Hiển thị các bài đăng có nhãn nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

KHÔNG GIAN CỦA SỰ BIỂU ĐẠT ĐỜI THƯỜNG (Everyday Spaces of Expression)

 

Từ nghi lễ nguyên thủy đến trí tuệ nhân tạo

Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử việc sáng tác một bài hát lại trở nên dễ dàng như hôm nay.

Một người chưa từng học nhạc có thể viết vài dòng, lựa chọn một phong cách rồi chỉ ít phút sau đã có một ca khúc hoàn chỉnh do AI thể hiện. Điều thú vị là phần lớn những người làm việc ấy cũng không mấy bận tâm bài hát của mình có thể đặt cạnh một nhạc sĩ chuyên nghiệp hay không. Họ chỉ cần nó đủ để nói hộ một điều mà trước đây mình chưa biết cách nói.

Điều đó làm tôi nhớ đến karaoke.

Cũng chưa bao giờ trong lịch sử, việc hát trước nhiều người lại dễ như từ khi karaoke xuất hiện. Phần lớn chúng ta không biết nhạc lý, không đọc được nốt, không giữ được nhịp và cũng khó lòng hát đúng cao độ nếu chỉ có một cây đàn đệm. Thế nhưng với một màn hình chạy chữ và phần phối khí có sẵn, rất nhiều người vẫn có thể hát hết một bài. Có lẽ điều họ làm không phải là trình diễn theo nghĩa thông thường. Họ đang hồi tưởng, bắt chước một giọng hát đã quen thuộc trong ký ức rồi gửi vào đó cảm xúc của chính mình.

Nếu nhìn rộng hơn một chút, hiện tượng này dường như không chỉ thuộc về karaoke hay AI. Một đứa trẻ chưa biết chữ vẫn ngân nga theo điệu ru của mẹ. Một cụ già có thể ngồi hàng giờ kể đi kể lại một câu chuyện cũ. Người thợ kia trong lúc làm việc vẫn vô thức huýt sáo theo một giai điệu quen.

Những hiện tượng ấy cách nhau hàng nghìn năm và được nâng đỡ bởi những công nghệ hoàn toàn khác nhau. Nhưng có lẽ chúng đều chạm đến một nhu cầu rất cũ của con người: mong muốn đưa một phần đời sống bên trong của mình ra ngoài, dưới một hình thức mà người khác có thể cùng tham dự.

 

Nghệ thuật trước hết không phải là nghệ thuật

Chúng ta thường quen hỏi nghệ thuật bắt đầu từ đâu. Từ lao động? Tín ngưỡng? Hay từ nhu cầu thưởng ngoạn cái đẹp? Các nghiên cứu nhân học trong nhiều thập niên gần đây dường như không còn tìm kiếm một câu trả lời duy nhất như vậy nữa. Điều đáng chú ý hơn là ở hầu hết các xã hội tiền hiện đại, những gì ngày nay được gọi là thơ, nhạc, múa hay nghi lễ chưa từng tồn tại như những lĩnh vực tách biệt.

Người ta cùng hát khi lao động, cùng ngâm trong tế lễ. Họ cùng ru con hay than khóc bên nhau trong tang ma. Nhân loại đã cùng kể chuyện cho nhau bên bếp lửa từ tiền sử. Ở đó, lời nói, giai điệu, nhịp điệu, động tác và hoàn cảnh thực hiện gần như không thể tách rời nhau. Thứ tồn tại trước tiên dường như không phải là bài thơ hay bản nhạc, mà là một hành vi chung của cộng đồng.

Chỉ rất lâu sau, khi chữ viết xuất hiện, khi âm nhạc có ký âm, khi việc đọc trở thành một hoạt động cá nhân và nghệ thuật dần chuyên môn hóa, thơ và nhạc mới bắt đầu đi trên những con đường riêng. Một bài thơ có thể được đọc trong im lặng. Một bản giao hưởng có thể không cần lời ca. Những chức năng xã hội vốn từng nằm trong một chỉnh thể cũng theo đó phân hóa thành nhiều lĩnh vực khác nhau.

Nếu nhìn theo chiều ngược lại, điều xuyên suốt lịch sử có lẽ không phải chính các loại hình nghệ thuật. Điều bền vững hơn là nhu cầu biểu đạt mà chúng lần lượt đảm nhiệm dưới những hình thức khác nhau.

 

Hai chức năng nền tảng của văn hóa

Có một đối lập khác cũng rất quen thuộc trong cách chúng ta lý giải hành vi con người: cảm xúc và lý trí. Từ lâu, hai phạm trù này thường được đặt ở hai phía đối nghịch. Nghệ thuật thuộc về cảm xúc; khoa học thuộc về lý trí. Một bên được xem là chủ quan, bên kia hướng tới tính khách quan. Nhưng nếu nhìn lại lịch sử hình thành của chúng, có lẽ cách phân chia ấy chưa thật sự phản ánh điều đang diễn ra.

Một bài hát dân gian không chỉ để bộc lộ cảm xúc. Nó còn giúp nhiều người cùng bước vào một nhịp điệu chung. Một bài thơ không chỉ để nói hộ nỗi lòng của một cá nhân. Nó còn tạo nên một kinh nghiệm có thể được nhiều người cùng chia sẻ. Ngược lại, luật lệ, lịch pháp hay bản đồ cũng không phải sản phẩm của một thứ lý trí thuần túy. Chúng là kết quả của việc xã hội liên tục chưng cất những kinh nghiệm cụ thể thành những quy tắc có thể lặp lại.

Có lẽ, thay vì đối lập cảm xúc với lý trí, sẽ gần hơn với thực tế nếu xem văn hóa luôn đồng thời thực hiện hai công việc. Một mặt, con người cần những hình thức giúp nhiều cá nhân cùng chia sẻ một kinh nghiệm chủ quan, cùng xúc động, cùng tưởng nhớ, cùng cảm thấy mình thuộc về một cộng đồng. Mặt khác, xã hội cũng cần liên tục rút từ kinh nghiệm ấy những cấu trúc ổn định hơn: luật lệ, khoa học, kỹ thuật và các thiết chế để có thể tổ chức đời sống ở quy mô ngày càng lớn.

Nếu nhìn theo cách ấy, nghệ thuật và khoa học không còn là hai thế giới đối lập. Chúng giống hai hướng phát triển khác nhau của cùng một nhu cầu rất cũ: đưa kinh nghiệm con người ra khỏi phạm vi của từng cá nhân để trở thành một phần của đời sống chung.

...

Karaoke và AI: sự dân chủ hóa của biểu đạt và điều khan hiếm mới

Có lẽ chính vì vậy mà AI không chỉ đặt ra câu hỏi về tương lai của nghệ thuật. Điều đáng suy nghĩ hơn là: khi việc biểu đạt ngày càng trở nên dễ dàng, điều gì sẽ trở thành khan hiếm?

Bài thơ chỉ thực sự sống khi có người đọc. Bài hát chỉ thực sự tồn tại khi có người cùng hát hoặc cùng lắng nghe. Một ký ức chỉ trở thành ký ức chung khi có một nghi thức để nhiều người cùng hiện diện trong đó.

Nếu điều ấy đúng, thì điều xã hội AI thiếu nhất có lẽ không phải là những công cụ để biểu đạt. Thứ trở nên quan trọng hơn sẽ là những không gian, những nghi thức và những cộng đồng nơi các biểu đạt ấy còn có thể gặp được nhau.

 

Từ nghệ thuật đến quy hoạch

Có lẽ đây cũng là nơi quy hoạch đô thị gặp gỡ nhân học. Một thành phố không chỉ được tạo nên bởi đường sá, hạ tầng kỹ thuật hay các dòng giao thông. Nó còn được tạo nên bởi những khoảng không đủ nhỏ để người ta kể một câu chuyện, hát một bài hát, tổ chức một bữa liên hoan hay đơn giản chỉ ngồi lại với nhau sau một ngày làm việc.

Nếu những không gian ấy dần biến mất, con người có lẽ vẫn sẽ tiếp tục biểu đạt. Họ sẽ mang loa ra ngõ, hát trong hành lang hay phát trực tiếp lên mạng. Nhu cầu ấy không mất đi cùng với một hình thức văn hóa nào. Nó chỉ tìm một con đường khác để xuất hiện.

Có lẽ vì thế, câu hỏi đáng đặt ra không hẳn là nghệ thuật sẽ thay đổi ra sao trong thời đại AI. Điều đáng suy nghĩ hơn là: chúng ta sẽ kiến tạo những không gian nào để con người vẫn còn có thể lắng nghe nhau.

 

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2024

Carnets: Nghệ thuật và tâm thức. Chùm tạp ghi

 1.

- (RÉNE Hughe, lời giới thiệu): Những cái chung quanh ta có vẻ được phân bổ trong KHÔNG GIAN còn những thứ bên trong ta thì lại ẩn hiện và được cảm nhận trong THỜI GIAN. 

- Con người tìm cách cho hai bên hòa nhập một cách tinh tế nhất bằng tác phẩm nghệ thuật. (Nơi con người phóng chiếu và gài cắm vào nó chất liệu nội tâm và ghi khắc trong không gian, khiến người khác có thể nhận thức được.).

- Những lan tỏa khoáng đạt của các diện không gian, đường nét, có thể được ví như dòng chảy khoan thai của âm thanh trong âm nhạc, bằng chậm dần lại, tạo một căng thẳng (mà ta cảm nhận được ngay nhịp điệu thời gian và ẩn dụ không gian).

- Mơ hồ nhập nhằng gắn với ý niệm hơn là một trải nghiệm cụ thể - quyền năng khác lạ.

(Ghi chép khi đang đọc Nghệ thuật và Tâm thức, Graham Collier)

2.

(Trung Quốc họa, Tạ Duy)

- Họa gia: khái niệm có sắc thái riêng hay tương tự họa sỹ?

- Tra cứu ghi chú bất tiện

- Tên tác phẩm không dịch là 1 lưỡng lự và không phải ai cũng thấy ổn

- Trường phái

- Từ vựng mới: dịch được không? Du nhập hay tạo mới? Có thể làm 1 tập từ vựng bỏ túi về phép bình thưởng tranh Trung Quốc họa.

- Không một lỗi chính tả hay dàn trang.

- Chất lượng ảnh minh họa cao - tuy hơi nhỏ và thiếu trích đoạn phóng to (xem bút pháp)

- Tổng quan đôi khi lặp ý với phần sau. 

(Thẩm định tranh cổ)

- Diễn ngôn và góc nhìn truyền thông

- Nếu chủ quan, mơ hồ, gây tranh cãi, tam sao thất bản là cơ chế tạo ra huyền thoại - giá trị.

- Giống như cái khung cửa trong nghệ thuật thấu cảnh tạo ra chiều sâu, sức gợi, dẫn dắt, sức căng tâm lí. Từ trước đó, tâm lí con người ta đã được/bị "dẫn" đi rồi.

- "Phép thẩm định" không phải là "phép xem tranh" (mà có không?)

- Họa viện: công bút, phù hoa - Văn nhân - Dân gian.

- Sự phân chia trường phái: mặc những bài trừ chính phái/ngụy phái - họ đã dùng điều gì để "thảo luận" chung với nhau? (cái nền hiển nhiên nào)

- Cũng giống như tình huống không có bức tranh để bình phẩm cụ thể ("khí vận sinh động" - Trịnh Lữ dịch sái quá!), (Tạ Hách đương thời là người sở trường tiểu họa? Giới Tử Viên họa truyện - Tranh Thủy mặc) - cuối cùng thì người ta cần phải có bức tranh để treo mắc thêm các bình chú vào chứ?

- Bức tranh: các quy củ pháp thức để tạo ra nó phải có lớp nghĩa đầu tiên của tác giả chứ? Có hay không có? (Nghệ thuật có thể truyền thông được tới công chúng, Cynthia Freeland)

- HÌNH - THẦN: Tác giả nói - những điều lời nói không chạm đến được.

(Sơn thủy họa): 

- Phong phú đa dạng, biến đổi, (không nhất định biến đổi ứng với Đạo)

- Họa pháp học theo sở trường. Sáng tạo riêng. Tam quan. Huân ướp trong môi trường văn hóa...Diễn ngôn của nhóm xã hội, giai tầng, trong một bối cảnh văn hóa lịch sử cụ thể.

- Họa gia có hướng tới cái phi thời bất hủ không?

3.

"Tôi đồng ý với Dewey rằng nghệ thuật là một dấn thân về nhận thức. Có nghĩa là, các nghệ sỹ như Francis Bacon biểu hiện tư duy và ý tưởng theo cách có thể truyền thông được tới công chúng, giúp làm giàu có các trải nghiệm của chúng ta. Nghệ sỹ làm điều này trong một văn cảnh cụ thể và "tư duy" của họ phục vụ một số nhu cầu cụ thể trong phạm vi đó. Các nghệ sỹ giờ đây chỉ có ý nghĩa trong phạm vi văn cảnh của cái mà Danto gọi là "thế giới nghệ thuật", là nơi tập hợp các định chế gắn kết họ với công chúng trong phạm vi một môi trường xã hội, lịch sử và kinh tế. Họ sáng tạo hay truyền phát tri thức nhờ vào những địa điểm đã được định dạng: các triển lãm, các buổi trình diễn, các ấn phẩm. Nghệ sỹ sử dụng biểu tượng để tái trình hiện và biểu lộ cảm xúc, quan điểm, tư duy và ý tưởng. Họ truyền thông tới công chúng, rồi đến lượt mình, công chúng này sẽ phải diễn giải nghệ phẩm.
"Diễn giải" cũng là sự trình ra một phân tích duy lý (rationale construal) tường giải được ý nghĩa của một nghệ phẩm. Tôi hoàn toàn không tin việc có tồn tại một lý giải tối thượng cho sự đóng góp về nhận thức mà một nghệ phẩm đem lại. Song, một số diễn giải lại khởi hoạt tốt hơn những diễn giải khác. Những diễn giải cấp tiến nhất luôn bắt nguồn từ lý tính, chi tiết và tính xác tín; chúng phản ánh tri thức nền và các chuẩn mực cộng đồng phục vụ cho các cuộc tranh luận duy lý.
Diễn giải chuyên môn hóa chính là trung tâm cho sự thành công của việc truyền thông nghệ thuật, và nó cũng sắm vai trò quan trọng trong việc giáo dục và đào tạo những nghệ sỹ mới. Các diễn giải và phân tích có phê phán giúp tường giải nghệ thuật - không phải để hướng dẫn chúng ta, những công chúng, biết phải suy nghĩ như thế nào, mà để tạo khả năng cho chúng ta xem và hồi phản với tác phẩm tốt hơn là chỉ bằng tự thân chúng ta."
(Cynthia Freeland, Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật. Chương 6: Nhận thức, sáng tạo, thấu tỏ) (Nguyễn Như Huy dịch).
 
4.
(Roland Barthes, Những huyền thoại) 
 
- Huyền thoại chẳng che giấu - chức năng của nó làm biến dạng chứ không biến mất.
- "Nếu tôi đi trên xe ô tô và tôi nhìn phong cảnh qua tấm kính..." (tr 314)
- "Tổng thể không thể tách rời của nghĩa và hình thức" (322)
- Người đọc huyền thoại khám phá chức năng của huyền thoại. Nó biến đổi lịch sử thành bản chất tự nhiên - nó không được đọc như động cơ mà như là lẽ phải.
- Tính chất gây ấn tượng - hiệu quả tức thì - mạnh hơn những giải thích dựa trên lí tính (326)
(Huyền thoại đánh cắp ngôn ngữ)
(trái ngược với)
- Thơ ca muốn đạt tới không phải nghĩa của các từ ngữ, mà là nghĩa của chính các sự vật. (Một cái gì tương tự như sự im lặng nhưng nhìn thấy được, cảm thấy được.) (331)
- Sức mạnh của huyền thoại thứ hai là thiết lâp huyền thoại đầu tiên thành thứ ngây ngô để nhìn vào. (335)
- Huyền thoại là một ngôn từ phi chính trị hóa đem lại nhận thức bằng ghi nhận mà không bằng lí giải (347)
- Có một ngôn ngữ không mang tính huyền thoại, đó là ngôn từ của người sản xuất: (1) Con người nói để biến đổi hiện thực, (2) Con người gắn ngôn ngữ của mình với việc chế tạo ra sự vật. Siêu ngôn ngữ - để trở về ngôn ngữ đối tượng. (352)
-  Huyền thoại nghèo nàn, bản chất là nghèo nàn (cánh tả). Sắp đặt vụng về, kể lể dài dòng. Số lượng hóa chất lượng. Vươn tới tục ngữ. (354)
- Chứng cứ văn hóa xa xôi. Đo đếm được, chiếm hữu được. 
 
5.
(Susan Sontag)
 
- Chụp ảnh là chiếm giữ cái đươc chụp vào ảnh. Đưa người chụp vào quan hệ với thế giới, cảm giác mình có tri thức, và do vậy, có quyền lực.
- Ảnh chụp là những mẩu nhỏ của thế giới hơn là những tuyên ngôn về nó (ai cũng có thể tạo ra).
- Giống như nhìn là chọn lựa, thấy bị quy ước từ nhiều thứ (John Begger)
- Tự thân việc chụp ảnh là hợp lệ, lẽ thường. Vấn đề ở ngữ pháp và nội dung chứ không phải ở từ vựng.
- (Nhìn sâu hơn cái hàm ý: tri thức = sức mạnh) (Gadamer và khoa học nhân văn, (hay làm thế nào để hiểu người/cái khác), Charles Taylor)