Hiển thị các bài đăng có nhãn rằm tháng 7. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn rằm tháng 7. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 8, 2023

Đọc lại "Vũ trung tùy bút" viết về tang tế dịp rằm tháng 7

Nhiều người hay mong đợi một khuôn mẫu chuẩn chỉnh, như thực của văn hóa cổ truyền hương xa làm thứ để mong ngóng tiếc nhớ. Trên mxh có rất nhiều group lập ra với chủ đề như vậy với hy vọng có được hình ảnh CHÍNH XÁC về quá khứ. Tiếc là chúng ta cần biết một điều căn bản là trong lịch sử nhân loại cơ bản văn hóa luôn tiệm biến, mâu thuẫn, nhì nhằng qua lại. Bởi vì nó phản ánh chính thực tế đa căn tính của xã hội. Khi nào mà nhất loạt hóa 1 kiểu hình thì xã hội đó thực là đáng sợ.


Nho gia chủ trương Lễ để thay đổi hành vi con người/ người sống chứ không như người ta hay tưởng tế lễ có thể cảm động đến thần linh mà thay đổi hành vi của thần linh đến số mệnh của mình. Có thể đọc được nhiều chỗ viện đến cái lẽ nương theo phong tục mà giáo hóa để thấy Lễ (là hình thức cô đọng nổi bật nhất của văn hóa) cùng luôn tùy thời và luôn bị tranh cãi từ thời có sử đến nay. Ít nhất trong Luận ngữ ta đã thấy Khổng tử san định lựa chọn, tranh luận về lễ nghi, trang phục như thế nào. Rồi cứ thế đời nào cũng có tranh luận thêm bớt đổi thay. Không phải tự nhiên Yuval Harari có cái ý muốn hiểu một tôn giáo (hay tư tưởng/văn hóa) nào thì phải hiểu nó ngay chỗ những mâu thuẫn trong lòng những tôn giáo/tư tưởng ấy chứ không phải chỉ ở Kinh sách.


Trong tập "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ, ở đoạn cuối có mấy bài về tang tế cũng phản ánh cách nhìn phê phán của Nho gia về phong tục lễ lạt đương thời (Lê mạt sang đầu Nguyễn). Qua đó cũng có thể thấy được bóng dáng ảnh hưởng hỗn tạp qua lại của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống thực tế. Từ Lê mạt  sang Nguyễn đã thay đổi một trời một vực rồi chứ có đâu như nhiều người cứ tưởng tượng thời xưa có nghĩa là thời Nguyễn muộn.


"Đời xưa có những lễ tế tiên tổ, như là lễ tế Đế tế Cáp, tế bốn mùa để hiến thời vật. Những lễ ấy thì từ thiên tử đến thường dân cứ theo thứ tự giảm bớt dần, chứ không phải ai cũng được làm đủ các lễ. Còn như lễ ngày giỗ là lễ truy viễn cảm thời*, phải nên hết lòng nhớ thương, không được bày ra lễ để hưởng tế. Sách Lễ ký bảo rằng: người quân tử không phải chỉ thương xót một buổi sớm, mà là mang tang đến suốt đời, ý muốn chỉ về ngày giỗ vậy." (Trích Tế Lễ, tập Vũ trung tùy bút).


Ý cụ là muốn đánh chén thì chọn lúc vui mà bày cớ, cứ mượn ông bà đã khuất ra mà bày biện đánh chén thì thực khó coi. Cho hay thực tế tranh luận về lễ trong một nền văn hóa là những diễn ngôn của các nhóm giai tầng xã hội khác nhau là chính, lễ của hoàng gia cũng lổn nhổn hợp lưu, lễ thường dân cũng tuế toái như vậy theo cách khác, trong khi tầng lớp sĩ đại phu thì lại muốn trong suốt hóa theo dòng tư tưởng của mình nữa. Có điều mỗi các bố ấy biết viết chữ, hay viết sách nên làm đời sau cứ đinh ninh cái gì cũng trong veo.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

Rằm tháng 7

1.
Bây giờ là 2 giờ đêm. Hơi ngạc nhiên vì trăng 13 mà đã chênh chếch phía mé tây. Hà Nội đã có phảng phất hơi thu. Chiều muộn hôm trước đi từ phủ Tây Hồ về thì mù đã lẫn đầy trong gió. Nếu ký ức về đêm sáng trăng ở quê là những ngày trăng non thì ở thành phố sẽ là về trăng hạ huyền. Hôm nay là một ngoại lệ lưng chừng.

Mai đã có thể tính là sang rằm tháng 7. Lại đem hong bài viết cũ làm kỷ niệm mấy blog 360.

2.
Aug 7 2006, 02:31 PM
Hôm nay là tiết Lập Thu. Mùa Thu ở Bắc Việt chỉ thực sự là mấy ngày cuối cùng trước lúc sang đông. Cũng đang là lễ Vu Lan "Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt...". Không quá thê lương, ảo não nhưng bây giờ ngoài kia Hà Nội đang bàng bạc một bầu trời xám. Mặt đường ướt lướt thướt. Những tiếng động dường như cũng có phần thảng hoặc hơn ngày nắng. Thỉnh thoảng tôi lại cảm nhận không gian như vậy: những ngày đông khô khốc, trong cơn mưa miên man, lúc tỉnh rượu nửa đêm...luôn luôn là một không gian trù mật xung quanh, nửa như sương, nửa như một hòa âm miên man. Những lúc ấy cảm giác một mình, cảm giác thế giới của những một mình, thế giới của những ngày trước trở về xoắn xuýt vần vũ trong tâm trí như thể một mình đang đứng chơ vơ giữa cánh đồng hoang dưới bầu trời vần vũ mây đen, trong hơi gió hơi đất hầm hập. Vang vọng tiếng người. Ngồi thu lu bên quán nước chè vỉa hè ngó ra xa, xa chỉ quá dăm bước chân là đã có đấy một thế giới khác, thời gian khác. Bất chợt trong tôi vọng về những cảm xúc, những sự kiện, những ký ức...mà ngày thường không biết xếp nó vào đâu. Nó có vẻ đã từng rất thân thiết mà giờ đây trở thành lạc lõng. Làm người chín chắn, làm người trưởng thành mà lại xa lạ thế này à? Nếu là ngày trước đã mặc một bộ tuềnh toàng, cuốc bộ hay lên xe buýt, những chiếc xe cũ kĩ, nhem nhuốc, chật chội đi vô định đến một xó xỉnh nào đấy, tha thẩn theo vết một con người, một số phận cả một buổi. Có thể là một bà bán nước, một gánh hàng rong, một kẻ ăn mày, một người lơ đãng nào đó trên phố...Hay rủ em đi nhâm nhi rượu nếp cái với khoai tây chiên trên gác 2 nhàu nhĩ Flagon, ngó nước mưa lộp bộp trên tán lá bàng đầy bụi...Hoặc là đi thật xa Hà nội có khi. Để nhâm nhi cảm giác lữ thứ, thú thương đau.

"Rằm tháng 7 có cúng gì không anh?". Tín ngưỡng ở VN từ lâu đã suy biến thành một thứ quy ước, một sự phân công. Người Việt không đắm chìm trong cảm thức tôn giáo nhưng họ vẫn giữ một quan hệ tín ngưỡng bền bỉ. Đàn ông đã nhường quyền giao tiếp với thế giới bên kia cho phụ nữ. Đôi khi còn bài bác nhưng hình ảnh chăm chút cho ngày rằm, ngày đầu tháng của các bà đã quá quen thuộc rồi. Chúng tôi lựa một đĩa hoa quả ít tiền giấy, thắp nén nhang chỉ để hồi hướng về những tình cảm gia đình. Hồi hướng về vệt người đại khái đâu chừng 100tỷ đã lang thang trên mặt đất này. Đốt mấy tờ tiền giấy trên mảnh sân lấm nước mưa là tôi lại nhớ những lần về quê nội giỗ ông bà thưở bé. Trẻ con được gọi ra phụ đốt vàng mã. Quê nghèo và hiu hắt. Ngày giỗ chạp làm ánh lên chút không khí của ngày xưa, thời của đại gia đình, tứ đại đồng đường...Bây giờ con cháu phiêu dạt tứ tán. Xa bằn bặt đến nỗi có khi mỗi lần về lại vắng đi một hai người già. Làng quê ngày nông nhàn vắng hoe. Vài người thơ thẩn chuyện vãn dưới gốc cây. Trong ngày giỗ, mọi người cùng nhau vun lại một tâm tình gia tộc đang ngày càng trở lên xa lạ, hình thức.
--------------

Chẳng biết từ hồi nào. Khoảng năm ngoái chăng?

Bây giờ và ở đây

Ở nhà, mỗi lần thắp hương cúng gia tiên tôi thường phải nghĩ 1 lúc xem sẽ khấn gì. Đầu tiên bao giờ cũng nghĩ đến người thân, mong khoẻ mạnh bình yên. Sẽ lại thoáng nghĩ nếu bình yên có thể xin thì nên xin cho tất cả mọi người.

Lên chùa, tôi lúng túng không biết phải làm gì. Thường cố yên lặng.

Nói với em cốt yếu của Phật Pháp hình như là ở chỗ tự mình. Nên Phật vốn không thể cầu. Nhưng vẫn đưa em lên chùa thắp hương bởi chúng ta là người cần nương tựa vào nhân duyên.

Thắp hương. Cốt ở Tâm nhang. Cây hương thẳng. Khói thơm hoá từ Có sang Không. Chân hương đỏ cốt ở giữ lòng son. Thắp 1 nén hương là để chính cái Tâm mình, chiêm niệm sự Tĩnh lặng.

Hoá vàng. Người chết không hẳn là hết. Nhưng là về chỗ KHÔNG THẤY ĐƯỢC KHÔNG BIẾT ĐƯỢC. Hoá vàng là 1 nghi lễ. Cảm giác bình yên thanh tẩy từ LỬA. HUYỄN HOÁ. Nên thận trọng, chăm chú và tĩnh lặng.

Tất cả đều vốn ở chỗ trở về với khoảnh khắc hiện tiền. Nhân quả vốn chính là trong 1 sát na mà thôi. Làm công quả chưa hẳn là để cho kiếp sau. Cốt đưa Tâm về với Tĩnh Lặng trong sát na ấy mà thôi.

Từ bi có cội nguồn từ trí huệ. Khi ta hiểu rõ, thấy biết như vậy về 1 con người với nhân quả duyên hợp thì ta chẳng thể ghét họ được. Nhưng khi chưa đủ đạo hạnh thì việc thấy biết cõi người quá rõ khiến người ta mệt mỏi tuyệt vọng. Cái này C.Jung gọi là "nỗi buồn của Christ"

Khi ở tận cùng của tuyệt vọng, nếu hợp nhân duyên, có khi VỌNG sẽ tiêu tan.

Hiếu đễ. Người đời vụt chạc nên cổ nhân bầy ra phương tiện mà có lễ Vu lan. Há lòng Hiếu phải để riêng cho 1 ngày? Nhưng bởi chúng ta là người, chúng ta cần hộ tâm nhiếp tâm để giữ cho ngay ngắn. Nho gia hương nguyện thường chê người xuất gia lục thân đều lìa bỏ, không phải là người. Vốn họ không biết Phật đề cao chữ Hiếu vì đâu. Cha mẹ là ĐẠI NHÂN DUYÊN lớn nhất, thiết cốt nhất. Phật pháp chỉ cho ta vào chỗ BẤT MỊ NHÂN QUẢ chứ không phải để có thể BẤT LẠC NHÂN QUẢ. Nếu không làm được chữ Hiếu với cha mẹ thì những điều khác đều là hư vọng cả.

3.
Đang đọc lại Huyền thoại Sisyphe của A.Camus. Có thể thấy Người xa lạ là một minh họa cho những ý tưởng được triển khai trong tiểu luận này.

Trích 1 đoạn:

(...) Một thế giới mà thậm chí người ta có thể giải thích được bằng những lí lẽ tồi sẽ là một thế giới thân thiện. Nhưng trái lại, trong một thế giới bỗng nhiên bị tước đoạt mất ảo vọng và ánh sáng, thì con người cảm thấy mình là một kẻ xa lạ. Cảm giác lưu đày này là không thể cứu vãn được nữa, bởi vì nó không còn có những kỷ niệm về một tổ quốc đã mất hoặc không còn hy vọng về một miền đất hứa. Sự tuyệt giao ấy giữa con người với cuộc đời của anh ta, giữa diễn viên với cảnh trí của anh ta, chính là cái cảm giác về sự phi lý. Vì tất cả những người lành mạnh đều nghĩ đến việc tự tử của riêng mình, cho nên không cần phải giải thích thêm mà chúng ta vẫn có thể nhận ra rằng giữa cái cảm giác đó với khát vọng hướng tới hư vô có một mối gắn bó trực tiếp.

(Lấy trong tập Văn học phi lí-Nguyễn Văn Dân)