Hiển thị các bài đăng có nhãn sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 1, 2011

Tư duy kinh tế Vn 1975-1989 (tiếp).

3.
Đối tượng khảo cứu của cuốn sách là về "tư duy kinh tế VN". Xét trên phương diện phương pháp luận nghiên cứu KH, tôi không rõ là liệu trong ngành kinh tế học thì khái niệm trên có trở thành một đối tượng nghiên cứu được không nữa? Sẽ dễ chịu hơn nhiều nếu xếp công trình này vào phân mục lịch sử - mặc dù bản thân sử học cũng lại là một thứ rất khó để phân loại. Bỏ lại vấn đề phân loại duy danh (có phần dễ dãi) sang một bên, ta lại thấy chính từ độ vênh này phạm trù "tư duy kinh tế VN" tìm được sự thích nghi cho hoàn cảnh chính trị - kinh tế - xã hội đặc thù của mình.

Như chính trong cuốn sách đã ghi lại, nhiều ý kiến từ quan điểm kinh tế học phương Tây đã cho rằng tiền ở VN giai đoạn bao cấp không thực sự là tiền tệ (vì nó gắn với vô số thủ tục, giấy tờ, tem phiếu...khác) nên những khái niệm kinh tế học chẳng biết gò vào đâu cho vừa thực tế VN lúc đó. Một đằng thì đến bản thân khái niệm chủ chốt là "tư duy kinh tế" cũng phải loay hoay tìm kiếm một uyển ngữ cho mình, đằng kia là cái cấm kị về hệ tư tưởng CS đã chốt chặt tại bổ ngữ "muôn năm", ở giữa hai đằng hai nẻo đó mới thấy được việc lựa chọn đối tượng trình bày là "tư duy kinh tế VN" trở nên vô cùng thích đáng. Trong phạm trù này đồng thời vừa bao hàm các tư tưởng, lý luận, lại vừa bao hàm các chủ thể của nó từ các cá nhân chính trị gia đến các cơ cấu ban ngành của thể chế cũng như hệ thống các chuyên gia, các think tank.

Trong bài tựa của GS Trần Phương - một nhân vật chính được đề cập nhiều lần trong cuốn sách - hầu như không hề chạm đến một điều gì cụ thể của tác phẩm. Tất cả chỉ là những câu hỏi rất cơ bản, rất hiển nhiên về mô hình kinh tế của VN. Một người trong cuộc nêu lại những câu hỏi căn bản - tự điều này cũng nói lên được khá nhiều điều: nếu chúng ta đã làm được rất nhiều điều trong Đổi Mới, vậy thì vị trí của những đổi mới ấy là ở đâu trong tiến trình chung của lịch sử? Đứng từ ngoài để nhận xét thì hầu như chỉ có thể rút gọn lại một câu "đổi mới chẳng qua là cải lùi!". Từ đó chuyển sang phủ nhận vai trò lịch sử cũng chẳng xa là mấy. Trong công trình của mình, ĐP đã phần nào chuyển tải được bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội của VN một thời kỳ trong sự liên tục và không thể tách rời từng mặt của nó bằng lối ghi chép riêng trong đó các chứng từ của lịch sử xuất hiện một cách chi tiết và sống động không ngờ so với những ấn tượng thông thường về chúng. Nhìn nhận lịch sử bằng cái nhìn từ những vận động nội kết thường giúp đem lại những kiến thức có nhiều ích lợi hơn là những phán xét suông "if what".

4.
Một điểm thú vị khác của cuốn sách là dưới sức căng của tình huống kinh tế đất nước thời kỳ đặc biệt này, những sinh hoạt chính trị ở cấp cao nhất ở Vn hiện ra rất sinh động đến từng cá nhân một. Nó giới thiệu cho công chúng một loạt những chuyên gia còn ít được biết đến đứng đằng sau cuộc cải cách. Những chính khách nổi tiếng trở lên cụ thể sinh động hơn trong từng tình huống câu chuyện cụ thể. Hầu như tác phẩm chỉ ghi lại những sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến tiến trình cải cách, đổi mới. Nhưng chính từ cách ghi chép chi tiết cụ thể với nhiều chứng từ lịch sử đã làm nổi bật lên những điều, những việc của những người trong cuộc nhưng không được nói đến! Những hình ảnh đen trở lên bớt đen hơn và những hình ảnh sáng quá trở lên có hình khối hơn.

Thông qua những chi tiết, người đọc có thể phác dựng lên được lề lối hoạt động, cơ chế ảnh hưởng và ra quyết định của cơ quan quyền lực cao nhất là BCT. Những diễn tiến thay đổi cung cách sinh hoạt chính trị trong nội bộ, những xu thế cân bằng mới dần xuất hiện sau thời kỳ của các lãnh tụ. Trong một cái nhìn kéo dài, nó sẽ giúp ta hình dung phần nào về cơ chế của những sinh hoạt chính trị giai đoạn gần đây.

5.
Từ những đặc điểm của mình, có lẽ đúng hơn cuốn sách thuộc loại hình lịch sử giống như nó tự nhận "Nhật ký thời bao cấp". Sự sống động của tư liệu giúp người đọc như cùng quay lại một thời kỳ để theo dõi tiến thoái của nó. Một điều khá đặc biệt với tôi là sau khi đọc cuốn này bỗng nhận thấy hơn 20 năm không phải là quá dài. Những gì đang diễn ra là sự kéo dài của những sự kiện của thời kỳ trước. Những đòi hỏi cải cách thay đổi một mặt vừa rất cấp thiết một mặt cần có đủ thời gian cho nó diễn ra. Những vấn đề kinh tế cần một pha thời gian của nó, những vấn đề xã hội khác cũng sẽ cần một pha khác để thay đổi.

Nhưng nếu những vấn đề kinh tế của giai đoạn 1975-1989 là rất cấp bách tạo ra tình thế không thể không đổi mới để từ đó chính cũng những cá nhân như Trường Chinh có thể thay đổi để tác động vào tiến trình thì đối với những vấn đề xã hội hiện nay sức căng của tính huống sẽ xác lập từ đâu? Chúng ta vẫn đang còn hân hoan vì hàng trăm năm nay chưa bao giờ cuộc sống dễ chịu như vậy (như báo Mỹ nói) thì tương lai những yếu tố nào, những ai sẽ là người thức tỉnh những vấn đề cấp bách ở một bình diện khác, ở những tầng trên của tháp Maslow?

Đọc Tư duy kinh tế VN 1975-1989. Đặng Phong

(Ảnh ST)
1.
Ấn tượng và ký ức về thời bao cấp trong tôi là khá nhẹ nhàng. Đơn giản vì nó chỉ vừa kịp nằm trọn trong tuổi thiếu niên vô tư lự của thế hệ cuối 7x chúng tôi. Điều khác biệt tưởng nhỏ bé này hoá ra lại rất căn bản khi tôi nhận ra sự khác biệt trong cách nhìn nhận đánh giá về xã hội Việt Nam của mình với những người thuộc thế hệ khác, đặc biệt là lứa đi trước. Về căn bản, chúng tôi lớn lên, thấy những khó khăn, kỳ cục chỉ là những kỷ niệm ấu thơ đáng yêu dễ tha thứ, thấy sự phát triển, thay đổi là điều đương nhiên và xã hội luôn có cơ hội tích cực cho sự thay đổi.

Chúng tôi được đặc quyền nhìn mọi vấn đề của thời bao cấp bằng cái nhìn non nớt như vậy mà không sợ bất cứ chế giễu nào: xét cho cùng thì chúng tôi đâu có hiểu biết gì nhiều nhặn về xã hội thời đó ngoài những trải nghiệm sống của tuổi nhi đồng, thiếu niên. Tuổi trẻ của chúng tôi có quá nhiều điều để khám phá và loay hoay lựa cách thích nghi. Cái loay hoay muôn thuở của tuổi đôi mươi vừa hay cũng trùng hợp với cái loay hoay đôi mươi của một xã hội đang tự vượt lên chính mình những năm 90s. Một cách tự nhiên, thời bao cấp lặng lẽ nằm bên rìa ký ức như một điều đương nhiên.

Nhưng khi đã tiếp xúc với thế giới internet thì tránh thế nào được việc phải có một quan điểm khi mỗi ngày đều tràn ngập trên các trang mạng đang trong trào lưu giải mật chế độ là những tranh chấp (thậm chí thù địch) quan điểm xét lại về xã hội Việt Nam. Dù không cố ý, dần dà tôi chắp nối những sự kiện, những ý kiến thành một nền tảng hiểu biết của mình về thời bao cấp. Sự khác biệt bây giờ trở thành rất quan trọng: tôi luôn nhìn những mâu thuẫn gay gắt như là những mâu thuẫn của nội giới và nhờ vậy thoát ra khỏi sự hằn học bài trừ về mặt quan điểm đối với quá khứ. Khi mình đã từng sống đơn giản, hài hoà với một xã hội; rồi xã hội đó cũng đã đổi thay tích cực hàng ngày thì không thể nào mình tư duy về nó theo kiểu phải cắt đục chỗ này, tiêu diệt chỗ kia, theo lối mày sống tao chết được. Sự chú tâm của tôi ưu tiên cho việc thấu hiểu, đồng cảm và tìm kiếm cơ hội cho sự thay đổi.

2.
Nhược điểm lớn nhất của những thông tin từ nguồn phổ thông trên mạng là tính phiến diện, nhặt nhạnh và có tính chất tin đồn là chủ yếu. Những thông tin như vậy chỉ có thể lặng lẽ theo dõi, để vào một chỗ chờ dịp đủ điều kiện xử lý thì thao tác chứ ít tính xây dựng cho hiểu biết có ích. Trong một bối cảnh như vậy thì cuốn sách "Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989" của Đặng Phong là một tài liệu rất có ích để góp phần định hình cách nhìn nhận đánh giá về thời bao cấp nói chung và về đường lối xã hội thời đó nói riêng.

Việc cuốn sách là một phần của một đề tài cấp Bộ về Tư duy kinh tế VN 1975-2005 dễ khiến người ta liên tưởng đến 02 việc: thứ nhất, nó được tư duy và trình bày theo phong cách, lối viết của nghiên cứu khoa học VN vốn buồn tẻ và dễ đáng ngờ; và thứ hai, nó chỉ nói chuyện kinh tế là thứ không phải hấp dẫn đối với tất cả mọi độc giả phổ thông. Cái hấp dẫn trước đây của thời kỳ bao cấp là những tập quán, lối sống, kỷ niệm buồn vui một thời - mà hầu hết là mang màu sắc tương phản với hiện tại - giống như những hiện vật trong bảo tàng Dân tộc học, hay ở quán cafe Báo phố Trần Quốc Toản hoặc trong những bộ sưu tập tư nhân và trên những trang blog đầy hoài niệm.

Tưởng vậy mà không phải vậy, khi đã bắt đầu đọc cuốn sách là sẽ khó có thể dứt ra được khỏi mạch lạc của nó. Lớn lao hơn rất nhiều hình dạng một đề tài về kinh tế, vốn cũng chính là một lựa chọn rất thông minh, rất đặc sắc của các tác giả, cuốn sách đã tìm ra được lối mạch lạc để xâu chuỗi liên kết các sự kiện, các số liệu, văn bản, nhân vật lịch sử để dựng lên thành một thực tế chính trị - kinh tế - xã hội của cả một thời kỳ lịch sử. Cả những điều nó nói đến và những điều nó không nói đến (lối vòng vo gián tiếp Á Đông) đã cho ta biết được rất nhiều góc cạnh của lịch sử một cách sống động và chính thức. Chính trị, vâng chính là chính trị, được đề cập chính thức, nghiêm túc và có thể hiểu được. Bên cạnh những tiếp cận kiểu tin đồn, thuyết âm mưu mang nặng phong cách Tam quốc diễn nghĩa lâu nay, ở đây chúng ta có thể bình thường mà tiếp cận, suy nghĩ, đánh giá về những cá nhân của lịch sử chính trị Việt Nam một thời kỳ. Vừa mang trong mình khối tư liệu đủ để đứng riêng một mạch lạc, cách trình bày của cuốn sách còn mở ra vô số lối ngỏ để mỗi người tuỳ vào sở thích, hứng thú và hiểu biết có thể tham chiếu, dựng khung bối cảnh, phác hoạ lên tư cách của từng nhân vật lịch sử giai đoạn đó. Thăng bằng giữa cách đọc chính diện và cách đọc giữa những hàng chữ, đó chính là giá trị bút pháp nổi bật của Tư duy kinh tế VN 1975-1989.

(còn tiếp)

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

Sách sạch sành sanh 2010

Mưỡu

Chủ đề là sách các kiểu.
Thể loại là phát biểu cảm tưởng.
Bản chất là đua đòi.
Toan tính là câu pageview và comment.
Sự thực là có lên gân vì trong lòng trống trải quá :))

Sách mua gần đây nhưng chưa biết bao giờ đọc: hầu như toàn sách của Nhã Nam, do ảnh hướng xấu của internet :P

- Dưới bóng những cô gái tuổi hoa. M.Proust.
- Sa mạc. Le Clézid.
- Bay trên tổ chim cúc cu. Ken Kesey: mua vì bộ phim đã xem. Thực lòng muốn giữ nguyên cảm xúc của phim nên không muốn xem mới ngược đời chứ!
- Những mối tình nực cười. M. Kundera
- Bốn mùa, trời và đất. Márai Sandor: lướt qua hứa hẹn dễ đọc. Có điều chắc không biết được bao lâu và có kết thúc được không với kiểu từng đoạn lụn vụn này.
- Đầu óc người Ý. Beppe Severgnini: do ấn tượng quá tốt với Nam tước trên cây và mong muốn biết thêm về người Ý :)
- ...Khoảng vài ngần ấy nữa sách văn học thời trang Nhã Nam và các người bạn.

Sách đọc dang dở và sách đã đọc lại.

- Những huyền thoại. Roland Barthes. Một mẫu hay. Cuốn này đọc xuyên táo từ 2009 và thỉnh thoảng vẫn muốn đọc lại. Có cảm tưởng nếu từ bỏ lập trường chính trị phê phán thiên tả của R.B thì sẽ giảm nửa tính hấp dẫn báo chí :P
- Istanbul. O.P. Đã nhắc đến, đã đọc lượt nhưng không thấy ngấm ngáp gì. Chắc là vì sai điểm rơi cuộc đời :D
- Lại chơi với lửa. L.L. Đọc rành mạch được 02 truyện ngắn đầu tiên. Tôi thấy ảnh hưởng của Kafka.
- Vô tri. M.K. Đọc loáng thoáng cả quyển. Không (muốn) bắt được sóng.
- Nam tước trên cây. Hay. Một phần vì đúng thời điểm. Muốn tìm thêm về tác giả này.
- S.E cuộc đời và tác phẩm. Đã nhắc đến, nhớ 2 câu.
- Cuốn sách và tôi. Vương Hồng Sển. Đọc 1 lèo như đọc truyện chưởng. Giống cuốn gì về Biệt động Sài gòn.
- Giáo trình lịch sử nghệ thuật. Đọc 2 lèo 2 tập. Thỉnh thoảng cần học lại :)
- Loài tinh tinh thứ 3. Đã đọc 2 lần và hứa review mà chưa làm.Đặc trưng của các nhà sinh học tiến hoá là họ lý luận theo kiểu quy nạp với loại suy nhiều. Hấp dẫn nhưng nên cảnh giác!
- Phong thuỷ cổ đại TQ - Lý luận và thực tiễn. Cuốn sách khác biệt nhất so với các loại cẩm nang bí truyền còn lại. Nên đọc dù ít cái mới.
- Lịch sử Trung Đông 2000 năm trở lại đây. Đọc vèo, nhưng mình không hạp tạng nền văn hoá này lắm.
- Ngôn ngữ cơ thể. Có mấy phân tích rất hay về đọc ngôn ngữ hình thể để đoán định tâm lý người đối diện.
- 400 năm lịch sử thiên văn học và mấy cuốn thiên văn học, vật lý của Trịnh Xuân Thuận: kết luận là không nên mua nếu muốn tìm điều gì mới. Cùng kiểu này là cuốn gì về vật lý lượng tử của 1 em trẻ măng người Đức, cuốn về Einstein...
- Vật lý và triết học. Heisenberg. Nếu đọc đối chiếu với cuốn "Vật lý tiến hoá luận" của Einstein và L.Infeld (sách An Tiêm năm 1974) về việc đảo ngược những định kiến ngôn ngữ có nhiều diễn giải rất minh bạch.
- Mấy cuốn của Eckhart Tolle không hiểu sao chỉ đọc được 1 phần là dừng lại. Có thể vì tâm lý không muốn đọc suông mà cũng chẳng thực hành một nỗ lực nào :(

Trong list trên có đến 4-5 cuốn được giải quyết gọn ghẽ trong mấy ngày ốm nằm dưỡng già :D

Sách muốn đọc nhưng chưa bao giờ bắt đầu tử tế :(

- Thế mà là nghệ thuật ư?
- Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật.
- A.R.G: Sự thật và diễn giải.
- Vượn trần trụi.

Sách luôn muốn đọc lại mà chưa đọc được vì thiếu cái bàn viết (@aka Adít nê din)

- Các cuốn của F.Jullien và E.Fromme.
- Cuốn Cách viết kịch bản phim ngắn của Jean-Marc RUDNICKI. Không phải tôi muốn chuyển nghề nhưng đặc biệt muốn rút ra từ đặc trưng thể loại này cái cơ chế thao túng tâm lý chúng ta khi đọc sách xem phim: tôi coi đó không phải là fact mà là một vấn đề cần giải quyết.

Sách mua được và thấy thích vì mua được

- Sách ảnh Bùi Xuân Phái. Cứ nhìn thấy mấy cuốn sách này là lại chỉ muốn tậu lại ngay 1 cái giá vẽ nhưng nhà chật quá :P


Mưỡu hậu

Ngoài ra tôi còn đọc nhiều sách GIÁ TRỊ và mua NHIỀU sách khác lắm cơ các bác ạ. Cuối năm rồi chúng mình có nên phát động phong trào giao lưu trao đổi và thanh lọc danh mục không nhỉ???

P/s: tô đỏ là high recommend, có bảo chứng.
 

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2009

con người định nghĩa mình qua hành động

1.
Thỉnh thoảng tôi cũng mua sách qua mạng. Những cuốn sách đặt mua thường là do đã xuất bản từ 1 vài năm trước và khó tìm ngoài các hàng sách ở HN. Hôm nay vừa nhận được 2 cuốn: Nghệ thuật thy ca - Aristotle và Hài kịch Hy lạp - Aristophane. Cái việc nghèo nó thỉnh thoảng cũng bất tiện: phần nhiều cuốn sách kiểu ấy là mình đã xem lướt qua trước đây rồi, nhưng lúc đấy không rủng rỉnh, cân nhắc rồi tự bảo sẽ mua sau. Đến lúc mình định mua thì nó lại không thấy bán nữa. Nhưng như cuốn Hài kịch Hy lạp này thì hơi khác. Quả là có xem lướt qua 1 lần nhưng không nhớ, lúc đặt mua vốn đoán nó có một vài khảo luận của bác nào đó nổi tiếng xem thế nào (Kiểu như Heidegger với Nietzsche bàn về thần thoại Hy lạp í) nhưng hoá ra lại là thuần tuý 1 tập kịch. Thôi cũng được, coi như làm tài liệu nguồn, mặc dầu chắc lại giống tập kịch của Shakespear nằm yên 1 xó. Nói thực tôi đang nghi nghi hình như cuốn Nghệ thuật thy ca cũng đã mua rồi mà không biết có chắc không; việc lục tìm sơ bộ thì chưa thấy. Chẳng lẽ lại là chứng Déjà vu. Bác nào có kinh nghiệm xin mách giúp có nên làm một cái thư mục quản lý sách? Và làm thế nào cho nó đỡ ngại ấy vì bây giờ mà động đến thì hơi nản :(

Từ lâu, tôi rất muốn tìm hiểu bài bản về chủ đề kịch do từ nhận xét về việc một vài triết gia ưa dùng thể loại kịch để chuyển tải chủ đề triết học (như J.P.Sartre hay A. Camus-ông này chưa tính là triết gia), nhưng vẫn chưa tìm được một dẫn luận nào đủ hay để có khả năng bao quát chủ động về nó. Tôi mới nghĩ được là do một đặc trưng căn bản của kịch là nó cấu thành từ những tình huống cô đọng, có tính biểu tượng cao. Việc rút gọn yếu tố sống trải trong thời gian của cá nhân thành những tình huống tiêu biểu liệu nó có hàm chứa nếp gấp định kiến nào của hệ hình tư tưởng không?

Thực tế, trong các tình huống đời thường, bản thân chúng ta thường cảm thấy rằng tôi chưa biểu hiện được đúng cái tôi muốn biểu hiện - không phải do thiếu cơ hội mà do sự khiếm khuyết tự bản chất của lối giao tiếp. Blog là một bằng chứng hùng hồn cho nhận xét này. Bao lần chúng ta ồ à về một thằng cha mà nếu gặp ngày thường chẳng bao giờ nghĩ ra nó lại có những nét ấy. Nhưng rồi gặp lại thì vẫn thế. Vậy nếu văn học và thy ca có cái đặc điểm tự sự là ưu thế thì trong kịch có vẻ ở phía ngược lại. Ở cái phía ngược lại này, kịch có ưu thế gì đáng được khuếch trương? Có phải bắt nguồn từ con người hành động-con người định nghĩa mình qua hành động-của truyền thống phương Tây?

2.
Bản danh sách ký tên kiến nghị về dự án bô-xít đã cập nhật lần 6. Tôi nghĩ có ai làm một vài phân tích thống kê trên số liệu từ bản danh sách này sẽ có nhiều đặc điểm thú vị: ví dụ như có thể thống kê theo khu vực ngành nghề, nơi sống, giới tính. Thử lướt qua thì tôi có mấy nhận xét:

- Ở lần 1 nếu tính riêng trong nước thì các trí thức ở HN chiếm ưu thế. Nhưng những lần sau khi danh sách mở rộng ra thì số người ở khu vực phía Nam nhiều hơn hẳn.

- Trong danh sách thấy sự chênh lệch tuyệt đối giữa các thành phần chức sắc tôn giáo. Hình như chỉ có 1 đại diện cho PG có tên trong danh sách (tôi xem lướt).

- Ở bản danh sách lần trước những người chủ trương thông báo không ghi danh những người chưa đủ 18 tuổi (quyền công dân?) nhưng ở bản cập nhật mới nhất lại có rất nhiều tên học sinh và thầy giáo cùng 1 trường THPT. Cho thấy đội ngũ của diễn đàn này chưa chặt chẽ lắm trong quản lý thông tin. Hẳn cũng có mối liên hệ ảnh hưởng giữa việc thầy và trò cùng ký tên. Không biết liệu có dẫn đến một vụ giống như trong Quảng Nam (sa thải cô giáo vì tuyên truyền nội dung không chính thống)?

- Tôi nghĩ đến một tình huống: nếu những người chủ trương diễn đàn vận động được chữ ký của những đại diện có uy tín khác như của cụ Giáp*, các cựu chính khách, tướng lĩnh...vốn đã phát biểu ý kiến...vv...thì bối cảnh sẽ như thế nào? Lợi hay hại cho toàn cục?


Rõ ràng việc lựa chọn tham gia hay không tham gia (khi có thể lựa chọn) vào danh sách này đặt mỗi người vào một tình thế chính trị. "...Đối với 1 vấn đề xã hội, một khi vấn đề đã được xác định thì không có hành động gì cũng đã là một hành động. Mưu toan che giấu nó bằng những tranh biện giả triết học hay những vấn đề thực tế đều là sự đánh lừa mà thôi." (Các phương pháp QHĐT, Que sais je?, Jean-Paul Lacaze)**.
------------

(*)-Chuyện này mà thử đặt trong viễn cảnh 1, 2 năm nữa cụ đi theo cụ Hồ thì hẳn là một sự kiện chấn động đại cục!
(**)-Một bài liên quan.