Hiển thị các bài đăng có nhãn Francois Jullien. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Francois Jullien. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020

Thệ giả như tư phù

...
Mắt em còn mỏi không 8 tiếng nhìn màn hình
Những tối đi về đơn độc, em thấy lòng mình lặng thinh?
Và đừng để đời chỉ là những chuỗi ngày được chấm công
Miệng cười như nắng hạ, nhưng trong lòng thì chớm đông
Nếu mà mệt quá, giữa thành phố sống chồng lên nhau
Cùng lắm thì mình về quê, mình nuôi cá và trồng thêm rau
(Đen Vâu)

Mọi người thường nhủ thầm sẽ cố gắng vài năm nữa, rồi sẽ thu xếp cuộc sống theo ý mình, ý nghĩa hay ho hơn. Và sẽ dành thêm thời gian đọc sách. Nhưng có thật thế không, hay điều đó chỉ là một cách hợp lí hóa tình huống hiện trạng, giúp bản thân qua được mỗi từng ngày từng ngày qua?

Đọc để biết thì nói chung biết nhiều cũng có điểm tốt, nhưng nhiều quá thì cũng chưa chắc tốt. Nên hồi trẻ thì đọc càng nhiều càng tốt, đọc cách đọc nữa. Lớn dần lên thì chọn lọc dần hơn. Chọn lọc thế nào thì nên học thông hiểu truyền thông ^^ Vì có thể chọn lọc nên cơ bản có thời gian thì đọc, ít đọc cũng mấy ai nói gì mình, nhất là trong thời đại google này.

Đọc để làm, phục vụ công việc thì không bao giờ thừa. Nhất là góc độ có thể lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm nghiệm cái mình đã đọc. Trải nghiệm được từ cái chung đến cái riêng biệt đa dạng của cuộc sống và thế giới. Nhưng không phải công việc nào cũng luôn luôn đòi hỏi quá thường xuyên sự tăng bổ kiến thức nên khi đạt một chuẩn rồi chỉ cần có thời gian thì đọc là được. Chưa đọc chưa chết ai.

Đọc để có thể hiểu người khác, thông cảm và cộng tác được với nhau, và hơn thế, để có thể lịch luyện những tình huống nhân sinh lạ lùng nhất - đọc văn chương là gần với chuyện này nhất. Nhưng con người đến một mức độ nhất định cũng kh
ông dễ mà nhận ra những gì mới mẻ hơn nữa. Cuộc sống phong phú cũng nhiều điều để trực tiếp trải nghiệm nên đọc kiểu này cũng có thời gian đọc là được rồi.

Cả ba kiểu đọc trên đều có điểm chung là hướng ra ngoài, có manh mối cụ thể để nắm bắt và đo đếm. Nhưng còn một kiểu đọc khác không thuộc về phân loại này, đó là đọc như là một hình thức của suy tư.

Đọc để trở thành, để khai phát trong dò dẫm cái khả thể toàn vẹn của nhân tính mình trước/trong Tồn tại. Điệu lối đọc như thể suy tư này có nguồn cơn từ mối bận tâm thường trực của nội tâm - một sự ưu tư vào trong, không liên hệ với những giá trị thực dụng của ngoại giới. Khi diễn giải Luận ngữ, Francoise Jullien có một ghi chú rất hay về sự phân biệt giữa "Ưu" và ''Hoạn". Ưu là nỗi lo lắng nội tâm. Hoạn là nỗi lo xoay xở đến từ cuộc đời, chỉ liên quan đến phúc lợi bên ngoài. Vì như vậy nên suy tư chỉ có và chỉ khởi lên từ mối ưu tư thường trực nội tâm.

Bạn thấy mình không ổn? Chính mối ưu tư đang thúc giục bạn đấy. Bạn có suy tư vậy thì bạn ổn. Bạn bỏ lơ, lấp liếm, tự lừa dối mình trước mối ưu tư thì mới không ổn. Đọc theo điệu lối này không bao giờ là đủ, không thể ngừng nghỉ được. Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ. Đạo không ngưng nghỉ, tồn tại vẫn ở đó nhưng từng bước dò dẫm tìm về, tiến gần hơn đến với tồn tại thì cần sự suy tư không mỏi mệt. Đọc như thế sao chờ nhàn rỗi được? Suy tư sao để vài năm nữa mới suy tư được? Ở đầu kia của sự thiếu vắng suy tư là vô tri. Thoát được vô tri đối với đa số là một may mắn. Nhưng đi ra vô tri là thuyền ngược dòng nước xiết: không tiến được tức là lùi đấy.





Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

Song thoại đối chiếu. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải

1.
Titi: Trong cơ quan nhà nước như bên chị, mục tiêu chính của truyền thông không phải sự thật, không phải sự công bằng mà là tôn vinh sự ổn định, lấy sự an toàn lên hàng đầu. Người làm an toàn, xã hội an toàn... đó là mục tiêu rõ ràng và rất xác đáng. (Nghe có vẻ không fair nhưng chị cá là chẳng có đài TH nào trên thế giới dám khẳng định tôi đưa 100% sự thật, tất cả các đơn vị truyền thông mang tầm chính phủ đều có những thế lực ngầm chỉ đạo và phải phục vụ cho thế lực ấy.) 

Mục tiêu thì tốt nhưng vì ở thế độc tôn, không có mấy cạnh tranh và có khá nhiều cái đầu củ chuối ở đây nên nhiều khi tác dụng ngược :-(( Đau khổ thay !


Điều này (sự an toàn) cũng chính là điểm khởi đầu trong bài đầu tiên khi em dẫn FJ ở mục 3 ("phải tỏ ra hoàn toàn thống nhất và đồng thuận; kết quả là, (...) tất cả những sự thay đổi đường hướng phải được cân nhắc, vòng rào thật kín, trùm lên tính liên tục của lời lẽ những công thức. Một thứ diễn ngôn hầu như mờ đục...") để đánh dấu sự khác biệt: trước hết là ở cấu trúc chính trị - xã hội (và dần dần về sau sẽ là hệ hình tư duy, lựa chọn khác của nền văn hóa...). Cũng là lý do của loạt bài này, thử nghiệm cố gắng đi lên về phía thượng nguồn của các lựa chọn, để tránh đơn giản hóa sự khác biệt của các xã hội vào trình độ phát triển.

Việc so sánh ngoại suy với các nước khác theo em tính thuyết phục là yếu :) Vì mình đâu có so với BTT, mình chỉ hàm ý những nước phát triển (về kinh tế/văn hóa?) hơn nó cũng thế. Nhưng chuyện này sẽ đi quá xa nếu bàn rẽ nhánh này. Do đó ở bài 1 (Trứng luộc dầm nước mắm), sau khi đồng thuận rằng lá cải là phân kỳ tất yếu đầu tiên của xã hội VN thì em  chỉ thử tìm xem có những chỉ dấu tích cực nào không? Nếu có thì đó là do ăn may hay là có một khả năng tiềm tàng khác của truyền thông "mới" ở VN? Ngoài ra em cũng nêu giả định rằng sự khác biệt xét về văn hóa và hệ hình tư tưởng còn có tính chất quan trọng và sẽ tác động tới chiến lược thay đổi ở xã hội VN về phía hiện đại hóa. Tức là nó sẽ theo kiểu đối thoại tương liên chăng?

Nhân tiện rà lại, bài viết thứ 2 (Bùng nổ và biến đổi khôn lường), dựa vào bài dịch của anh Gauxx, em tìm hiểu vào góc độ nhóm xã hội và cơ hội của internet. Trong đó xét vai trò trí thức, giả định của em không tập trung theo góc độ phản biện mà dưới chủ đề dẫn nhập văn hóa và tư tưởng hiện đại. Xuất phát từ cái nhìn tương liên, và từ vai công chúng, em cho rằng nó phải theo kiểu hơi hơi bottom-up (theo cách nói của anh Gauxx). Những ý này được so sánh và có vẻ tương đồng với cách-nói-chuyện của anh Gauxx. Đặc biệt là tiềm tàng ý niệm về so sánh đối chiếu giữa ý thức cá nhân và đám đông, trong đó là vấn đề cơ chế đối với cá nhân có khác với đám đông không?

Khi anh Gauxx phê phán ý tưởng sử dụng xã hội học của ED để tiếp cận vấn đề, trong bài 3 (Quên đi và yên nghỉ), em cho rằng đấy không phải lỗi của nhân dân đại chúng chăm học là em, và do vậy với internet, cần đẩy mạnh vai trò của dẫn nhập văn hóa có tính thực hành phê phán trong từng cas văn hóa đại chúng. Và hiện tại thì cách làm ấy theo em chưa có chiến lược hiệu quả lắm. Nó thiếu cái giá đỡ triết học mà đổ cho sụp đổ đại tự sự của hậu hiện đại thì làm biếng không chuẩn. Anh Gauxx có chìa thêm ra món network society, em thấy có vẻ hay nhưng không thao tác được gì.

Thời may, nhân tiểu luận của CT về triết học Gadamer, trong bài 4 (Cấu trúc 1 trò chuyện) em có thể nương theo để đoán nhận những yếu tố chính của cách tiếp cận đối thoại tương liên. Nó bao quát từ liên cá nhân đến liên văn hóa. Đến đây câu chuyện tạm ngơi ra vì anh Gauxx chưa bổ sung những điểm phê phán tiếp cận văn hóa. Chưa rõ là đến thế này thì chính là CS của ảnh chưa, phê phán cái gì ở đâu, đối chiếu bằng cái gì nữa :P Tuy vậy, nhân dân là em thấy thế là dùng tốt rồi nên đề xuất áp dụng thử luôn cho mô hình nhóm nhỏ ^^ Xét ra, trong cas nhân dân quần chúng là em đây mà mô hình chạy không tốt thì mở rộng ra về mặt ý tưởng có thể hay nhưng kỹ thuật thì như thế nào đây?

Vì vậy, trong bài 5 (Ký hiệu - Tín hiệu - Chỉ hiệu), em thử phác thảo ra một số đặc điểm kỹ thuật của đối thoại tương liên theo kiểu hiểu của em. Cái này em không định nghĩa ngay mà chồng nhiều ý niệm lên để ngắm nghía: đối thoại tương liên, hội thoại tranh luận, song thoại đối chiếu...Ý niệm chính là hướng về cách em hiểu về phương pháp của FJ sử dụng trong triết học (điểm tinh tế, nếu quay sang bắt ông kết luận sẽ khác nhiều), và lập trường là đứng vai xóm Đông để cãi xóm Đoài. Món đầu tiên xóm Đông xài là kỹ thuật ghi chép tiến trình tư duy kiểu bản đồ. Món này hàng nhà tự chế, dùng cho trường hợp sinh ở nông thôn, bố mẹ là nhân dân. Tuy nhiên nó đang tỏ ra khá tương thích khi có một anh giai xóm Đoài nào thảo tính ^^

Sự khác biệt đầu tiên là không trừu xuất tri thức khỏi cá nhân. (Trước tác lưu danh thiên hạ dị/Dĩ thân vi giáo thế gian nan). Hướng đến sự hiểu người khác, cái khác (để sau xem có bàn đến nổi sự ngộ không). Đây đó đã lấp ló sự so sánh nguyên tắc khoan dung của sự hiểu với thái độ luận chiến của trí thức truy tầm mục tiêu nhận thức (sẽ viết dưới đây) mà nhờ sự tham gia của bạn NL bổ sung vào. (Đấy các bác thấy chưa, em chăm học mà ^^).

Đặc điểm kỹ thuật thứ hai chính là thực hành ngay bằng chính toàn bộ hội thoại này (giờ có 4 người và ít nhất 1 quan sát viên thầm lặng ^^). Trong một ý thức phản tư ráo riết, một diễn ngôn về tính hiện đại phải được trình bày một cách hiện đại tận căn, đúng không bạn M ^^

Như vậy, sau bài thứ 6 có tính minh họa này, sẽ chỉ cần thêm 1 bài nữa là gói được 1 cấu trúc. Sẽ ngây thơ nếu nghĩ nó sẽ đem lại 1 ý tưởng cụ thể. Nó chỉ phác họa ra một ý hướng để tìm tòi, tuy vậy, em nghĩ nó gợi cảm hứng về phía thái độ ý thức và có cái để bàn tiếp. Điểm đáng giá của nó là chứng minh rằng làm việc với đại chúng nó khó thế nào về mặt kỹ thuật, chứ chả nhẽ bàn chuyện đời mình mà đụng lĩnh vực nào cũng phải làm học giả, tiến sỹ mới sống được à? Chả có nhẽ (@ Chu Văn Quềnh) :P

2.
NL: khi ta đã có chút độ lùi thời gian, việc nhìn vào văn chương trong liên quan với vị thế tác giả (ở mặt chính trị) trở nên vô cùng kỳ lạ: có vẻ như là các nhà văn đậm mùi chính trị (hiểu đơn giản là nhà văn khuynh tả thành thực) bỗng mất hết phép mầu: ví dụ lớn là Jean-Paul Sartre và Mario Vargas Llosa; ở Việt Nam cũng vậy, cái này thì hẳn các bác ai cũng tự có ví dụ riêng rồi :p vấn đề là tại sao như vậy? tôi tin không đơn giản là vì họ đã hết "mốt", rằng cái ideology mà họ ủng hộ đã lỗi thời, mà còn là cái gì đó nữa, một tương liên hỏng giữa chính trị và văn chương (nhìn chung là khó diễn tả)


"phép mầu" - Ngay lập tức tôi liên tưởng trong cách diễn đạt này có điểm tương đồng kỳ lạ với cái không khí sôi động lôi cuốn của những trận đấu vật mà R.Barthes đã mô tả trong bài "Nơi người ta đấu vật" - Những huyền thoại. Đây theo tôi cũng là đặc điểm quan trọng khi nói về truyền thông: bị thao túng và chống bị thao túng (media literacy). Câu hỏi tự nhiên sẽ bật ra là: ở giữa chính trị và văn chương - điều gì đã thực sự xảy ra? Có ngầm ẩn một cơ chế nào không? Tôi cho là có một cơ chế như vậy trên bình diện đại chúng, với đám đông.

Tuy nhiên cứ thong thả mà nói, cũng phải làm rõ chuyện "mất hết phép màu" này là đối với ai? Đối với lứa hậu sinh thì là dễ hiểu vì họ có thời sự khác, thần tượng khác. Còn đối với độc giả cũ (gồm cả những tâm thế hoài cố - tín nhi hiếu cổ) thì chẳng những tác giả thay đổi mà chính họ cũng thay đổi cùng một thời đại cũng đã thay đổi. Những thanh niên hippie rồi cũng già, có con cái, muốn ổn định hơn, trở nên bảo thủ hơn là điều dễ hiểu. (Chưa kể cánh tả phần nhiều là ảo tưởng, lol). 

Nhưng có thể bỏ qua nhánh này để bàn vào một góc độ cốt yếu hơn, liên quan đến cái cơ chế một mặt hấp dẫn công chúng, mặt kia, qua đó mê hoặc và thao túng họ. Theo đó, ta có thể thử làm một khảo sát thô về mối quan hệ (tác giả-độc giả)/thời đại trong mối liên hệ (chính trị - văn chương).

- Khi xét vị thế chính trị của một nhà văn khuynh tả thành thực, theo một lối quy nạp tương đồng, ngay lập tức với tôi điều đó có nghĩa là đấu tranh/chia phe/luận chiến - theo cái nghĩa tích cực là con đường của lý thuyết, của nhận thức luận. “điều thực sự làm nên đặc tính của lí thuyết, đó là cái gì ngược hẳn lại sự chiết trung, đó là sự dấn thân của nó, là vis polemica của nó” (NLLT)

- Những đặc điểm đó khiến tôi liên hệ đến kịch tính/tính kịch khi nhìn nhận mối liên hệ giữa tác giả/tác phẩm với công chúng trong những nhận xét về kịch (bi kịch) của Aristote trong tập "Nghệ thuật thy/thơ ca" - chả hiểu sao phải thêm chữ "thy". Khi bàn về thi pháp của kịch, Aristote đã diễn đạt những tiêu chuẩn để hấp dẫn công chúng dựa vào một cơ chế của nhận thức của đám đông về vở kịch. (Đây là một nhánh hứng thú của tôi, về cơ chế thao túng tâm trí, khi mở rộng cho kịch, phim, phim ngắn, truyện kiếm hiệp - một số đã rải rác trong blog này).

Có thể còn phải nói lại cho rõ hơn, nhưng những nguyên tắc mà Aristote đề cập đến vẫn còn có thể đọc lại từ một góc khác trong bài về đấu vật của R.Barthes. Mà R.B lại chính là một đối tượng của câu chuyện này.

- Bằng cách nói cái gì thích hợp và không thích hợp, có thể nhận thấy những đặc điểm chính về những tiêu chuẩn, tính mục đích của kịch theo Aristote. Kịch mô phỏng hành động, theo lối cường điệu, làm nổi bật góc độ tính cách trên nền bình thường nhập nhoạng của đời sống. Dồn nén trong một quy mô ngày thường (1 ngày), để khán giả dễ nắm bắt, nhận ra những biểu tượng, khơi gợi cảm xúc (những cảm xúc được lựa chọn theo thể loại) để từ đó thanh tẩy (thanh lọc) tâm hồn.

Có thể mở rộng cho cả văn chương (thời đó tất cả 1 rọ) như phân tích của phần phụ lục cuối tác phẩm của 1 nhà nghiên cứu: trong khi triết học là về cái chung thì văn chương là dùng cái chung để mô tả những cái duy nhất, để dẫn dắt, khơi gợi nơi độc giả trải nghiệm về những cái có thể xảy ra (cũng như Aristote đã nóiKhông phải nói về cái thực sự có thể xảy ra - nói về cái có thể xảy ra). (Hy vọng điều này cũng góp phần vào câu chuyện "học văn để làm gì" của bạn TNH).

Những đặc điểm làm ra sự lôi cuốn, hợp thức của 1 vở kịch, theo Aristote, như vậy là quy mô của sự kiện, tính biểu tượng thông qua sự cường điệu (lên trên bình diện người thường, đời thường), đối chiếu đến những giá trị, dựa trên những cảm xúc rõ ràng, cường độ cao, qua tính bất ngờ, tính nhân quả tự nhiên (giống như thực) của những sự kiện. (Tôi còn nhớ có đọc đâu đó về những mối liên hệ đến khả năng nghe rõ, nhìn rõ trong bối cảnh những buổi diễn kịch ngoài trời ở Hy lạp cổ đại).

- Có 1 điều gì đó quen thuộc, tương đồng với lối tư tưởng của phương Tây - Hy lạp, trong cách trừu xuất những ý niệm/khái niệm lên bình diện siêu hình (cái này phải để viện dẫn FJ sau cho rõ ràng) bên trên bề mặt của thực tại.

Cũng vậy, ta sẽ thấy điểm tương đồng đó trong những phân tích của R.Barthes về những đặc điểm được ưa chuộng của công chúng trong 1 buổi đấu vật trình diễn: khoảnh khắc, sự trọn vẹn của hành động, cái bề mặt (nó cũng chính là cái được cường điệu để tượng trưng), sự thanh lọc từng cảm xúc rõ ràng qua kịch tính và cao trào.

- Qua hai câu chuyện song song này chúng ta có thể rút ra vài đặc điểm cốt yếu đã thu hút sự say mê náo động của công chúng (cái phép mầu ấy): kịch tính, sự cường điệu, bất ngờ, quy mô của chủ đề/sự kiện, tính đơn giản bề mặt có thể nắm bắt, có thể nhận thức được. Giống như việc trừu xuất lên bình diện siêu hình của những ý niệm giúp ta nhận_thức về thế giới toàn triệt, đối đầu với nghi ngẫu và bất an của đời thường. Kịch giúp công chúng nhìn thấy được những ý niệm rõ ràng về thế giới (hoặc tốt hơn, hoặc xấu hơn, nếu giống chúng ta thì gặp chẳng may - những đối tượng của bi kịch). Cao trào của cảm xúc, cái mãnh liệt, rõ ràng của nó, trong cảm thức cộng thông chia sẻ của đám đông có tính chất an thần rất tốt cho tâm trí - để chống lại cái nghi ngẫu bất an của đời thường, ngày thường, của số phận.

- Quay lại những nhà văn khuynh tả thành thực, đương thời họ đã đóng vai gì trong cái cơ chế tương liên giữa họ/tác phẩm của họ với công chúng trên nền thời sự chính trị của thời đại đó? Ví như R.Barthes, qua tập Những huyền thoại, đã vô tình đóng vai nào trong vở kịch lớn đó?

Sự giải huyền mang màu sắc tri thức của giải cấu trúc luận thực tế cũng đã đóng vai trò trừu xuất thực tại hỗn độn lên một bình diện của những ý niệm mới. Nơi đó công chúng được trải nghiệm nhận thức (theo một lối mới) để đến với những ý niệm mới, rõ-ràng-hơn-xưa. Vị thế chính trị khiến họ được chọn phe để thông qua đấu tranh chính trị (ý niệm chính trị như là cái ý thức về quyền tự do lựa chọn sống của cá nhân khi đối diện với hiện thực đời thường phức tạp và đè bẹp cá nhân tính) đạt tới 1 kịch tính từ đó thanh lọc cảm xúc, để cái đời thường bất an từ bản chất trở nên có thể chịu đựng được. (Cái đời thường thời Chiến tranh lạnh, của nguy cơ chiến tranh hạt nhân, lại càng dễ diễn giải).

Những chủ đề nho nhỏ, đa dạng, góc này góc kia, vốn dĩ rất đời thường, bỗng nổi bật lên từng hôm theo tuần báo, đã đáp ứng được yêu cầu về sự đa dạng của những cái duy nhất (từ một cái chung phương pháp luận và quan điểm phê phán) với quy mô vừa độ nhận thức của công chúng, đáp ứng hoàn hảo những yêu cầu của sự hấp dẫn hợp quy luật nhận thức của một vở kịch cổ điển như Aristote từng đề ra.

Cái tác dụng an thần xuất phát từ đặc tính đa dạng phong phú của những cái duy nhất có tính nghiệm sinh này do đó một mặt là có thể hiểu được, một mặt sẽ bị giới hạn bởi chính tính duy nhất của nó. Chúng ta không thể xem đi xem lại 1 vở kịch mà không thấy chán. Cũng vậy, nếu khổ đế xây dựng từ cảm thức bất an, cũng như E.Fromm phân tích trong Phân tâm học và Tình yêu, cái gì nếu không được giải quyết tận căn để thì chỉ có tính chất giả tạm, và do đó giống như ma túy, nó đòi hỏi sự lặp lại với cường độ cao hơn, và không bền vững. Ở đây sự giả tạm của văn chương giải cấu trúc luận chính là ở sự thiếu triệt để của nó. Nó sẽ bị phê phán để vượt qua và đi tiếp. Cũng có thể nói đơn giản hơn ở bình diện cá nhân, chỉ có ý thức phản tư rốt ráo là cái còn lại để bàn tiếp. Mọi cái khác đều cần bị vượt qua.
-------------
(Ở bài khác, ta sẽ thử nhìn đối chiếu từ góc độ của sự hiểu/nguyên tắc khoan dung như là điểm đối chiếu với thái độ luận chiến của lý thuyết xem những vấn đề này sẽ đi đến đâu).

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

Cấu trúc 1 trò chuyện. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải

Đã lập ý cho bài này nhưng viết lại sau khi đọc được tiểu luận Gadamer và khoa học nhân văn, (hay làm thế nào để hiểu người/cái khác) của Charles Taylor (Như Huy dịch).


-------------


1.
Trong phần trước, khi nhắc câu slogan của HSBC, tôi có ý hướng gợi đến nhánh câu chuyện: đa văn hóa, dịch văn hóa, giải cấu trúc - vốn dĩ sẽ là một hệ quả hợp lý của diễn biến câu chuyện phải bàn đến. Vì nói đến truyền thông là nói đến tương quan xã hội, liên cá nhân. Khi bàn chuyện dịch chuyển giữa các trình độ phát triển của xã hội thì sẽ phải bàn đến sự qua lại giữa các mô hình xã hội, các hệ hình văn hóa khác nhau. Và một thuyết về liên văn hóa (hoặc chừng sẽ là 1 khả thể khác) cũng sẽ phải dành vị trí cho mối quan hệ liên cá nhân.


Thời may, bài tiểu luận về lý thuyết (triết học) của Gadamer đã giúp tôi có thể kết nối mạch lạc lại tất cả những điểm quan trọng rời rạc mà tôi đã đánh dấu trên bản đồ nhận thức của mình về một số chủ đề mà tôi quan tâm; trong đó câu chuyện về truyền thông này là một nhánh thử nghiệm.


2.
Các kiến thức, tác giả tôi đề cập trong mấy bài liền đây đều có 1 đặc điểm: chúng rời rạc, chắp vá, không đều và không hề do 1 ý thức nghiên cứu hệ thống chuyên sâu tổ chức. Nhưng chúng đã có được vẻ liền lạc, sống động và chính những độ chênh lại tạo ra thế năng cho tư tưởng chuyển động và kết nối. Thực tế đó là nhờ kết cấu của trò chuyện (đối thoại) mà ở đó sự phân vai người này/kẻ khác đã tạo ra được. Một cách vô tình, trò chuyện này đã có những đặc điểm căn bản của hành động tương liên mà anh Gauxx đề cập "khi mà những cuộc nói chuyện đặt trên nền tảng duy lý của sự tương hiểu/tương liên, chứ không phải duy lý vì một mục đích, mặc dù không phủ nhận hoàn toàn cái thứ hai". Cái nền tảng đạo đức diễn ngôn của Habermas có thể diễn dịch sang thành thiện chí đối thoại trong trò chuyện là điều hiển hiện giữa chúng tôi trong mấy ngày này. 


Điều này sẽ được rọi chiếu từ Gadamer khi đề cập đến việc làm sao để hiểu người/cái khác: Tuy nhiên, việc đạt tới một sự hiểu không bao giờ sở hữu đặc tính tối hậu này. Bởi một điều đơn giản, chúng ta luôn đạt tới một sự hiểu cùng với những người đối thoại được xác định cụ thể. Và những sự hiểu được đạt tới với những người đối thoại này sẽ không nhất thiết giúp được chúng ta khi chúng ta tìm cách hiểu những người đối thoại khác. Các sự hiểu của chúng ta đều phải phụ thuộc vào người tham gia đối thoại với chúng ta. Và thậm chí, còn phải tính đến việc, chính những người đối thoại cùng chúng ta có lẽ cũng không bất biến. Hoàn cảnh sống hay mục đích sống của họ có thể thay đổi, và sự hiểu trước đây của chúng ta về họ có thể bị đặt nghi vấn. Đúng là chúng ta cũng có thể chế ngự tình huống này bằng các thực hành như ràng buộc qua hợp đồng hay bản thỏa thuận, song điều này chỉ làm rõ hơn việc chúng ta đã ý thức hoàn toàn rằng những gì thiết cấu nên sự hiểu có tính đối ứng hoàn hảo và tự giác vào lúc này có thể sẽ không còn hiệu lực vào lúc khác.


3.
Điều hay ho của cấu trúc trò chuyện này (mà tôi sẽ từ từ dựng lại đặc trưng của nó) là dù từ xuất phát điểm nào, sự ý thức về việc đạt tới sự hiểu (lẫn nhau) cũng sẽ kết nối được một trật tự mới cho các tri thức đồng thời vẫn không làm tiêu biến vị trí lịch sử của nó (trong văn cảnh rộng lớn hoặc trong chính lịch sử của trò chuyện). Điểm đặc biệt là tôi vừa đọc xong bài tiểu luận của Charles Taylor (CT) tối nay, và tôi cũng chưa kịp tìm hiểu thêm gì về Gadamer nhưng tôi sẽ dùng nhiều cách diễn đạt từ bài tiểu luận này để cũng là minh họa luôn hai điểm quan trọng trong ý tưởng ban đầu  của tôi về cấu trúc đối thoại: đối thoại làm giàu cho mỗi bên và chỉ trong đối thoại sự biến đổi, cập nhật, hiểu biết hóa...mới diễn ra tự nhiên nhất - sẽ là liên tưởng của tôi về mô hình phát triển của xã hội như ở VN, điều mà anh Gauxx hẳn có ý ám chỉ về phát triển đi hai hàng. 


Có thể cho đến lúc này, nền tảng triết học của chúng tôi (trong tiềm tàng) không hẳn đã trùng nhau, nhưng nó có xu hướng hội tụ dần. Điều này sẽ rất thú vị nếu bạn biết tôi đủ lâu để hiểu là tôi chỉ xuất phát điểm từ một tâm thức rặt Á đông và không được trang bị hệ thống về tư tưởng hiện đại. Điều đó không ngăn cản dần dà tôi nhận thấy mẫu hình về những gì gọi là những người có một khung tâm thức hậu hiện đại. Như khi tôi bàn về Roland Barthes (RB), điều đáng ngạc nhiên là sự tương đồng gần như hội tụ trong cách đọc văn bản mà không cần gán thêm học thuyết nào ngoại trừ 1 vị thế lập trường ý hệ. Và như vậy dần dà tôi nghĩ đó là do có một khả thể nào đó về sự tương đồng ở thượng lưu giữa Đông và Tây, "chúng ta chia sẻ chung yếu tính con người (humaness)", về "một phương cách để ứng xử với cái thân phận làm người mà chúng ta cùng chia sẻ" (CT).


4.
Một cách tự phát, tôi cũng đã cho rằng một trò chuyện đúng nghĩa sẽ chỉ có thể là một đối thoại cẩn trọng giữa hai người. Mỗi khi xuất hiện thêm một người khác, chúng ta sẽ có cơ hội đồng thời tổ chức thành một tổ hợp của các nhóm đôi. Những biến dịch của các khả thể này sẽ đem lại thế năng và liên tục tương tác, biến dịch làm phong nhiêu bản ngã cho mỗi người. 


Ví như khi trao đổi với anh Gauxx về một chủ đề, tôi hoàn toàn có thể đồng thời một cách khác cũng cởi mở như thế, trao đổi với người thứ ba (^^) nương theo tri thức khác của họ (NL). Giữa hai tương quan kia sẽ lại thiết lập một tương quan mới đa bội và toàn bộ lịch sử trò chuyện này sẽ đem lại sự đào luyện lợi lạc cho tất cả những đối tác thiện chí. Và tất yếu, trong trường hợp cụ thể là ở blog này, với những người bạn mà tôi đã kết nối và chia sẻ nhiều năm, thiện chí là lợi thế mà chúng tôi không cần phải kêu gọi nữa. Sau nhiều năm online, cuối cùng tôi cũng hiểu ra được cách nào thì sẽ vượt qua được sự phân biệt on/offline mà được ích lợi nhất - cho nhau.


5.
@Gauxx: Khi nhắc đến E.Durkheim, thực tế em còn đang đọc dở. Nhưng nếu không đem ra vứt bừa vào đấy ngay (kiểu cao thủ cái gì cũng là vũ khí ấy mà ^^) thì công đâu mà học thuộc hết tri thức nhân loại được (lol). Và không đợi anh giải thích thì vừa may đã có CT nói về điều đó: Gadamer không tin rằng, trong các vấn đề thuộc con người, thậm chí chỉ là về mặt nguyên tắc, người ta có thể đạt tới một kiểu nhận thức tạo ra được sự chế ngự hoàn toàn về mặt trí tuệ đối với đối tượng được nhận thức. Có lẽ có thể mơ tưởng về điều này trong bộ môn vật lý học phân tử, thậm chí có thể xác lập nó như một trong các mục đích của bộ môn ấy, song điều này sẽ là bất khả khi đối với sự hiểu về con người.


Tự nhiên em hiểu ngay ngữ cảnh mà anh phản bác trích dẫn ED và đề cập đến network society. Và lúc nào bàn đến đó, tự nhiên em đã có cái thế năng để mà thao tác, bất chấp anh có biết đến Gadamer hay không trong mạch lạc của mình :)


Và việc Habermas cho rằng "những quốc gia không giao tiếp theo kiểu communicative action là những quốc gia không biết giao tiếp" liệu có phải là một uyển ngữ thay vì là một khúc mắc rơi về cái nhìn của thuyết vị chủng? Việc này rõ ràng phải bổ sung dữ liệu và rọi chiếu tiếp (ví dụ chính là với tiểu luận của CT).


Và việc rẽ nhánh khi bàn về yếu tố power trong tương tác xã hội của Habermas liệu có thể bổ khuyết từ cái nhìn tận căn của nhánh Gadamer (em đồ là không chỉ mình ổng)?


"Ghép 3 ông trí thức thì sẽ ra 1 tờ báo" là một hướng. Nhưng tờ báo là đã hàm ý tương tác 1 chiều, trong khi ý tưởng xây dựng trò chuyện liên cá nhân sóng đôi mà em đang từ từ làm rõ ra nó có xu thế 2 chiều. Và nó mời gọi sự tham dự bình đẳng (nhưng khác biệt, thậm chí là những duy nhất) của mọi người. Tuy vậy trong đó vẫn hàm chứa xu hướng thiên về góc độ truyền thông - tức là thao tác trong khung tri thức đại chúng, ở giữa, hơi hơi bottom-up (lol) hơn là kinh viện!


"mình cũng thích xài những thứ được mô hình hóa lắm, nhưng cuối cùng vẫn phải theo đuôi những người phê phán nguyên con modernisation." - Và cuối cùng thì cái câu này đã bị hấp thụ hết, hoàn toàn hiểu và đồng ý ngay về vấn đề anti mô hình hóa, xuất phát từ cách nhìn của Gadamer: 


Như vậy, cho tới giờ, ta đã biết rằng sự hiểu có ba đặc trưng: 1/ tính hai chiều, 2/ tính phụ thuộc vào kẻ đối thoại cùng, và 3/ tính chất mở ngỏ ra cho sự hiệu chỉnh. Các đặc trưng này hoàn toàn không thích hợp với mô hình nhận thức đối tượng theo lối cổ điển. Phản ứng triết học “chuẩn định” của chúng ta đối với các đặc trưng này cũng hoàn toàn tương tự. Các đặc trưng ấy hoàn toàn không thích hợp với nhận thức, tức sẽ không thể thích hợp với ”khoa học” thực sự. [Với môn khoa học về nhận thức-ND] nội dung của nhận thức không nên biến thiên theo mỗi kẻ truy tầm nhận thức khác nhau; nó không thể là điều gì [mà độ khả tín lại-ND] phụ thuộc vào các bên tham dự. Kẻ truy tầm nhận thức đích thực sẽ không bao giờ thay đổi mục đích của hắn, chứ đừng nói là có sự thỏa hiệp nào ở đây. Sự phụ thuộc vào các bên liên quan cũng như các mục đích bị thay đổi thích hợp được với sự hiểu, chính xác là bởi chúng tái hiện điều gì đó hoàn toàn khác với nhận thức; sự đạt tới đồng thuận, và việc đạt tới sự thật tối hậu là các cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau. Ta không nên lẫn lộn giữa hai cách tiếp cận này, cũng như không nên liều mạng thử tìm cách hạ giá lối tiếp cận khoa học. 


6.
@NL: Từ vai thứ 3, hẳn bác đã nhận ra những dụng ý của tôi trong thiết kế của chuỗi trò chuyện này. Trong chuyện dẫn nhập văn hóa mà không mời được những nhân vật như bác thì sẽ thật là phí phạm tài nguyên internet :P


Thực tế lúc viết chữ giới thiệu VH là tôi đã có sự ngập ngừng (nên nhập nhằng viết tắt), nhưng chấp nhận viết bừa như thế để mở ngõ câu chuyện của bác về lập ý trong mảng này.Cũng như anh Gauxx dẫn lại, tôi cũng nhận ra rất rõ sự dùng dằng "mắc vào nhận thức" của bác. Ngẫu nhiên trong mạch chuyện liên quan đến Gadamer này, tôi nghĩ có một hướng kỹ thuật tránh được việc phải lựa chọn mà vẫn có tiến hóa cho bản ngã tri thức của người viết. Nó liên quan đến ý tưởng về cấu trúc trò chuyện này. Khi đó ta coi mỗi lựa chọn là một kẻ khác để đối thoại và để hướng tới sự hiểu.


"Lý lẽ của Gadamer trong Sự thật và Phương Pháp đã ứng xử với sự hiểu của chúng ta đối với truyền thống của chính chúng ta, tức lịch sử văn minh của chúng ta, và các văn bản và biến cố thuộc về nó. Điều này có nghĩa rằng những gì chúng ta nghiên cứu sẽ bằng cách này hay cách khác nằm chính trong bản sắc của chúng ta. Thậm chí cả ở các công trình khi chúng ta định nghĩa bản thân mình chống lại các đặc trưng nào đó của quá khứ, như thời Khai minh hiện đại chống lại thời Trung cổ, thì thời Trung cổ ấy vẫn thuộc về bản sắc của chúng ta như thể một cực phủ định, tức điều chúng ta sẽ vượt qua hay thoát khỏi. Chúng ta là bộ phận của cái “lịch sử tạo hiệu lực” (Wirkungsgeschicte) và do đó, lịch sử ấy cũng tạo hiệu lực lên chúng ta [ Note: Nói vắn tắt, theo Gadamer, lịch sử tạo hiệu lực là dạng lịch sử mà ở đó bao gồm cả chính lịch sử của sự nghiên cứu lịch sử của chúng ta, tức những gì tạo ra thói quen, văn hóa và truyền thống hiểu lịch sử của chúng ta, và lẽ dĩ nhiên sẽ tạo hiệu lực, hay làm nên, một cách vô thức, hoặc ý thức lên cách nhìn nhận thực tại của chúng ta, và thậm chí cả chính chúng ta, trong hiện tại-ND]"


Về "Những huyền thoại" của RB: chính kiểu bàn nghiêng, bạn NL ở vai thứ 3, đã dẫn dắt câu chuyện đến đây - điểm hiệu chỉnh và đổi hướng. Một mặt tôi ước lượng (vì có thể trong chuyên ngành văn chương điều này lại khá cũ kỹ và hiển nhiên) rằng khi phải từ bỏ tư thế chính trị rõ ràng (điểm tựa lý thuyết, vị thế phát ngôn) thì có thể xoay sang cấu trúc kỹ thuật trò chuyện để đảm bảo cho mọi khả thể đều trở lên phong nhiêu :)


Có thể dù không đọc bài bản về Ký hiệu học nhưng do tôi là người đọc nhiều về Tâm phân học nên quen với cấu trúc của biểu tượng, có thể còn vì tôi là người thiết kế không gian, nên chuyện chuỗi lớp phối cảnh, nhịp điệu, tiết tấu, bố cục là cái dễ nhận ra trước. Và cũng có thể chịu ảnh hưởng của Francoise Jullien nên tôi đã quen cách đọc ký hiệu. Tất cả những điều đó làm cho việc đọc "Những huyền thoại" phần ký hiệu cấu trúc là rất tự nhiên với tôi. 


Nhưng nói vậy thì cũng vẫn có nghĩa là tôi hoàn toàn chia sẻ những đánh giá rằng "nó tươi mới, nhiều bất ngờ...ít xảo thuật trí thức". Chỉ là tôi đã vừa đẩy câu chuyển lên 1 nhịp để lấy lại thế năng rồi ^^

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

Trứng luộc dầm nước mắm. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải

1.
Trong bài dẫn nhập về Media của mình, tiến sỹ Gấu (^^) ở phần kết luận có bàn xoay xung quanh vấn đề "sự lũng đoạn của lá cải": (a) sự lũng đoạn của lá cải trong thời điểm hiện tại phản ánh sự bất bình thường của mối quan hệ cấu trúc xã hội-truyền thông-công chúng; (b) ở cấp độ thượng tầng, về mặt chính trị nó tiết lộ hoặc là sự lúng túng, hoặc là sự vô trách nhiệm, hoặc tệ hơn là sự chi phối của quyền lực bè phái, nhưng tệ nhất là sai lỗi của bản thân hệ thống; về mặt xã hội nó cũng cho thấy tình trạng nhiễu nhương kiểu "xin hãy nhìn mớ gai chằng chịt này".

Vì thiếu căn bản nền tảng lý thuyết về media nên thay vì triển khai bàn thảo vào luận điểm, tôi thử đi vòng theo cách tiếp cận nôm na của mình về báo chí lá cải Việt Nam xem có nảy ra được ý gì liên quan đến nhận xét trên hay không.

2.
Trong chương VI của cuốn Đường vòng và lối vào của Francois Jullien - Bất đồng ý kiến là chuyện không thể (hệ tư tưởng của lối diễn đạt vòng vo) - trái với sự khúc khuỷu thông thường của văn phong triết học, có bàn một mạch về mặt trái của nghệ thuật vòng vo (vốn là 1 lựa chọn chiến lược từ thượng lưu của 1 hệ hình tư duy khác với châu Âu) trên bình diện tư tưởng hệ trong sự đối chiếu giữa tư tưởng hệ phục tùng kiểu Trung Hoa với tư tưởng hệ điển hình của châu Âu.

Theo đó FJ nhận xét "vì không có khái niệm về chân lý giáo điều (không có định nghĩa chính thức về "chân lý" và áp đặt định nghĩa cho lương tâm để đảm bảo sự cứu rỗi); vì không có một tham chiếu nào khác để đối trị với mục tiêu chính trị, không có một hệ giá trị nào khác vượt ngoài được trật tự xã hội hiện hành, không có trật tự chính trị nào khác được..." nên mục tiêu đấu tranh "không dẫn tới các cuộc biện luận tranh cãi", "nó không dẫn tới các cuộc tranh luận trực diện, công khai mà chỉ là những cuộc tiếp cận dấu lén, đường đi vòng vo". Trong khi đó ở những nước như TQ (VN), liệu có thể bàn về một nền báo chí theo kiểu phương Tây trong một nền văn hóa thiếu vắng những cuộc biện luận, tranh cãi trực diện, công khai? Và do đó tiến trình phát triển của nền báo chí sẽ có những đặc điểm khác biệt với lịch sử báo chí (truyền thông) của phương Tây?

Ta thấy, bỏ qua vấn đề mối quan hệ nhân quả con gà quả trứng với thể chế chính trị, ở Trung Hoa, từ trong hệ hình tư tưởng đã có một lối tiếp cận khác, lựa chọn khác và do đó khi đối chiếu phương thức tổ chức xã hội của nó với cấu trúc xã hội phương Tây có sự không trùng khớp, gập gềnh căn bản. Nó dẫn tới nguy cơ giáo điều, sáo mòn trong việc áp dụng lý thuyết phương Tây vào thực tiễn xã hội Trung Hoa (mà Việt Nam có cùng văn cảnh tương đồng) - kiểu thước thẳng đo đường cong. Nhưng điều này không phải là để phủ nhận tiếp nhận tư tưởng học thuật mới mà là để vận dụng phù hợp hơn, thỏa đáng hơn trong tiếp cận phân tích những xã hội Á Đông chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa.

3.
Điểm thú vị là ngay chương đầu của cuốn sách bàn về những chiến lược ý nghĩa này có một ví dụ về cách đọc "những gì ở giữa những dòng chữ" trên Báo Bắc Kinh (Nhân dân nhật báo): "...sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản TQ và chính ngay nguyên lý bảo đảm tính chính thống của nó đòi hỏi diễn ngôn của những người lãnh đạo, mặc dù có những sự bất đồng ý kiến giữa họ, phải tỏ ra hoàn toàn thống nhất và đồng thuận; kết quả là, (...) tất cả những sự thay đổi đường hướng phải được cân nhắc, vòng rào thật kín, trùm lên tính liên tục của lời lẽ những công thức. Một thứ diễn ngôn hầu như mờ đục...". Có lẽ bác Đông A (blogger) chưa đọc những gì FJ viết nhưng thực tế cách bình luận chính trị trên blog này chính là một minh họa quen thuộc cho lối đọc báo (tin tức) Á Đông ở xã hội như VN, TQ. Ở đây có một hệ thống quy tắc nghệ thuật truyền thông, nghệ thuật đọc tín hiệu kiểu khác; và nó cũng là biểu hiện của một kiểu cơ chế xã hội khác với phương Tây.

Và hẳn là mối quan hệ cấu trúc xã hội-truyền thông-công chúng cũng sẽ có những đặc điểm khác. Khác với một phương Tây (châu Âu) của những Agora - quảng trường đô thị nhỏ Hy Lạp cổ đại- nơi sinh hoạt đời sống công cộng, nơi diễn ra những tranh biện, đấu khẩu. Nơi những vở hài kịch Agôn trình bày sự tranh cãi giữa hai nhân vật bảo vệ những luận điểm đối lập nhau. Nơi "người trí thức phải chăng là người đã khẳng định được tư tưởng của mình, đối diện với chính quyền, hay ít nhất là đã thoát khỏi được ít nhiều sự lệ thuộc đối với chính quyền, và đã phần nào giành được quyền ăn nói độc lập".

4.
"Các nhóm xã hội - Đảng phái - Diễn ngôn - Tự do - Cá nhân - Quyền lực của tiếng nói, nó giúp giải phóng con người, bởi vì nó phản đối". Nếu không có những thành tố ý niệm kia để thao tác thì liệu lý thuyết truyền thông phương Tây sẽ vận dụng như thế nào ở xã hội Á đông Trung Hoa?

Logic chủ yếu của tư tưởng Trung Hoa là có sự điều hòa tự nhiên. Tư tưởng hệ phục tùng với chiến lược truyền thông vòng vo, thích nghi với thực tế chính trị, và chỉ hiệu quả khi người nghe thực sự muốn nghe, thực sự quan tâm. Hậu quả là đối với chính quyền, không lời nói nào là vô thưởng vô phạt; và mục tiêu đấu tranh không phải là lý thuyết mà là cá nhân.

Nhưng chuyển động của các xã hội như VN về phía ảnh hưởng của hình thái xã hội tiến bộ phương Tây là tất yếu của lịch sử nên vấn đề chỉ là nó sẽ diễn ra như thế nào và tiếp biến như thế nào, trong bao lâu mà thôi. Ít nhất ở VN đã phải thừa nhận thực tế ưu thế của kinh tế thị trường với đặc điểm cốt yếu là đa dạng thành phần kinh tế và nguyên tắc tự do thương mại. Nhiều thành phần nhóm xã hội tự do là những yếu tố ý niệm nền tảng để hình thành xã hội hiện đại - và cũng là cái nền của báo chí truyền thông. ("Sự ra đời của báo chí, các câu lạc bộ đọc sách, các quán cà phê trong thế kỷ 18 báo hiệu sự suy tàn của nền văn hóa “nghi vệ” phong kiến, nhường chỗ cho nền văn hóa “công luận” mang tính phê phán và tự do tư tưởng" - Hiện đại thứ hai và nền văn hóa công luận. BVNS (http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/29436/).

Nếu như lịch sử báo chí phương Tây là từ nền tảng nhóm xã hội, diễn đàn của ý kiến, sự kiện, thông tin...trở thành nền truyền thông báo chí với những sản phẩm thị trường và tất yếu là sự hình thành của nhánh lá cải (feuille de choux) thì ở VN nền báo chí đối diện với tình thế nước đôi vừa cần bảo toàn hình thức chính thống, tính hiển nhiên, trong đồng thuận, là công cụ chính trị sở hữu dư luận vừa tiếp cận với nền kinh tế thị trường. Dưới những tiêu chuẩn kép đó, hiển nhiên thứ được ưu tiên của phân kỳ đầu tiên của tiến hóa báo chí cách mạng (^^) về phía thương mại hóa sẽ là những gì có thuộc tính gần với đại chúng (chỉ một công luận), đa tạp và vô hại, kích thích bản năng đám đông...Nơi người ta có thể chia phe nhóm và phán xét, tranh luận kịch liệt. Sự được phép này tương đồng với sự xuất hiện những vai hề dưới chính quyền đế quốc tập quyền như Đông Phương Sóc trong lịch sử.

5.
Thực ra thông qua các thần tượng đại chúng, vô tình báo lá cải cũng góp phần cổ vũ ý thức về cá nhân tính, cũng là cơ hội (một cách tiêu cực) từ khước quan tâm truyền thông chính trị giáo điều, cổ súy giá trị thương mại (dù chỉ là kiểu xã hội kim tiền). Nó cũng tạo ra, phân hóa nhóm công chúng (webtretho vs tathy); từ đó kiêm nhiệm được chức năng diễn đàn dư luận cho phe nhóm lợi ích nhỏ (cỡ doanh nghiệp) kiểu những vụ xử lý khủng hoảng truyền thông bằng tiền của doanh nghiệp...

Hậu quả xấu thì mọi người đã bàn nhiều: bàng quan, mù thông tin, thiếu óc phê phán, xóa bỏ giá trị truyền thống (nhưng xóa bỏ là cơ hội cho cái mới, cái khác)...

Nhưng tôi tin là tiến hóa ngược kiểu VN sẽ có cơ chế riêng để điều tiết và đây mới là điểm mấu chốt cần bàn. Thực tế thì cũng đã có nhiều chỉ dấu tích cực về một cơ chế như vậy trong thời bão hòa lá cải hiện nay:

- Sẽ là thời điểm của sự nghiệp dẫn nhập văn hóa tinh hoa nhân loại vào VN. Như SGTT làm với mục Khoa giáo cùng nhiều bài viết giá trị của BVNS. Tia Sáng cũng tạm được dù thực tế lại hơi giả cầy. Tôi vẫn rất ngạc nhiên khi phụ đề của tên báo có cái tít dài vô đối "Một góc nhìn của trí thức-Diễn đàn của trí thức VN-Tạp chí khoa học và công nghệ chứa các bài báo, bài viết sâu sắc về giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, kinh tế"!

- Cần tập trung vào những vấn đề xã hội dân sự. Ví dụ như chính quyền đô thị; tạo sức ép và cơ hội cho sự hình thành các nhóm, cơ hội áp dụng những tri thức dụng hành vào những lĩnh vực thiết thực. (Ví dụ như hôm trước VTV1 có bản tin về nạn khói đốt đồng ở Bắc Bộ. Nhưng thay vì năm nào cũng kêu ca rồi bảo bà con đừng đốt thì chưa hề thấy nhà báo tham vấn ngành nông nghiệp, tham khảo nơi khác. Nếu như vấn đề đơn giản là cần cái máy cắt nốt đám rơm rạ phun ra đồng thì lại cần bàn sâu vào xem làm sao để nó áp dụng được. Tất nhiên nhà báo không cần tìm giải pháp nhưng nên chịu khó đi hỏi sâu sâu tí).

- Việc trào lưu dư luận phê phán báo lá cải sẽ là tất yếu khi nó bão hòa, sẽ là cơ hội cho nhu cầu của phân nhánh báo nghiêm túc, chất lượng (SGTT theo tôi là 1 tờ khá).

- Đặc biệt cơ hội của mạng xã hội do internet đem lại là vô cùng lớn. Nó còn lớn dần theo thời gian nữa. Blog tạo tiền đề cho cá nhân biểu hiện mình trong xã hội truyền thông. Mạng lưới liên cá nhân trên mạng sẽ làm tiền đề cho những kết nối xã hội thực tế. Đây là cơ hội cho tầng lớp trí thức tham gia tác động đến công luận, đến tầng lớp xã hội thị dân trung lưu - nền tảng của cơ cấu xã hội hiện đại. Những tranh luận về trí thức-trí ngủ dù rất rùm beng hóa ra lại chính là minh chứng cho nhu cầu và thực tế xã hội giai đoạn này. (Chỉ là không nên độc quyền chân lý ấu trĩ. Dù sao có tranh luận đã là rất tốt, nó tạo ra cơ hội cho cái khác. Trong chuyện văn hóa thảo luận tranh luận, tôi rất ấn tượng với một ý kiến của NBC khi ông trả lời SGTT (lại là SGTT) về cách trả lời thẳng vào chi tiết vấn đề và không ngại mở rộng thảo luận thay vì loay hoay thao tác với những khái niệm chung chung. Rất tiếc không nhớ được nội dung bài viết đề đánh dấu chính xác tinh thần câu nói).

6.
Thử điểm lại trong vài năm gần đây, có rất nhiều chỉ dấu tốt về một xu hướng tốt cho nền tảng hình thành nền văn hóa công luận:

- Những hoạt động đa dạng và tích cực có tính nền tảng, khai minh của GS NBC: môi trường nghiên cứu học thuật mới, lập tủ sách, quỹ dịch thuật, trả lời phỏng vấn báo chí, viết bài, viết blog...Tất cả thể hiện một quan điểm tri hành hợp nhất của trí thức.

- Những bài viết, hoạt động giảng dạy phi truyền thống của BVNS. Việc SGTT buộc phải dừng chuyên mục của ông dù sao cũng là 1 chỉ dấu cho thấy khả năng tác động vào công chúng, xã hội của 1 trí thức. Tạo cơ sở niềm tin cho những việc về sau trong học thuật tinh hoa.

- Những hoạt động giới thiệu nghệ thuật đương đại của Ga 0 - Zerostation của NNH dù không nhận thì cũng sẽ đánh một dấu mốc quan trọng trong diễn trình hội nhập văn hóa nghệ thuật ở VN. Cũng chính Ga 0 với những dự án nghệ thuật như tài trợ cho trường đại học Mỹ thuật với cách làm những buổi diễn thuyết về tư tưởng hiện đại ở quán cafe chính là biểu tượng thuyết phục về sự hình thành một xã hội hiện đại ở VN đang bắt đầu.

- Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh với tinh thần chấn hưng dân trí. Tủ sách tinh hoa, Tủ sách Nhập môn...là những chỉ dấu lành mạnh, nền tảng của xã hội mới. Đã hình thành nhiều CLB đọc sách ở nhiều địa phương, phong trào tặng sách cho trường học...Chỉ cần thêm phần đọc sách thế nào nữa là ổn.

- Sau những cãi nhau rất chi là vớ vấn lại cuối cùng hình thành được những nhóm dịch giả mới cũng là điều đáng mừng.(Thôi thì xã hội VN đang tập tranh luận với mục tiêu cá nhân sang mục tiêu ý kiến).

- Những hoạt động của những tổ chức như L'espace, Viện Goethe...càng ngày càng thu hút được sự quan tâm của bộ phận trẻ. Hay như xu hướng hồi phục phong trào Hướng Đạo, học kỹ năng sống...

Tóm lại theo tôi thấy, xã hội rất nhố nhăng nhưng không phải xoắn. Mỗi người mỗi góc góp sức thúc đẩy quá trình tích cực lên, bớt tính bao đồng khái quát hóa chung chung thầy đời đi là ổn ^^

Cái cần nhất bây giờ là những nhóm dẫn đường, những nhóm thảo luận chất lượng, đưa những cuốn sách tinh hoa tri thức nhân loại vào hơi thở cuộc sống ngày thường, tạo nhu cầu cho lớp trẻ tiêu hóa được và có nhu cầu tìm tòi. Kiểu như ông BVNS lọ mọ viết những bài abc từ đầu cho đống sách dầy cộp ông đã dịch. Cần làm ra những môi trường giáo dục mới đối chứng với nền giáo dục bệnh tật chính thống hiện nay. Kiểu như ĐH Hoa sen (đấy là nghe báo nói vậy). Hoặc là đánh từ trong đánh ra như những bài dịch tâm huyết của Trần Ngọc Hiếu trong lĩnh vực chuyên môn của ảnh cho bộ môn của trường.

Thậm chí có lẽ nên có lúc phải đăng ký tổ chức biểu tình ở cổng Bộ GDĐT, ra thông điệp mạnh mẽ chửi bỏ mẹ cái nền giáo dục quan liêu này đi. Đánh giặc dốt cũng không kém phần quan trọng so với việc chửi bọn Tàu :P

Cổ xúy cá nhân hóa, óc phê phán, tinh thần phản tư, hình thành hội nhóm xã hội, chia sẻ kinh nghiệm sống, đề cao giá trị nhân cách...haizz cũng thật là nhọc nhưng SAO PHẢI XOẮN!

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Ký họa


1.
Hôm trước khi viết những cảm nhận về tập thơ của Quang Dũng, thực ra cũng là một loại phác thảo - những ghi chép dạng blog bao giờ chả là như vậy - nên đôi khi để bảo toàn một tổng thể khả dĩ nào đó mà phải lướt qua/nhập nhòa với các khả năng khác. Bây giờ thử lại theo cách ngắn gọn:

- Ký họa là ghi chép lại bằng hình ảnh một khoảnh khắc của cuộc sống. Trong truyền thống hội họa kinh điển châu Âu thì ký họa có vai trò mờ nhạt (*), điều này khác với sự ưa thích (thậm chí sùng mộ trong một giới nhỏ) ở VN trong giai đoạn từ 1945 đến gần đây (hoặc tính đến hết chiến tranh 1975). Ngoài lý do đặc thù câu chuyện lịch sử chiến tranh khốc liệt mà riêng việc là nhân chứng đã đem lại tính hấp dẫn đặc biệt thì diễn trình lịch sử hội họa VN bán khai cũng vừa vặn phù hợp với thị hiếu công chúng giai đoạn đó - ký họa chứng tỏ tài năng vẽ giống, nắm bắt thần tình, cũng chứng tỏ xuất xứ đào tạo hàn lâm, hứa hẹn những tác phẩm kinh điển...


Quang Dũng ưa ký họa, thích khắc họa khoảnh khắc. Đặc trưng thơ QD có dấu ấn ký họa rất nổi bật. Thơ ông có nhiều câu rời sống cuộc đời thơ rất riêng trong lòng công chúng. Tự nhiên nó cũng rất vừa vặn với những cảm xúc bâng khuâng, tha thiết nhưng mơ hồ của tiền chiến (kéo dài).

2.
Tuy nhiên có hai điểm quan trọng mấu chốt có thể triển khai ở chủ đề trên thì tôi lại chưa điểm đến. Điểm đầu tiên đó là sự khác biệt trong nhìn nhận vai trò của ký họa ở châu Âu và ở VN có thể liên quan đến một gốc rễ sâu xa hơn từ hệ hình tư duy. Riêng chuyện từ đâu tôi nhận ra điểm này cũng là một câu chuyện khúc khuỷu để kể: khởi từ việc đọc tập "Những cách thấy" của John Berger tôi nhận thấy lờ mờ có nhiều luận điểm thoạt đầu nghe rất hợp lý nhưng suôn sẻ quá nên gờn gợn khả năng khác mà có thể việc đọc lại cuốn "Cái Nu không thể có" của Francois Jullien sẽ cho thấy độ chênh. Cả hai cuốn tôi đều đang đọc dở nên chưa nói được gì nhiều nhưng có một điểm quan trọng có thể kể ở đây: nếu trong truyền thống hội họa kinh viện châu Âu thì cái bất động là điều quan trọng (ít nhất với cái Nu) thì ở phương Đông - Trung Hoa - chính cái bất động là kẻ thù của họa pháp truyền thống. Phương Đông tôn vinh tiến trình - cái đang biến đổi - mà ký họa thì vừa vặn là phương thức của hội họa châu Âu để mô tả khoảnh khắc - cái đang biến đổi. Từ Tây sang Đông, đến VN nó trở thành khách quý mặc dù dưới danh phận của cái-có-thể-trở-thành.

Điểm thứ hai thực ra rất khó bàn ngắn gọn nhưng đã tư duy kiểu song thoại đối chiếu thì không thể không nhìn từ phía đặc trưng cốt yếu của thơ - từ cổ điển đến hiện đại/từ Tây sang Đông/đến Quang Dũng - để gợi sự tương đồng ở tầng sâu hơn. Chuyện này có thể nương tựa một lần nữa bác F.J với cuốn "Đường vòng và lối vào"; để xem lại những bàn luận về khoảnh khắc/vĩnh viễn, di âm, khoảng cách...

Có điều kể cả tìm tòi thêm được gì nữa thì tôi vẫn lựa chọn cách phát biểu rằng đó chỉ là một khả năng mà từ chỗ tôi thì tôi thấy thế.

Ngoài ra là người học vẽ, tôi có thể kể ra một sự kiện có tính chất bằng chứng: việc ký họa với tôi có một niềm vui rất trực tiếp và hứng khởi, trước khi mọi sức ép và ý nghĩ khác vụt đến.

3.
Nhân tiện giới thiệu mọi người một tác phẩm kết hợp tuyệt vời giữa ký họa - vũ điệu - âm nhạc - đồ họa 2D mà có lẽ chính là minh chứng hoàn hảo cho điểm chung nổi bật khắc họa cái khoảnh khắc.

http://www.youtube.com/watch?v=OBk3ynRbtsw&feature=share

Các hình họa đẹp có thể tìm thấy tại:

http://conteanimated.com/the-book/


Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2009

Bàn về cái Nhạt-FJ

27- Luôn đi về phía trước, lấy việc đi về phía trước làm mục tiêu suy tư
->Chứa đựng 1 ý thức về "cái thực tại đến tận cùng"

- Thế giới trong bản chất sâu xa và trong việc đổi mới "kỳ diệu" của mình, chẳng phải cái gì khác là "khả năng duy trì bất tận" (để từ đó suy ra mọi chân lý) đó sao?

30- Cái nhạt là cụ thể-ngay cả khi nó ở dạng ẩn giấu->người ta nói nó trong 1 cảnh quan.

31- (tranh thuỷ mặc)
- Xa gần như nhau->(1) phản chiếu vào nhau; (2) có giá trị như nhau dưới góc ngắm

37- Thông tuệ đạo lý phải thấy rằng những mặt đối lập không những không hề kìm hãm nhau để loại trừ nhau, mà lại không ngừng chi phối nhau và giao liên với nhau
*Sự hài hoà-trung hoà-kích thích và phản hồi->để hành động không ngừng->giữ mãi trong quá trình.

47- Chống lại sự sùng bái quá dễ dàng-cái bất thường.

- Tìm cách sống khác với đời cũng như tìm điều kỳ diệu để hậu thế có chuyện bàn tán, cái đó, về phần tôi, tôi xin chịu-KT

- Cái Nhạt không gây mệt mỏi.

53- Người quân tử không tìm cách lừa gạt ai, chỉ nói những điều mình làm được; những lễ phép thường ngày còn xa mới là yêu cầu chân chính của nghi lễ.

58- Sự cân bằng-sự hài hoà

59- Luôn sẵn sàng ứng phó với mọi biến động của thế giới và khắc phục những biến động ấy dễ dàng.

60- Quan sát/suy xét 1 người->trước hết xét khả năng tỏ ra bình lặng, nhạt, rồi sau đó mới xét trí thông minh.

66- Âm nhạc hay nhất: thứ âm nhạc tác động đến ta nhiều nhất->luôn ở mãi trong đầu óc và "không bao giờ quên".

71- Di âm và tác động của nó dẫn ta từ 1 phương thức còn cảm nhận được-> đến 1 phương thức nắm bắt thực tại tinh tế hơn, cơ bản hơn.

91- Thơ ca được dùng để nắm bắt cái vô hình thông qua cảm quan, để gợi lên cái hư vô từ những hình ảnh.
->"Bầu khí quyển" lan toả trên cả bài thơ.

92- Chiều sâu cảm xúc, tính khôn lường, khả năng vươn tới vô hạn.

93- Sức nguyên lai-cái Nhạt-Sự phong phú tế nhị.

106- Cảm động là "phản ứng" với kích thích bên ngoài, kích thích này làm ta rung chuyển bên trong.
->Cảm động càng sâu sắc thì nó ít có tính cá nhân hơn->giúp ta cảm nhận được sự phong phú của mối dây ràng buộc ta với thế gian và cho ta thấy ta gắn liền với quá trình chuyển biến vĩ đại của sự vật như thế nào.

110- Gắn liền với sự dung dị, cả 2 coi sự hài hoà là cái thiết yếu.

115- Thơ phải gần mà không nông cạn, phải tiến về phía xa không còn biên giới: lúc đó ta nói được rằng ta có sự tuyệt vời về phía bên kia âm hưởng (Tư Không Thự)

119- Cái nhạt của thơ sở dĩ có được là do nghĩa của thơ không xuất hiện (theo cách này hay cách khác) nó thể hiện qua liên tưởng và tình huống mà không bao giờ áp đặt cho ta.

- Nguy cơ các hiện tượng không đổi mới được.

120- Tô Đông Pha- "ngôn ngữ nhà thơ sinh ra tựa như luồng hơi nước trút ra từ viên ngọc chôn vùi dưới đất trong cánh đồng xanh dưới ánh mặt trời ấm áp: người ta chiêm ngưỡng luồng hơi ấm nhưng không thể nhìn rõ nó".

122- Tuồng như đó là dấu vết mơ hồ của nguồn cảm hứng từ chốn xa, đường nét ấy chỉ được cảm nhận như là "dấu vết", 1 sự khước từ được gợi lên từ đó để tôn vinh thứ thư pháp như gợn sóng trong sự cô đơn.

129- Bên kia cái Nhạt là tâm của Vị.

133- Vị ở thế trung tâm: ta chỉ thưởng thức được vị ở thế trung tâm nếu ta biết cách không để cho 1 vị cá biệt bất kỳ nào đó hạn chế, ám ảnh mình; ta cũng không loại bỏ vị cá biệt đó.
->Sẵn sàng thưởng thức các vị như nhau->thoải mái với bất kỳ vị nào.

134-
*Sự vượt quá diễn ra như thế nào?
->Hy lạp: sức căng từ ngữ-mục tiêu hình ảnh trải ngược-ít dễ hiểu-buộc vượt lên trên từ ngữ trước mắt-cắt đứt với cảm xúc trực tiếp để nâng ta lên cái lý tính.
*Cái Nhạt
- Sự vượt lên trên này khởi từ việc khiến ta giải thoát mình khỏi tính dị biệt chủ nghĩa->không tạo ra sức căng->tạo ra sự hoà dịu->làm cho lương tri thanh thản.

140- Trước khi có sức mạnh hài hoà của cái nhạt người ta thấy sức bật của sinh lực.

141- Nghệ thuật, đó là phản ứng tự phát của xúc cảm bên trong được những thay đổi của thế giới bên ngoài gây ra.

142- Tràn đầy sức sống-khiến ta mê mẩn.

143- Có đúng dửng dưng dập tắt nhân cách?

144- Trực cảm về sự trống vắng không ngăn ta tiếp cận với xúc cảm->vì cảm xúc không tác động ta nữa nên ta nắm bắt nó tốt hơn, rồi ta có thể thưởng thức nó trọn vẹn.
- Cuộc sống cảm xúc được chắt lọc.

147- Hướng về phương xa vời mà chúng không với tới được-Cây cỏ diễn tả cường độ nội tâm->Cơ sở của cái nhạt là "cái tự nhiên".

- Thâm ý của cái nhạt: yên tĩnh, mơ hồ, cô đơn, cảm giác bị ruồng bỏ.
->Tính không thể bị kết thúc.

148- Phẩm chất của cái Nhạt-sự biến hoá.

150- Cái đậm: trong những khúc gãy vỡ, ta còn tìm thấy được những mảnh vụn có dáng thẳng, trông y như những tế bào rời rạc trong 1 thế giới cong queo: trong mỗi mảnh vỡ ta thấy hình như có ai đó cư ngụ, cô đơn và dửng dưng.

154- Cái nhạt-đòi hỏi sự chuyển hoá cuộc sống->1 cuộc thử nghiệm với lương tri toàn vẹn->thể hiện cái ta tồn tại trên nhân gian một cách triệt để nhất.

155- Về thơ Verlaine: Cảm giác về cái khắc khoải mất cội nguồn khác sự hấp dẫn của cái vẹn toàn (cái tổng thể chưa bị phân rã).

157- Phép nói giảm, ngôn ngữ mơ hồ->cái dửng dưng giả tạo->bãi mìn của ý đồ chiến thuật.

158- Verlaine muốn lập lại mối quan hệ với thực thể, muốn thoát ra khỏi cái bi kịch khó chịu về tình trạng rối loạn sự vật, trong đó ông cảm thấy ý thức mình tan biến->từ bỏ cái nhạt->chuyển mình theo cái siêu việt.