọn sai khuôn mẫu, chính là cái khuôn mẫu mà ở đó "chân lý được coi như một hướng dẫn thấu suốt để cái Tôi quy chiếu vào". Khi nhìn nhận như vậy, ta đã có 03 giả định ngầm: (1) Có một chân lý đúng về đời sống; (2) Chân lý đó có thể được nắm bắt; (3) Khi nắm được cái tôi sẽ ổn định/bồi tụ/di đúng hướng. 

Nhưng chính ảo tưởng về 1 điểm quy chiếu tuyệt đối này sẽ tạo ra khủng hoảng: Nếu tin rằng chưa tìm ra chân lý bạn sẽ cảm thấy hoang mang, vô nghĩa. Hoặc nữa cho rằng niềm tin đặt nhầm chỗ thì cái đem lại là sự sụp đổ cay đắng. Khả năng cuối cùng chính là cái mà chàng trai trẻ đang cảm nhận: nếu ông tin rằng ông đã tìm ra công thức của chân lý thì đó sẽ có màu sắc của giáo điều, tự đóng kín mình trước người KHÁC, điều khác. 

Khủng hoảng về ý nghĩa này xét cho cùng là bởi vì chúng ta đã đòi hỏi ý nghĩa phải có một hình thức sai. Ý nghĩa không phải thứ để "CÓ" mà là thứ "XẢY RA". 

Ý nghĩa chỉ xuất hiện trong quá trình sống-hiểu. Ý nghĩa không hướng dẫn đời sống từ bên ngoài, nó xảy ra bên trong kinh nghiệm và cái Tôi sẽ là dấu vết của một lịch sử hiểu. Ý nghĩa không phải thứ để “tìm ra”: Ý nghĩa không giống nghề nghiệp, không giống mục tiêu, không giống câu slogan sống. Ý nghĩa chỉ xuất hiện khi bạn đang sống, khi bạn bị một điều gì đó chạm tới: một công việc làm bạn bối rối, một mối quan hệ làm bạn thay đổi, một thất bại khiến bạn không còn nghĩ như trước. Lúc đó, bạn thường không thốt lên: “À, đây là ý nghĩa đời tôi!”mà chỉ thấy “Mình không còn là người cũ nữa.”

Và chính chỗ đó – ý nghĩa bắt đầu xảy ra.

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Carnets. Nguyên tắc khoan dung

Trong triết học và thuật hùng biện, nguyên tắc khoan dung đòi hỏi sự diễn giải duy lý một ý kiến của người nói và trong trường hợp của bất kỳ lý lẽ nào, đều phải xem xét các diễn giải tốt nhất và thuyết phục nhất có thể có. Theo một cảm thức hẹp nhất, mục tiêu của nguyên tắc thuộc phương pháp học này là để bác bỏ sự quy kết phản duy lý, các lỗi lo-gic hay sự sai lầm đối với phát biểu của người khác. Theo Simon Blacburn: “nó buộc kẻ diễn giải phải làm tối đa hóa sự thật hay tính duy lý trong lời nói của người nói”. Triết gia Donald Davidson đôi khi coi nguyên tắc này là nguyên tắc của sự thích nghi duy lý. Ông tóm tắt như sau: ”ta sẽ tối đa hóa sự hiểu câu và tư tưởng của người khác khi ta diễn giải nó theo cách nhìn lạc quan về sự đồng thuận”. Nguyên tắc này có lẽ được đưa ra để hiểu phát ngôn của người nói vào lúc ta không chắc chắn về nghĩa của nó-ND.

(Trích Gadamer và khoa học nhân văn, (hay làm thế nào để hiểu người/cái khác. Charles Taylor, Như Huy dịch)

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

Đọc Tam quốc chí. Truyện về mẹ của Chung Hội

Thời Tam Quốc có cái may của nhu cầu đại tự sự về tính chính thống mang màu sắc quốc gia thời Nguyên-Minh mà nhờ bộ Tam quốc diễn nghĩa cho tầng lớp bình dân đọc mà phổ biến. Nhờ nhà Thanh cai trị theo lối khéo léo, xiển dương mấy nhân vật cách đời không bị vướng víu về lý lịch mà một số nhân vật như Quan Vũ được phong thần hiển hách hết cỡ. Cái nhu cầu của thị dân trung lưu ngày càng đông đúc càng khiến cho người ta quên mất một sự thực hiển nhiên là thời Tam quốc nó cũng na ná mấy trăm năm sau: vẫn loạn lạc như thế, vẫn thay triều đổi đại, lúc hàng lúc phản...đại khái là chả có gì hay ho hay đẹp đẽ hơn. Bài học rút ra là chả rút ra được bài học gì ra hồn. Chỉ trong bộ Tam quốc diễn nghĩa, khi có một cái đại tự sự lớn về "Ủng Lưu phản Tào'' với vai phe Thục Hán được coi là kế thừa chính thống của 300 năm Đại Hán (thêm thời Tam quốc thì được thành cỡ 400 năm) thì chính cái chiều hướng có tính cấu trúc của đại tự sự làm nên sự thu hút cho đại chúng về thời kỳ này (dưới góc độ tiểu thuyết hóa). (*)

Đọc Tam quốc chí thấy những nhân vật như Chung Hội là một ví dụ sinh động của lịch sử để xem xét nhiều khía cạnh. Nhưng trong bình diện tiểu thuyết thì lãng xẹt, vì nó không phải yếu tố chính tạo thành đại tự sự. Nhân vật này chỉ còn là minh họa cho cái đà cuối mang tính định mệnh của tuyến nhân vật từ Gia Cát Lượng sang Khương Duy. (Nói đi thì cũng phải nói lại là xét cho cùng thì cũng vì Tam quốc diễn nghĩa và hệ sinh thái của nó, dù phê phán nó, thì tôi cũng mới có hứng thú mà gõ những dòng này). Đang hình thành cái khung ý tưởng về góc độ ảnh hưởng của tự sự tới nhận thức của chúng ta nó hiển nhiên hay đáng phản tư nên lược chép tạm phần truyện về mẹ của Chung Hội trong Tam quốc chí (Trần Thọ). Truyện do chính ông con lập; cũng là cái đáng bàn.

''Phu nhân Trương thị, tự Xương Bồ, người huyện Tư Thị quận Thái Nguyên, là mệnh phụ của Thái phó Định Lăng Thành hầu. Gia thế nối đời là trưởng lại ăn lộc hai nghìn hộ. Phu nhân từ nhỏ mất cha mẹ, được sung nạp vào nhà Thành hầu, giữ mình đứng đắn, điều trái lễ không theo, người trên kẻ dưới đều khen ngợi.

Thiếp yêu của Thành hầu là Tôn thị, lấn át chính thất, chuyên quyền việc nhà, ý hại người hiền, nhiều lần gièm pha vu hãm, không gì không dám làm. Tôn thị biện bác xảo trá, lời nói đủ để tô vẽ biến không thành có, nhưng rút cục không hại được phu nhân. Lúc phu nhân có mang, Tôn thị lại càng ghen ghét đố kỵ hơn nữa, bèn bỏ thuốc độc vào đồ ăn, phu nhân ăn bị trúng độc, phát giác được thổ ra hết, mê mẩn hoa mắt mấy ngày. Có người nói:
- Sao chẳng đem việc này nói ra với tướng công?
Phu nhân đáp:
- Đích thứ hại nhau, phá nhà nguy nước, xưa nay lấy đó làm điều răn. Ví thử Công tin ta, chúng nhân ai rõ việc này? Kẻ kia trong bụng liệu xét ta, cho là ta tất nói ra, cho nên sẽ nói việc ấy trước ta; việc do kẻ kia nói ra, yên lặng chẳng sướng hơn sao!
Bèn xưng bệnh không tới gặp. Tôn thị quả nhiên nói với Thành hầu rằng:
- Thiếp mong phu nhân sinh con trai, cho nên đưa thuốc sinh con trai, lại bị nói là cho thuốc độc!
Thành hầu nói:
- Cho thuốc sinh con trai là việc tốt, nhưng ngầm để thuốc vào đồ ăn đưa cho người khác, là việc không hợp tình hợp lí vậy!
Bèn tra hỏi người hầu, người hầu kể lại hết, Tôn thị bởi đắc tội bị đuổi.
Thành hầu hỏi phu nhân sao chẳng nói gì, phu nhân nói rõ nguyên cớ, Thành hầu cả kinh, vì thế càng cho phu nhân là hiền. Năm Hoàng sơ thứ sáu, phu nhân sinh Hội, lại càng được sủng ái. Thành hầu đã đuổi Tôn thị, bèn nạp Giả thị làm chính thất.''

''Phu nhân tính tình thanh cao giữ mình nghiêm cẩn, sáng suốt về việc giáo huấn, Hội dẫu còn bé, vẫn khuyên răn rất nghiêm khắc. Năm Hội lên bốn tuổi, phu nhân sai đọc sách Hiếu Kinh, bảy tuổi cho đọc Luận ngữ, tám tuổi đọc Kinh Thi, mười tuổi đọc Kinh Thượng thư, mười một tuổi đọc Kinh Dịch, mười hai tuổi đọc Xuân thu Tả thị truyện, Quốc ngữ, mười ba tuổi đọc Chu lễ, Lễ ký, mười bốn tuổi đọc Dịch ký do Thành hầu soạn, mười lăm tuổi sai vào nhà Thái học để học lời văn hay ở bốn phương và những điều giáo huấn lạ.
Phu nhân bảo Hội rằng:
- Học nhiều thì mỏi mệt, mỏi mệt sẽ sinh lười biếng; ta sợ mày có ý lười, cho nên dạy dỗ dần dần, nay mày có thể học một mình được rồi vậy.
Phu nhân rất thích thư tịch, đọc qua nhiều sách, đặc biệt thích Chu dịch, Lão tử, mỗi khi đọc Chu dịch đến chỗ Khổng tử giảng nghĩa câu ''Minh hạc tại âm, lao khiêm quân tử, tịch dụng bạch mao, bất xuất hộ đình'' (1), phu nhân thường sai Hội đọc đi đọc lại, nói rằng:
- Dịch có hơn ba trăm hào, nhưng Trọng Ni đặc biệt giải thích hào này, đấy là dạy người ta khiêm cung cẩn thận, nắm vững thời cơ mà hành động, lập thân hành sự phải xét rất kỹ lưỡng, vinh thân từ đấy mà ra, ứng thuận theo cái thuật ấy, là đủ để làm người quân tử rồi.

Năm Chính Thủy thứ tám, Hội làm Thượng thư lang, phu nhân cầm tay Hội dạy rằng:
- Mày mới hai mươi tuổi được vào triều làm quan, con người ta chẳng biết thế nào là đủ thì tổn hại đến thân mình thôi, hãy cố suy nghĩ để tự răn mình!
Bấy giờ Đại tướng quân Tào Sảng nắm quyền triều chính, ngày ngày buông thả đắm chìm trong men rượu, anh của Hội là Thị trung Chung Dực nghỉ việc quan về nhà, nói chuyện ấy. Phu nhân nói:
- Tiếng nhạc thì vui rồi, nhưng khó nghe lâu vậy. Giữ ngôi cao mà không kiêu, biết kiềm chế mình cẩn thận, thì sau này mới không lo họa nạn. Nay xa hoa lấn át người như thế, không phải con đường giữ được sự phú quý lâu dài vậy.

Năm Gia Bình nguyên niên, xa giá đến bái yết ở Cao Bình lăng, Hội là Trung thư lang, đi theo. Tướng quốc Tuyên Văn hầu khởi binh, mọi người lo sợ không yên nhưng phu nhân vẫn tự nhiên như thường. Gia quyến bọn Trung thư lệnh Lưu Phóng, Thị lang Vệ Quán, Hạ Hầu Hòa đều thấy quái lạ hỏi:
- Một người con của phu nhân ở giữa chỗ nguy hiểm, sao lại không lo lắng gì vậy?
Phu nhân đáp:
- Đại tướng quân kiêu xa vô độ, ta thường ngờ rằng ông ấy sẽ không được yên lành. Thái phó nhất định chẳng làm nguy hại cho nước, tất vì Đại tướng quân mà cử sự thôi. Con ta bên cạnh vua thì có gì phải lo lắng? Vả lại nghe nói Thái phó xuất binh không mang theo nhiều vũ khí, xem thế tất không đánh nhau lâu.
Quả đúng như lời ấy, chúng đều khen là sáng suốt.

Hội coi việc quân cơ mật hơn chục năm, nhiều lần dự mưu chính sự. Phu nhân bảo rằng:
- Xưa kia người con nhỏ của Phạm thị là Triệu Giản tử bày kế chặt cây, thu được lòng dân, có thể gọi là khéo rồi. Nhưng mẹ của Giản tử cho là ông ấy đặt điều giả dối làm việc trí trá, vốn làm việc hèn mọn, tất không thể tồn tại lâu dài. Đấy nhất định là lời của người có hiểu biết sâu xa, không phải là điều mà kẻ thiển cận có thể nói được, ta thường muốn làm người như thế. Mày biết giữ lòng chính trực, thì có thể tránh được họa rồi. Chỉ nên tu dưỡng tâm chí làm việc có ích cho chính sự đương thời, là chẳng nhục đến tiền nhân vậy. Người đời thường nói là có ai xét hết được vạn việc, chỉ nên gắng sức làm không biết mệt, tiếp nữa là cố nén mình. Dẫu tiếp xúc với kẻ ti tiện, vẫn phải nói lời tín nghĩa. Trong lúc giúp đỡ người, phải vạch rõ đúng sai.
Có người nhân đấy hỏi:
- Đó há chẳng phải việc nhỏ sao?
Phu nhân đáp:
- Việc làm của người quân tử, đều là gom nhặt những cái nhỏ thành thứ lớn, nếu vì việc thiện nhỏ cho là vô ích mà chẳng làm, đấy là hành động của kẻ tiểu nhân thôi. Chỉ mong làm những việc cao xa, là điều ta không thích vậy.

Phu nhân từ lúc Hội còn nhỏ, mặc áo vá giản dị, tự mình làm việc nhà, lại khiêm cung cần kiệm. Phàm là việc có lợi thì suy xét kỹ đạo nghĩa, đối diện với tiền của nhất định chối nhường. Hội trước sau tặng phu nhân vàng lụa tính kể mấy trăm vạn, phu nhân đưa hết vào kho chung của gia đình chi dùng, không lấy cho mình thứ gì.

Năm phu nhân năm mươi chín tuổi, là năm Cam Lộ thứ hai tháng hai mắc bạo bệnh chết. Đến lúc táng, thiên tử tự tay thảo chiếu, sai Đại tướng quân Cao Đô hầu phúng viếng rất hậu, chi phí táng lễ bất kể lớn nhỏ, hết thảy đều chu cấp.''.

(1): Đây là các quẻ trong Kinh Dịch: Phong Trạch Trung Phu (Trung phu là có đức tin ở trong lòng)

(Tam quốc chí, Trần Thọ. Bản dịch Bùi Thông, hiệu đính Phạm Thành Long, nxb Văn học, 2016)

Đọc xong thấy nổi rõ lên có 2 ý chính được truyền thông trong diễn ngôn này: Chung Hội thông minh, nhiều mưu sâu là có nòi, một kiểu không phải người thường cố mà được - xem mẹ anh ấy thì biết. Nhưng anh tâm chí đoan chính, chỉ lo giúp ích cho triều chính. Không tà vạy.

Chung Hội vào triều lúc hai mươi tuổi mà đến đoạn tả coi việc quân cơ mật hơn chục năm được phu nhân dạy bảo "giữ lòng chính trực và tu dưỡng tâm chí làm việc có ích cho chính sự đương thời'' tức là ít ra cũng quãng giữa tuổi tầm ba lăm. Hội chết lúc bốn mươi tuổi. Vậy truyện này Chung Hội phải lập lúc sau khi phu nhân mất và rất gần thời điểm cầm quân đi đánh Thục. Phu nhân như thế nào chưa rõ nhưng chắc chắn có thể đọc thấy ý mượn truyện bày tỏ sự trung thành với họ Tư Mã lúc đó rồi. Hội là người hay bày mưu tính kế cho nhà Tư Mã, đương thời gọi là Trương Tử Phòng thì kẻ trên tất cũng phải đề phòng. Nên Hội cũng phải tìm cách mà biện bạch. Tuy nhiên xem ra bản tính của Hội đúng như Chung Dục là anh nhận xét ''cậy tài thuật, khó tín nhiệm'', vốn dĩ không có cái kín đáo của Tử Phòng, thích bày tỏ cái thông minh, tự phụ là cái mầm họa đã có từ sớm.

Tư Mã Chiêu cũng ghê gớm, phái kẻ đơn thân một mình không có gia thất vướng víu lãnh chục vạn quân vào Thục mà không e ngại. Vì Chiêu tự phân tích đi chinh phạt cần kẻ trí dũng và quyết tâm lập công danh như Hội. Còn như làm phản? Vốn liếng lực lượng chính trị không đủ, thời thế lòng người cũng không có, nổi dã tâm là chỉ tự rước họa. Chung Hội giỏi nhất là mưu kế nhưng mưu kế chiến thuật chưa thành tài năng cầm quân của đại tướng như Hàn Tín. Đến như Hàn Tín còn không tự biết lượng về vốn chính trị thì Chung Hội lại càng kém. Quyết làm phản mà phải lập mưu úp sọt toàn bộ tướng lĩnh quan viên từ Hộ quân, Quận thú, Nha môn kỵ đốc trở lên thì gần như tay không bắt giặc. Manh động, lỗ mãng. Đến lúc bị quân sĩ xông vào thì cùng lắm giết được năm, sáu binh sĩ. Làm chính trị để vào thế đánh nhau tay đôi thì coi như xong. (Đọc những đoạn này rồi không hiểu sao đời sau vẫn thích mê cái trò tướng cầm đao thương phi vào trăm vạn quân như không của Tam quốc diễn nghĩa được).

Mà kể có đủ chiến công to lớn như Vương Tuấn, Đỗ Dự thu Đông Ngô, không làm phản, giữ được mệnh và phú quý thì rồi cũng như họ, không có được màu sắc truyền kỳ thú vị như mấy ông thua trận mất đầu kiểu Quan Vũ, Trương Phi. Những nhân vật như vậy, giở sử ra đọc, nhặt từ tiêu chí nào cũng kiếm được vô số nhân vật, bình bình đạm đạm ẩn hiện trong dòng chảy lịch sử. Cái mà tôi chú ý nhiều không phải là lịch sử mà cách nhận thức của chúng ta bị chi phối thao túng tâm trí theo kiểu tự sự nhiều đến như thế nào, làm thiên lệch óc phán đoán và tinh thần phản tư ra sao. Việc này sẽ từ từ bàn dần thành mạch chính.

Nói sang chuyện đời nay, tính cách và chuyên môn của Chung Hội là tạng tham mưu, tư vấn, đầu tư tài chính...các loại. Đầu tư tài chính quyết xong vài hôm tính được lãi lỗ. Nhưng làm sản xuất thì khác. Sản xuất là đầu tư dài hạn. Quyết xong xắn tay vào, đổ bao mồ hôi công sức, lao lực, tứ bề thọ địch, toàn tâm toàn ý mãi rồi mới thành công. Nhưng thành công thì thường bền chắc hơn. Có điều thường những người ở ngoài cuộc, cho dù có vốn liếng mà không đi lên từ sản xuất, nhìn cũng chẳng hiểu hết được. Xớ rớ bắt chước vác mai đi đào khoai có ngày vỡ mồm. Chung Hội xét cho cùng là thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào nên vỡ mồm vậy. Dân buôn hay thích bàn mưu kế chiến tranh làm ẩn dụ cho thương trường nên so sánh thế cho trực quan và có tính cà khịa cao.

Nhưng nếu truyện về phu nhân tuy là do Chung Hội biên ra nhằm làm truyền thông thì xét kĩ ra chắc hẳn phần nhiều lời phu nhân là thật - không có bột sao gột nên hồ. Thấm thía như vậy mà thằng con có chịu nghe đâu. Chứ phu nhân không dạy, nó tự biên ra được đến thế thì chắc không vong mạng phơi thây. Đáng tiếc!
-------

(*) Gần đây thì lại có một trào lưu chuyển hẳn sang phê bình dạng ủng Tào phản cả thiên hạ. Xét từ góc độ nhu cầu thời đại thì hoàn toàn dễ hiểu đối với bối cảnh TQ hay VN đương thời. Từ cuối Nguyên sang Minh rồi Thanh, nhu cầu của đại chúng là hoài nhớ và cộng đồng tưởng tượng về một thứ quốc gia có nguồn gốc sâu xa bao trùm toàn bộ cương thổ, có tính chính thống mà Hán triều là chuẩn mực. Nhu cầu đại tự sự lúc đó là cái mà Tam quốc diễn nghĩa xiển dương và hợp tạng giải trí bình dân. Nhưng đương thời hiện nay, nhu cầu đó không phải ưu tiên của xã hội TQ nữa. Việc chuyển pha sang ủng Tào chỉ đơn giản phản ánh nhu cầu và tinh thần của thời toàn trị ngày nay mà thôi!

Còn gì nữa, Tào Tháo chính là hình mẫu điển hình của tự sự về đại gia tư bản đỏ thân hữu khởi nghiệp thành công nhất. Trong nền kinh tế chính trị tù đọng toàn trị bị trùm lợp cái định hướng không tưởng thì cũng chả khác gì các quân phiệt dùng cái vỏ tôn Hán để lũng đoạn Trung Nguyên. Tất nhiên, nhìn nhận như vậy không có ý quy kết rằng các cách tiếp cận khác là sai. Lại trích 1 đoạn tiểu luận của Charles Taylor về sự hiểu của Gadamer (bản dịch của anh Như Huy):

"Lý lẽ của Gadamer trong Sự thật và Phương Pháp đã ứng xử với sự hiểu của chúng ta đối với truyền thống của chính chúng ta, tức lịch sử văn minh của chúng ta, và các văn bản và biến cố thuộc về nó. Điều này có nghĩa rằng những gì chúng ta nghiên cứu sẽ bằng cách này hay cách khác nằm chính trong bản sắc của chúng ta. Thậm chí cả ở các công trình khi chúng ta định nghĩa bản thân mình chống lại các đặc trưng nào đó của quá khứ, như thời Khai minh hiện đại chống lại thời Trung cổ, thì thời Trung cổ ấy vẫn thuộc về bản sắc của chúng ta như thể một cực phủ định, tức điều chúng ta sẽ vượt qua hay thoát khỏi. Chúng ta là bộ phận của cái “lịch sử tạo hiệu lực” (Wirkungsgeschicte) và do đó, lịch sử ấy cũng tạo hiệu lực lên chúng ta [Note: Nói vắn tắt, theo Gadamer, lịch sử tạo hiệu lực là dạng lịch sử mà ở đó bao gồm cả chính lịch sử của sự nghiên cứu lịch sử của chúng ta, tức những gì tạo ra thói quen, văn hóa và truyền thống hiểu lịch sử của chúng ta, và lẽ dĩ nhiên sẽ tạo hiệu lực, hay làm nên, một cách vô thức, hoặc ý thức lên cách nhìn nhận thực tại của chúng ta, và thậm chí cả chính chúng ta, trong hiện tại-ND]"

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

Cấu trúc 1 trò chuyện. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải

Đã lập ý cho bài này nhưng viết lại sau khi đọc được tiểu luận Gadamer và khoa học nhân văn, (hay làm thế nào để hiểu người/cái khác) của Charles Taylor (Như Huy dịch).


-------------


1.
Trong phần trước, khi nhắc câu slogan của HSBC, tôi có ý hướng gợi đến nhánh câu chuyện: đa văn hóa, dịch văn hóa, giải cấu trúc - vốn dĩ sẽ là một hệ quả hợp lý của diễn biến câu chuyện phải bàn đến. Vì nói đến truyền thông là nói đến tương quan xã hội, liên cá nhân. Khi bàn chuyện dịch chuyển giữa các trình độ phát triển của xã hội thì sẽ phải bàn đến sự qua lại giữa các mô hình xã hội, các hệ hình văn hóa khác nhau. Và một thuyết về liên văn hóa (hoặc chừng sẽ là 1 khả thể khác) cũng sẽ phải dành vị trí cho mối quan hệ liên cá nhân.


Thời may, bài tiểu luận về lý thuyết (triết học) của Gadamer đã giúp tôi có thể kết nối mạch lạc lại tất cả những điểm quan trọng rời rạc mà tôi đã đánh dấu trên bản đồ nhận thức của mình về một số chủ đề mà tôi quan tâm; trong đó câu chuyện về truyền thông này là một nhánh thử nghiệm.


2.
Các kiến thức, tác giả tôi đề cập trong mấy bài liền đây đều có 1 đặc điểm: chúng rời rạc, chắp vá, không đều và không hề do 1 ý thức nghiên cứu hệ thống chuyên sâu tổ chức. Nhưng chúng đã có được vẻ liền lạc, sống động và chính những độ chênh lại tạo ra thế năng cho tư tưởng chuyển động và kết nối. Thực tế đó là nhờ kết cấu của trò chuyện (đối thoại) mà ở đó sự phân vai người này/kẻ khác đã tạo ra được. Một cách vô tình, trò chuyện này đã có những đặc điểm căn bản của hành động tương liên mà anh Gauxx đề cập "khi mà những cuộc nói chuyện đặt trên nền tảng duy lý của sự tương hiểu/tương liên, chứ không phải duy lý vì một mục đích, mặc dù không phủ nhận hoàn toàn cái thứ hai". Cái nền tảng đạo đức diễn ngôn của Habermas có thể diễn dịch sang thành thiện chí đối thoại trong trò chuyện là điều hiển hiện giữa chúng tôi trong mấy ngày này. 


Điều này sẽ được rọi chiếu từ Gadamer khi đề cập đến việc làm sao để hiểu người/cái khác: Tuy nhiên, việc đạt tới một sự hiểu không bao giờ sở hữu đặc tính tối hậu này. Bởi một điều đơn giản, chúng ta luôn đạt tới một sự hiểu cùng với những người đối thoại được xác định cụ thể. Và những sự hiểu được đạt tới với những người đối thoại này sẽ không nhất thiết giúp được chúng ta khi chúng ta tìm cách hiểu những người đối thoại khác. Các sự hiểu của chúng ta đều phải phụ thuộc vào người tham gia đối thoại với chúng ta. Và thậm chí, còn phải tính đến việc, chính những người đối thoại cùng chúng ta có lẽ cũng không bất biến. Hoàn cảnh sống hay mục đích sống của họ có thể thay đổi, và sự hiểu trước đây của chúng ta về họ có thể bị đặt nghi vấn. Đúng là chúng ta cũng có thể chế ngự tình huống này bằng các thực hành như ràng buộc qua hợp đồng hay bản thỏa thuận, song điều này chỉ làm rõ hơn việc chúng ta đã ý thức hoàn toàn rằng những gì thiết cấu nên sự hiểu có tính đối ứng hoàn hảo và tự giác vào lúc này có thể sẽ không còn hiệu lực vào lúc khác.


3.
Điều hay ho của cấu trúc trò chuyện này (mà tôi sẽ từ từ dựng lại đặc trưng của nó) là dù từ xuất phát điểm nào, sự ý thức về việc đạt tới sự hiểu (lẫn nhau) cũng sẽ kết nối được một trật tự mới cho các tri thức đồng thời vẫn không làm tiêu biến vị trí lịch sử của nó (trong văn cảnh rộng lớn hoặc trong chính lịch sử của trò chuyện). Điểm đặc biệt là tôi vừa đọc xong bài tiểu luận của Charles Taylor (CT) tối nay, và tôi cũng chưa kịp tìm hiểu thêm gì về Gadamer nhưng tôi sẽ dùng nhiều cách diễn đạt từ bài tiểu luận này để cũng là minh họa luôn hai điểm quan trọng trong ý tưởng ban đầu  của tôi về cấu trúc đối thoại: đối thoại làm giàu cho mỗi bên và chỉ trong đối thoại sự biến đổi, cập nhật, hiểu biết hóa...mới diễn ra tự nhiên nhất - sẽ là liên tưởng của tôi về mô hình phát triển của xã hội như ở VN, điều mà anh Gauxx hẳn có ý ám chỉ về phát triển đi hai hàng. 


Có thể cho đến lúc này, nền tảng triết học của chúng tôi (trong tiềm tàng) không hẳn đã trùng nhau, nhưng nó có xu hướng hội tụ dần. Điều này sẽ rất thú vị nếu bạn biết tôi đủ lâu để hiểu là tôi chỉ xuất phát điểm từ một tâm thức rặt Á đông và không được trang bị hệ thống về tư tưởng hiện đại. Điều đó không ngăn cản dần dà tôi nhận thấy mẫu hình về những gì gọi là những người có một khung tâm thức hậu hiện đại. Như khi tôi bàn về Roland Barthes (RB), điều đáng ngạc nhiên là sự tương đồng gần như hội tụ trong cách đọc văn bản mà không cần gán thêm học thuyết nào ngoại trừ 1 vị thế lập trường ý hệ. Và như vậy dần dà tôi nghĩ đó là do có một khả thể nào đó về sự tương đồng ở thượng lưu giữa Đông và Tây, "chúng ta chia sẻ chung yếu tính con người (humaness)", về "một phương cách để ứng xử với cái thân phận làm người mà chúng ta cùng chia sẻ" (CT).


4.
Một cách tự phát, tôi cũng đã cho rằng một trò chuyện đúng nghĩa sẽ chỉ có thể là một đối thoại cẩn trọng giữa hai người. Mỗi khi xuất hiện thêm một người khác, chúng ta sẽ có cơ hội đồng thời tổ chức thành một tổ hợp của các nhóm đôi. Những biến dịch của các khả thể này sẽ đem lại thế năng và liên tục tương tác, biến dịch làm phong nhiêu bản ngã cho mỗi người. 


Ví như khi trao đổi với anh Gauxx về một chủ đề, tôi hoàn toàn có thể đồng thời một cách khác cũng cởi mở như thế, trao đổi với người thứ ba (^^) nương theo tri thức khác của họ (NL). Giữa hai tương quan kia sẽ lại thiết lập một tương quan mới đa bội và toàn bộ lịch sử trò chuyện này sẽ đem lại sự đào luyện lợi lạc cho tất cả những đối tác thiện chí. Và tất yếu, trong trường hợp cụ thể là ở blog này, với những người bạn mà tôi đã kết nối và chia sẻ nhiều năm, thiện chí là lợi thế mà chúng tôi không cần phải kêu gọi nữa. Sau nhiều năm online, cuối cùng tôi cũng hiểu ra được cách nào thì sẽ vượt qua được sự phân biệt on/offline mà được ích lợi nhất - cho nhau.


5.
@Gauxx: Khi nhắc đến E.Durkheim, thực tế em còn đang đọc dở. Nhưng nếu không đem ra vứt bừa vào đấy ngay (kiểu cao thủ cái gì cũng là vũ khí ấy mà ^^) thì công đâu mà học thuộc hết tri thức nhân loại được (lol). Và không đợi anh giải thích thì vừa may đã có CT nói về điều đó: Gadamer không tin rằng, trong các vấn đề thuộc con người, thậm chí chỉ là về mặt nguyên tắc, người ta có thể đạt tới một kiểu nhận thức tạo ra được sự chế ngự hoàn toàn về mặt trí tuệ đối với đối tượng được nhận thức. Có lẽ có thể mơ tưởng về điều này trong bộ môn vật lý học phân tử, thậm chí có thể xác lập nó như một trong các mục đích của bộ môn ấy, song điều này sẽ là bất khả khi đối với sự hiểu về con người.


Tự nhiên em hiểu ngay ngữ cảnh mà anh phản bác trích dẫn ED và đề cập đến network society. Và lúc nào bàn đến đó, tự nhiên em đã có cái thế năng để mà thao tác, bất chấp anh có biết đến Gadamer hay không trong mạch lạc của mình :)


Và việc Habermas cho rằng "những quốc gia không giao tiếp theo kiểu communicative action là những quốc gia không biết giao tiếp" liệu có phải là một uyển ngữ thay vì là một khúc mắc rơi về cái nhìn của thuyết vị chủng? Việc này rõ ràng phải bổ sung dữ liệu và rọi chiếu tiếp (ví dụ chính là với tiểu luận của CT).


Và việc rẽ nhánh khi bàn về yếu tố power trong tương tác xã hội của Habermas liệu có thể bổ khuyết từ cái nhìn tận căn của nhánh Gadamer (em đồ là không chỉ mình ổng)?


"Ghép 3 ông trí thức thì sẽ ra 1 tờ báo" là một hướng. Nhưng tờ báo là đã hàm ý tương tác 1 chiều, trong khi ý tưởng xây dựng trò chuyện liên cá nhân sóng đôi mà em đang từ từ làm rõ ra nó có xu thế 2 chiều. Và nó mời gọi sự tham dự bình đẳng (nhưng khác biệt, thậm chí là những duy nhất) của mọi người. Tuy vậy trong đó vẫn hàm chứa xu hướng thiên về góc độ truyền thông - tức là thao tác trong khung tri thức đại chúng, ở giữa, hơi hơi bottom-up (lol) hơn là kinh viện!


"mình cũng thích xài những thứ được mô hình hóa lắm, nhưng cuối cùng vẫn phải theo đuôi những người phê phán nguyên con modernisation." - Và cuối cùng thì cái câu này đã bị hấp thụ hết, hoàn toàn hiểu và đồng ý ngay về vấn đề anti mô hình hóa, xuất phát từ cách nhìn của Gadamer: 


Như vậy, cho tới giờ, ta đã biết rằng sự hiểu có ba đặc trưng: 1/ tính hai chiều, 2/ tính phụ thuộc vào kẻ đối thoại cùng, và 3/ tính chất mở ngỏ ra cho sự hiệu chỉnh. Các đặc trưng này hoàn toàn không thích hợp với mô hình nhận thức đối tượng theo lối cổ điển. Phản ứng triết học “chuẩn định” của chúng ta đối với các đặc trưng này cũng hoàn toàn tương tự. Các đặc trưng ấy hoàn toàn không thích hợp với nhận thức, tức sẽ không thể thích hợp với ”khoa học” thực sự. [Với môn khoa học về nhận thức-ND] nội dung của nhận thức không nên biến thiên theo mỗi kẻ truy tầm nhận thức khác nhau; nó không thể là điều gì [mà độ khả tín lại-ND] phụ thuộc vào các bên tham dự. Kẻ truy tầm nhận thức đích thực sẽ không bao giờ thay đổi mục đích của hắn, chứ đừng nói là có sự thỏa hiệp nào ở đây. Sự phụ thuộc vào các bên liên quan cũng như các mục đích bị thay đổi thích hợp được với sự hiểu, chính xác là bởi chúng tái hiện điều gì đó hoàn toàn khác với nhận thức; sự đạt tới đồng thuận, và việc đạt tới sự thật tối hậu là các cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau. Ta không nên lẫn lộn giữa hai cách tiếp cận này, cũng như không nên liều mạng thử tìm cách hạ giá lối tiếp cận khoa học. 


6.
@NL: Từ vai thứ 3, hẳn bác đã nhận ra những dụng ý của tôi trong thiết kế của chuỗi trò chuyện này. Trong chuyện dẫn nhập văn hóa mà không mời được những nhân vật như bác thì sẽ thật là phí phạm tài nguyên internet :P


Thực tế lúc viết chữ giới thiệu VH là tôi đã có sự ngập ngừng (nên nhập nhằng viết tắt), nhưng chấp nhận viết bừa như thế để mở ngõ câu chuyện của bác về lập ý trong mảng này.Cũng như anh Gauxx dẫn lại, tôi cũng nhận ra rất rõ sự dùng dằng "mắc vào nhận thức" của bác. Ngẫu nhiên trong mạch chuyện liên quan đến Gadamer này, tôi nghĩ có một hướng kỹ thuật tránh được việc phải lựa chọn mà vẫn có tiến hóa cho bản ngã tri thức của người viết. Nó liên quan đến ý tưởng về cấu trúc trò chuyện này. Khi đó ta coi mỗi lựa chọn là một kẻ khác để đối thoại và để hướng tới sự hiểu.


"Lý lẽ của Gadamer trong Sự thật và Phương Pháp đã ứng xử với sự hiểu của chúng ta đối với truyền thống của chính chúng ta, tức lịch sử văn minh của chúng ta, và các văn bản và biến cố thuộc về nó. Điều này có nghĩa rằng những gì chúng ta nghiên cứu sẽ bằng cách này hay cách khác nằm chính trong bản sắc của chúng ta. Thậm chí cả ở các công trình khi chúng ta định nghĩa bản thân mình chống lại các đặc trưng nào đó của quá khứ, như thời Khai minh hiện đại chống lại thời Trung cổ, thì thời Trung cổ ấy vẫn thuộc về bản sắc của chúng ta như thể một cực phủ định, tức điều chúng ta sẽ vượt qua hay thoát khỏi. Chúng ta là bộ phận của cái “lịch sử tạo hiệu lực” (Wirkungsgeschicte) và do đó, lịch sử ấy cũng tạo hiệu lực lên chúng ta [ Note: Nói vắn tắt, theo Gadamer, lịch sử tạo hiệu lực là dạng lịch sử mà ở đó bao gồm cả chính lịch sử của sự nghiên cứu lịch sử của chúng ta, tức những gì tạo ra thói quen, văn hóa và truyền thống hiểu lịch sử của chúng ta, và lẽ dĩ nhiên sẽ tạo hiệu lực, hay làm nên, một cách vô thức, hoặc ý thức lên cách nhìn nhận thực tại của chúng ta, và thậm chí cả chính chúng ta, trong hiện tại-ND]"


Về "Những huyền thoại" của RB: chính kiểu bàn nghiêng, bạn NL ở vai thứ 3, đã dẫn dắt câu chuyện đến đây - điểm hiệu chỉnh và đổi hướng. Một mặt tôi ước lượng (vì có thể trong chuyên ngành văn chương điều này lại khá cũ kỹ và hiển nhiên) rằng khi phải từ bỏ tư thế chính trị rõ ràng (điểm tựa lý thuyết, vị thế phát ngôn) thì có thể xoay sang cấu trúc kỹ thuật trò chuyện để đảm bảo cho mọi khả thể đều trở lên phong nhiêu :)


Có thể dù không đọc bài bản về Ký hiệu học nhưng do tôi là người đọc nhiều về Tâm phân học nên quen với cấu trúc của biểu tượng, có thể còn vì tôi là người thiết kế không gian, nên chuyện chuỗi lớp phối cảnh, nhịp điệu, tiết tấu, bố cục là cái dễ nhận ra trước. Và cũng có thể chịu ảnh hưởng của Francoise Jullien nên tôi đã quen cách đọc ký hiệu. Tất cả những điều đó làm cho việc đọc "Những huyền thoại" phần ký hiệu cấu trúc là rất tự nhiên với tôi. 


Nhưng nói vậy thì cũng vẫn có nghĩa là tôi hoàn toàn chia sẻ những đánh giá rằng "nó tươi mới, nhiều bất ngờ...ít xảo thuật trí thức". Chỉ là tôi đã vừa đẩy câu chuyển lên 1 nhịp để lấy lại thế năng rồi ^^