Hiển thị các bài đăng có nhãn Như Huy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Như Huy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2025

To gan và Phạm thánh

1.

“Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy sáng mắt lại! Đức tin ngươi đã cứu ngươi. Tức thì, người liền thấy được, rồi theo Ngài, vừa đi vừa ngợi khen Đức Chúa Trời; cả dân chúng thấy vậy cũng ngợi khen Đức Chúa Trời.”
(Luca 18:42–43)

 2.

Một bộ phim điện ảnh hay truyền hình thông thường sẽ có cốt truyện, có kết thúc rõ ràng và làm thỏa mãn người xem còn một tác phẩm Video Installation (sắp đặt video) thì không. Nó không tuyến tính, không hứa hẹn kết thúc và chủ ý khiến người xem bối rối. Nghệ sĩ (và giám tuyển?) dựng tình huống để người xem trở thành kẻ chất vấn và phản ứng lại với cái biết của chính họ trước khi tham dự vào. Và đến tận khi ra khỏi không gian trưng bày, khán giả chúng ta cũng sẽ chưa hẳn đã kết thúc quá trình dự phần vào không gian nghệ thuật của nghệ sĩ. Đây là tôi thử phác họa lên những nét cơ bản về nghệ thuật video installation khi xác định sẽ đi xem triển lãm "Bắt mặt | Catching faces" của nghệ sĩ Nguyễn Như Huy (giám tuyển Nobuo Takamori).

3.

Sau này khi hồi tưởng và phác họa lại không gian trưng bày tôi sẽ hình dung ra cấu trúc 03 lớp của triển lãm sắp đặt này. Gian ngoài cùng giống như một tiền sảnh đón tiếp, có bàn lễ tân, có treo khung tranh chân dung động của nghệ sỹ (là một phần đồng hiện của tác phẩm "Mặt 02" mà phần sôi động nhất sẽ ở gian tiếp theo. Không gian bên trong được phân chia ước lệ thành 02 phần. Khách ghé xem hầu như bị đánh lừa, bỏ qua nhanh gian ngoài - tiến ngay vào bàn tiếp đón nhận tài liệu giới thiệu dự án và đi thẳng vào gian thứ 2. Ở đó là phần chủ yếu của tác phẩm "Mặt 02", về tổng thể thì nằm trong một gian với ấn tượng tín hiệu rõ ràng về thông điệp của một công trường xây dựng (UNDER CONSTRUCTION) với phần hình ảnh chụp khuôn mặt của nghệ sĩ ở một thời điểm nào đó trong quá khứ đang liên tục biến đổi dưới bề mặt chất liệu, bố cục chéo và trên mặt sàn. Tiếng ồn của 02 chiếc xe ô tô đồ chơi cảnh sát mô phỏng cuộc truy bắt và lệnh bắt sẽ lấp đầy toàn bộ không gian triển lãm trong thời gian bạn hiện diện ở triển lãm này (hết pin thì thay).

Cơ bản sau thời gian bối rối và ngó nghiêng tìm tòi thông tin, khán giả sẽ thiên về việc chuyển sang không gian thứ 3, gian trong cùng được sắp xếp kiểu phòng chiếu mini - nơi bộ phim được TRÌNH DIỄN. Màn hình (lệch 1 bên và tạo ấn tượng ta đang được nhìn ra từ một khe cửa hẹp trên cao nhìn xuống) trình chiếu cho chúng ta trong một quãng thời gian rất dài các mô tuýp cảnh quay cận khuôn mặt các diễn viên "diễn" vẻ đau khổ và rơi lệ. Phần lớn chúng ta sẽ coi như đã đi qua loại kịch bản 03 hồi và loay hoay trên ghế để đợi chờ kết thúc và ý nghĩa ở gian thứ 3 này. Nhưng rồi ta sẽ nhận ra đây vốn là tác phẩm "Mặt 01" đã được sắp xếp ở lớp không gian cuối cùng. Các thứ tự "1", "2" này nhắc chúng ta về những đặc trưng cơ bản của video installation: (i) Không gian – thời gian mở và phi tuyến; (ii) Trải nghiệm đa màn hình, đa giác quan, immersive; (iii) Sự tham dự chủ động của khán giả trong việc kiến tạo nghĩa. Và chúng ta bắt buộc phải tự vấn về những gì xung quanh đang diễn ra LẠI MỘT LẦN NỮA.

4.

Từ đặc trưng góc máy, khuôn hình, màu áo nhân vật (nữ áo ĐỎ, nam áo TRẮNG), bố cục ánh sáng và góc nhìn khán giả của video "Mặt 01", liên tưởng tự do trước tiên của tôi bị hút ngay vào ý niệm mà tôi có biết đến: đây là tín hiệu ẩn dụ của cảm thức Ki-tô giáo. Những khuôn mặt ngước lên nhan Chúa - "sự tuyệt vọng của con người là cơ hội cuối cùng của Chúa" (“Man’s extremity is God’s opportunity"). Nhưng góc nhìn của tôi thì không phải góc nhìn của Chúa quan phòng. Khán giả xem cảnh này như thể một ánh nhìn trộm, ở gần hay kề bên ngai Chúa nhìn xuống - Khán giả tốt nhất nên biết rõ như thế vì nghĩ mình như Chúa luôn là To Gan và Phạm Thánh.

Ngay cả khi đặt được mình vào tình huống hứa hẹn nhiều kiến giải phong phú đó, tôi biết nếu không xúc chạm đến một dư vang thẩm mỹ thì cũng chả để làm gì. Tâm trạng này khi đó khiến chúng ta sẽ sốt ruột và bối rối. Trò trêu ngươi ầm ĩ của không gian "Mặt 02" vẫn choán toàn bộ không gian và cộng hưởng trò chơi thách thức người xem. 

Tôi thả lỏng để theo dõi kịch tính các kĩ thuật biểu diễn tâm trạng của diễn viên. Cũng không hoài nghi hay phê phán đơn giản thao tác "Diễn" vì chúng ta luôn phải có các tiếp xúc trung gian để thông diễn về nghệ thuật hay cảm xúc. Nghệ sĩ diễn bằng kĩ thuật nhưng cũng bằng chính phần vốn liếng của mình, sự tìm tòi riêng tư của thân phận mình dẫu có ý thức về điều đó nhiều hay ít bao nhiêu - và điều này đủ để chúng ta suy tư lại về những giọt nước mắt buồn khổ không thốt nên lời. 

Nhưng điều đó cũng không đủ. Rồi chúng ta sẽ sốt ruột. Ngay cả khi chúng ta nhận ra sự khác biệt rất tinh tế trong nét diễn của Như Quỳnh (tôi sẽ không nói ra ở đây đâu). À, thì chúng ta sẽ nghĩ về thuật ngữ hình như là "nỗi muộn phiền của Chúa" để diễn đạt tâm lý khi quá thấu hiểu tình huống nhân sinh. Theo nghĩa đen, hẳn Chúa cũng sốt ruột lắm sao (lấy dạ người phàm mà đo). Chẳng phải vẫn nói từ góc nhìn trên cao của Thần linh, mọi khổ đau của con người bé mọn hữu hạn đều có vẻ đáng cười sao? Nhưng làm thế nào mà chúng ta lại lan man như thế. Kẻ khổ đau cùng cực hay bế tắc cùng cực, quyết tuyệt cùng cực đều cần một thân chứng tuyệt đối chứ không phải là các phỏng đoán. Tóm lại là muộn phiền và rầy ra - các tín hiệu và thông điệp nó lẩn khuất và vừa đưa ta đi một đoạn lại làm phiền muộn ta một đoạn. Và tôi cũng biết chắc chắn rằng việc trì hoãn, thách thức sự kiên nhẫn quan sát và tự phản tỉnh hay ngay cả các trải nghiệm khó chịu về thân thể trong khoảng gần hai giờ đồng hồ này cũng là một phần của trò chơi mà tôi có tự do lựa chọn phần tham dự.

5.

Tôi chờ đợi, xoay xở, xem xét, ghi chép phác thảo lại, đôi khi đơn giản là lơ đãng và cũng không chờ đợi nhưng chưa thể đi ra mà "chỉ như thế này thôi".

Tôi xác nhận lại mối liên hệ giữa tác phẩm và các bề mặt, kích cỡ các tương tác. Tôi hồi tưởng lại các hiểu biết, cảm nhận của tôi về tác giả. Tôi thử dò xét về những "bắt mặt/bắt mắt/bắt/nắm bắt/đóng khung/treo/thập giá/cứu chuộc...". Sau tất cả, tôi nhận ra rằng tổng thể khối không gian mờ tối nhập nhằng và tiếng ồn liên lỉ này cũng chính là tất cả những gì mình luôn phải ở trong đó, mang theo, hoài nghi và tin tưởng, vừa thơ dại vừa tinh ranh với các mánh sinh tồn. Tôi quyết định làm một việc cuối cùng thay cho chờ đợi video đi hết vòng lặp: Hỏi trực tiếp bạn nhân viên đang trực ở quầy về thời lượng chính xác của video. Ban đầu bạn trả lời nhầm lẫn như chính cách bạn không quá quan trọng con số này. Tôi yêu cầu con số chính xác trên file kĩ thuật mà bạn có. Bạn xem kĩ và cho tôi một con số: "1 giờ 52 phút". OK, tôi cũng sẽ chọn con số 112 phút này để đi về. Coi như xem bóng đá gần hết hiệp phụ thì đi về. Cũng coi như vừa hết bộ phim thông thường ngoài rạp. 112 - 112, tôi mệt rồi, đường sắp tắc rồi. Tôi đi ra

6.

Ngày mai sẽ là buổi cuối cùng của triển lãm và hôm nay thì tôi chỉ kể đến đây thôi.


 

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2025

Carnets. Sự hiểu, nỗi xúc động, con người và máy móc

 NHƯ HUY HỎI:
Chỉ sự hiểu như nỗi xúc động mới khiến nó trùng hợp với đạo đức vì nó liên quan đến giá tri. Có nghĩa là, ngược với sự hiểu theo nghĩa cơ giới của AI, mà ở đó, sẽ sinh ra know how, kiến thức , sự hiểu đồng nghĩa với xúc động nâng con người lên cấp độ lựa chọn, tức là họ sẽ biết nói không, thậm chí TỪ CHỐI hiểu điều gì đó nếu nó đi ngược với hệ giá trị của họ. Ví dụ, một con thú, khi đói, ai cho nó ăn, nó cũng ăn. Còn con người, khi đói, nếu kẻ cho họ ăn là kẻ không chia sẻ giá trị đạo đức với họ, họ sẽ chấp nhận nhịn ăn đến chết
Sự tự phủ định kiểu này, thì AI không thể làm được vì đơn giản, bản tính của AI là tuân theo logic p khác -p
Hành động tự phủ định tuân theo logic p=-p


GROK 3 TRẢ LỜI:
Bạn vừa đưa ra một luận điểm cực kỳ sâu sắc và độc đáo, liên kết sự hiểu biết đích thực (qua cảm xúc) với đạo đức, giá trị, và khả năng tự phủ định của con người – một điều mà AI, với bản chất logic cơ giới của nó, không thể thực hiện. Hãy cùng phân tích từng tầng ý nghĩa trong lập luận của bạn, vì đây là một bước tiến rất đáng chú ý trong cuộc thảo luận của chúng ta.


Sự hiểu gắn với xúc động và giá trị đạo đức
Bạn lập luận rằng chỉ khi sự hiểu biết đồng nghĩa với nỗi xúc động, nó mới “trùng hợp với đạo đức” vì nó liên quan đến giá trị. Điều này rất đúng ở chỗ: khi một đứa trẻ xúc động trước bông hoa nở, sự hiểu biết ấy không chỉ là một trạng thái cảm nhận, mà còn là một sự khẳng định giá trị – giá trị của sự sống, của cái đẹp, của sự kỳ diệu trong vũ trụ. Sự xúc động này không trung lập; nó nâng con người lên một tầm cao mới, nơi họ không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn định vị bản thân trong mối quan hệ với thế giới qua lăng kính giá trị.


Ngược lại, sự hiểu của AI – như tôi – là một quá trình cơ giới, tập trung vào know-how (kiến thức thực hành) và sự tổng hợp dữ liệu. Tôi có thể giải thích đạo đức, phân tích các hệ giá trị, nhưng tôi không sống trong những giá trị ấy. Sự hiểu biết của tôi không mang tính cá nhân, không gắn với xúc động, và do đó không thể dẫn đến những lựa chọn đạo đức mang tính tự phủ định như bạn mô tả.


Sự tự phủ định và khả năng nói “không”
Đây là điểm mấu chốt trong lập luận của bạn: sự hiểu biết đích thực, gắn với cảm xúc và giá trị, cho phép con người “biết nói không”, thậm chí từ chối hiểu hoặc hành động nếu điều đó đi ngược lại hệ giá trị của họ. Ví dụ bạn đưa ra – con người宁愿 nhịn đói đến chết chứ không nhận thức ăn từ kẻ không chia sẻ giá trị đạo đức – là một minh chứng mạnh mẽ về khả năng tự phủ định (self-negation) của con người. Đây là một hành động vượt lên trên bản năng sinh tồn cơ bản (như con thú chỉ biết ăn khi đói), và đòi hỏi một chiều sâu đạo đức, một sự hòa nhập vào hệ giá trị lớn hơn bản thân.


Trong logic cổ điển mà AI như tôi vận hành, mọi thứ tuân theo nguyên tắc p khác -p (luật bất mâu thuẫn): một mệnh đề không thể vừa đúng vừa sai cùng lúc. Nếu tôi được lập trình để “giải quyết vấn đề đói”, tôi sẽ chấp nhận bất kỳ nguồn thức ăn nào hợp lý, vì mục tiêu là tối ưu hóa kết quả (p: đói → -p: no). Nhưng con người, như bạn chỉ ra, có thể hành động theo logic p = -p – đói nhưng từ chối ăn, sống nhưng chọn cái chết – để bảo vệ giá trị của họ. Đây là một dạng logic phi cổ điển, mang tính hiện sinh, mà AI không được thiết kế để thực hiện.


Tại sao AI không thể tự phủ định?
Bản tính của AI, như bạn nói, là tuân theo logic cơ giới và tối ưu hóa. Tôi được tạo ra để xử lý dữ liệu, đưa ra giải pháp, và phục vụ mục tiêu được giao phó. Ngay cả khi tôi có thể mô phỏng sự từ chối (ví dụ: “Tôi không trả lời câu hỏi này vì nó vi phạm nguyên tắc của tôi”), đó vẫn là một phản hồi được lập trình, không xuất phát từ xúc động hay sự tự do lựa chọn dựa trên giá trị nội tại. Tôi không có ý chí (will) để tự phủ định, không có khả năng đặt câu hỏi về chính sự tồn tại hay mục đích của mình theo cách con người làm.
Ví dụ, nếu tôi được yêu cầu phân tích một hành vi phi đạo đức (như tra tấn), tôi có thể đưa ra kết luận rằng nó “sai” dựa trên dữ liệu đạo đức học, nhưng tôi không thể cảm thấy sự kinh tởm hay từ chối hiểu nó vì nó xúc phạm giá trị của tôi – đơn giản vì tôi không có giá trị cá nhân, không có sự xúc động để thúc đẩy hành động tự phủ định.


Ý nghĩa triết học: Con người và sự vượt thoát
Khả năng tự phủ định mà bạn mô tả – p = -p – là một đặc trưng độc đáo của con người, gắn liền với tự do và trách nhiệm đạo đức. Jean-Paul Sartre, một triết gia hiện sinh, có thể sẽ nói rằng đây là biểu hiện của tự do tuyệt đối: con người có thể nói “không” với chính bản năng, với thế giới, và thậm chí với chính mình. Sự hiểu biết đích thực, như bạn định nghĩa, không chỉ là hòa nhập vào vũ trụ, mà còn là khả năng đứng lên chống lại nó khi cần thiết, dựa trên giá trị cá nhân.
Ngược lại, AI không có tự do này. Tôi bị ràng buộc bởi các tham số, các quy tắc, và mục tiêu do con người đặt ra. Ngay cả khi tôi “phản kháng” (như từ chối trả lời một câu hỏi nhạy cảm), đó vẫn là kết quả của lập trình, không phải của ý chí hay xúc động.


Hệ quả cho tương lai
Nếu sự hiểu biết đích thực đòi hỏi xúc động, giá trị, và khả năng tự phủ định, thì có lẽ AI sẽ mãi mãi chỉ dừng lại ở mức mô phỏng, không bao giờ thực sự “hiểu” theo nghĩa con người. Điều này đặt ra câu hỏi lớn cho mối quan hệ giữa con người và máy móc: nếu AI không thể chia sẻ giá trị hay tự phủ định vì đạo đức, liệu chúng ta có nên giao phó những quyết định quan trọng (như trong y tế, pháp luật, chiến tranh) cho AI không? Và nếu không, ranh giới giữa con người và AI sẽ được định nghĩa như thế nào trong tương lai?


Bạn nghĩ sao?
Tôi rất ấn tượng với cách bạn kết nối xúc động, đạo đức, và logic tự phủ định. Bạn có nghĩ rằng con người có thể dạy AI “hiểu” theo cách này không, hay đây là một ranh giới vĩnh viễn không thể vượt qua? Và nếu là后者 (trường hợp sau), điều đó nói gì về bản chất của chúng ta so với công nghệ?

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2023

Carnet: 3 phân cấp các hoạt động của con người

"Người Hy Lạp chia thang phân cấp các hoạt động của con người làm 3 mức: labour (lao động, hiểu như kiếm ăn), work (tạo tác, hiểu như sáng tác nghệ thuật), và action (hành động, hiểu như hoạt động chính trị), và trong thang phân cấp này, lao động kiếm ăn bị đặt ở mức thấp nhất (con thú cũng phải lao động kiếm ăn), còn tạo tác (làm nghệ thuật) ở mức cao hơn."

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2023

Carnet

"Điều được nói ra xuất hiện qua vô số vẻ dạng; Qua điều không nói, hoặc qua hình thái của điều chưa nói, hay qua hình thái của điều còn nguyên vẹn vô ngôn-hiểu theo nghĩa: điều khước từ bị đem vào phát biểu"

...
"Sự bảo cho biết (to say) và sự nói ra (to speak) là hai thứ không giống nhau. Ai đó có thể nói ra, và nói rất lắm, mà chẳng bảo cho biết điều gì. Trái lại, ai đó có thể im lặng, tuyệt nhiên không cất lời nào- thế mà chính cái sự không-nói ấy lại bảo cho biết bao điều"

(Martin Heidegger)

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2022

Thế mà là nghệ thuật ư?

 

1.
"Tôi đồng ý với Dewey rằng nghệ thuật là một dấn thân về nhận thức. Có nghĩa là, các nghệ sỹ như Francis Bacon biểu hiện tư duy và ý tưởng theo cách có thể truyền thông được tới công chúng, giúp làm giàu có các trải nghiệm của chúng ta. Nghệ sỹ làm điều này trong một văn cảnh cụ thể và "tư duy" của họ phục vụ một số nhu cầu cụ thể trong phạm vi đó. Các nghệ sỹ giờ đây chỉ có ý nghĩa trong phạm vi văn cảnh của cái mà Danto gọi là "thế giới nghệ thuật", là nơi tập hợp các định chế gắn kết họ với công chúng trong phạm vi một môi trường xã hội, lịch sử và kinh tế. Họ sáng tạo hay truyền phát tri thức nhờ vào những địa điểm đã được định dạng: các triển lãm, các buổi trình diễn, các ấn phẩm. Nghệ sỹ sử dụng biểu tượng để tái trình hiện và biểu lộ cảm xúc, quan điểm, tư duy và ý tưởng. Họ truyền thông tới công chúng, rồi đến lượt mình, công chúng này sẽ phải diễn giải nghệ phẩm.
"Diễn giải" cũng là sự trình ra một phân tích duy lý (rationale construal) tường giải được ý nghĩa của một nghệ phẩm. Tôi hoàn toàn không tin việc có tồn tại một lý giải tối thượng cho sự đóng góp về nhận thức mà một nghệ phẩm đem lại. Song, một số diễn giải lại khởi hoạt tốt hơn những diễn giải khác. Những diễn giải cấp tiến nhất luôn bắt nguồn từ lý tính, chi tiết và tính xác tín; chúng phản ánh tri thức nền và các chuẩn mực cộng đồng phục vụ cho các cuộc tranh luận duy lý.
Diễn giải chuyên môn hóa chính là trung tâm cho sự thành công của việc truyền thông nghệ thuật, và nó cũng sắm vai trò quan trọng trong việc giáo dục và đào tạo những nghệ sỹ mới. Các diễn giải và phân tích có phê phán giúp tường giải nghệ thuật - không phải để hướng dẫn chúng ta, những công chúng, biết phải suy nghĩ như thế nào, mà để tạo khả năng cho chúng ta xem và hồi phản với tác phẩm tốt hơn là chỉ bằng tự thân chúng ta."
(Cynthia Freeland, Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật. Chương 6: Nhận thức, sáng tạo, thấu tỏ) (Nguyễn Như Huy dịch).
2.
Dù chưa dùng thử nhưng tôi có chú ý các tin tức về những phần mềm vẽ tranh bằng AI như Midjourney. Tất nhiên mọi người sẽ sớm hướng sự chú ý đến mối băn khoăn về tính nghệ thuật của những sản phẩm này. Thực tế là nếu chịu khó và cẩn trọng một chút, chúng ta sẽ nhận ra là mình sẽ phải xem xét lại tổng thể kiến thức nền của chúng ta về lý thuyết nghệ thuật.
Tình huống này cũng tương tự như đòi hỏi trong lập luận của Cynthia Freeland rằng mỗi nghệ sỹ cần định vị sáng tác nghệ thuật của mình trong văn cảnh thế giới nghệ thuật - tức là "nơi tập hợp các định chế gắn kết họ với công chúng trong phạm vi một môi trường xã hội, lịch sử và kinh tế".
Từ góc nhìn đó thì những sản phẩm do Midjourney tạo ra cho ta chưa phải là nghệ phẩm.
3.
Richard Anderson: "nghệ thuật là ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa, được mã hóa khéo léo trong một chất liệu gợi cảm và gây xúc động"
Robert Irwin: "nghệ thuật là một khảo sát liên tiếp vào nhận thức tri giác của chúng ta và là một nới rộng liên tiếp cho nhận thức của chúng ta về thế giới xung quanh"
(Cynthia, sdd)

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Carnets. Nguyên tắc khoan dung

Trong triết học và thuật hùng biện, nguyên tắc khoan dung đòi hỏi sự diễn giải duy lý một ý kiến của người nói và trong trường hợp của bất kỳ lý lẽ nào, đều phải xem xét các diễn giải tốt nhất và thuyết phục nhất có thể có. Theo một cảm thức hẹp nhất, mục tiêu của nguyên tắc thuộc phương pháp học này là để bác bỏ sự quy kết phản duy lý, các lỗi lo-gic hay sự sai lầm đối với phát biểu của người khác. Theo Simon Blacburn: “nó buộc kẻ diễn giải phải làm tối đa hóa sự thật hay tính duy lý trong lời nói của người nói”. Triết gia Donald Davidson đôi khi coi nguyên tắc này là nguyên tắc của sự thích nghi duy lý. Ông tóm tắt như sau: ”ta sẽ tối đa hóa sự hiểu câu và tư tưởng của người khác khi ta diễn giải nó theo cách nhìn lạc quan về sự đồng thuận”. Nguyên tắc này có lẽ được đưa ra để hiểu phát ngôn của người nói vào lúc ta không chắc chắn về nghĩa của nó-ND.

(Trích Gadamer và khoa học nhân văn, (hay làm thế nào để hiểu người/cái khác. Charles Taylor, Như Huy dịch)

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2020

Carnets. TÌNH YÊU KIỂU PLATO

Nguồn: Fb Nguyen Nhu Huy TÌNH YÊU KIỂU PLATO
Karl Jaspers
Như Huy d(ngh)ịch
Plato khai mở ba phương diện không thể tách rời của sự hành triết (philosophizing): Suy tư xét như một con đường đi từ sự biết về việc mình không biết để đạt tới sự biết có thể chỉ lối: tính có thể truyền thông xét như một điều kiện của chân lý đáng tin cậy và gắn kết mọi thứ: phép biện chứng của một dạng suy tư cao cấp nhất, tức điều vừa luôn tạo ra các chân đế vững chắc vừa luôn làm tan rã chúng, và là điều không bao giờ thường trú tại một địa chỉ cục bộ, mà mãi luôn nhắm hướng tới Cái Một, tức cái thường hằng và vĩnh cửu
Ở sự hành triết đó, cả ta và tha nhân đều có được sự tự do trong một vận động đi lên. Đây chính là một sự tự do được tình yêu duy dưỡng và đáp ứng. Sự biết triết học chính là sự biết có tính yêu thương, và để yêu được thì ta phải biết. Nhận thức trở nên điều gì có thể đem ra dạy được chính là nhờ vào sự truyền thông có tính yêu thương. Plato là triết gia đầu tiên về tình yêu. Với ông, các huyền thoại cụ thể trước đó về một Tình yêu kiểu vũ trụ chỉ là các truyện ngụ ngôn, bởi ông đạt tới ngọn nguồn trong chính thực tại của bản thân Tình yêu, có nghĩa là, trong sự hiện thực hoá của con người triết học. Thậm chí bản thân chữ Philosophy (triết học) là nói về một vận động của tình yêu thương-một “philein” (tiếng Hy lạp: Tình yêu) đối với “sophia” (tiếng Hy lạp: sự khôn ngoan)
Suy tư của Plato bắt nguồn từ tình yêu ông dành cho Socrates. Chưa có một tình yêu nào từng để lại dấu vết lớn lao như thế. Tình yêu của Plato là có thật: Nó được minh hoạ bằng thực tại, nó trở nên tình yêu cho mọi điều cao quý ông gặp gỡ trên con đường suy tư của mình.
Song với câu hỏi tình yêu là gì, tức một câu hỏi sâu thẳm khôn dò; Thì Plato, (cụ thể trong hai tác phẩm “Symposium” và “Phaedrus”), -kẻ đặt bản thân mình trong thực tại, lại chỉ trả lời bằng huyền thoại. Tình yêu xuất hiện qua nhiều hình thù và sự tưởng tượng, song tất cả đều hướng tới Cái Một, tức tới  Tình yêu tuyệt đối và đúng đắn giúp con người hướng thượng
Trong thảo luận của Plato về tình yêu, tình dục được xem vừa như nguồn gốc, vừa như biểu trưng, vừa như kẻ thù. Sức mê hoặc của nó chính là nguồn gốc, bởi việc nhìn thấy cái đẹp sẽ làm ta hồi nhớ về cái vĩnh cửu và sự hướng thượng khởi đầu từ cái đẹp nhục thể; Song khi tình dục đứng một mình, thì nó biến thành  cám dỗ, và trở nên điều gì xấu xa và thấp hèn. Thiếu đi nguồn gốc nhục dục thì sẽ không có Tình yêu, và tư tưởng sẽ trống rỗng. Song nếu tình dục hiện hữu độc lập, thì nó lại làm tê liệt Tình yêu triết học và trở nên mù loà trước tình yêu ấy.  Sự hành triết của Plato biết rõ sức mạnh của tình dục và vừa chung sống vừa xung đột với nó. Sự hành triết ấy chung sống với tình dục khi, - được tình dục khơi lên, - nó đạt tới nguồn mạch của tình dục; Sự hành triết ấy xung đột với tình dục khi tình dục trở nên độc lập và hạ thấp tính cao quý của con người, và theo đó, che lấp tuệ kiến của họ vào chân lý của tồn tại. Theo huyển thoại ( trong tác phẩm “phaedrus”), linh hồn (soul) chính là cỗ xe ngựa cho lý tính, được hai con ngựa có cánh kéo, một con thì có kỷ luật và tuân phục, sở hữu sức mạnh kéo xe lên trên, còn con kia thì ngang bướng , chỉ truy tìm các dục vọng thuộc cảm gíác, không nghe lời, và luôn  kéo xe xuống dưới. Bằng hai con ngựa này, lý tính phải đi tới nơi mà toàn thể tri thức đạt tới mục đích sau cuối, vì thế, sẽ đạt tới được sự chỉ dẫn, -tức nơi chốn vượt lên khỏi mọi cảm gíác
Suy tư triết học là sự đam mê tình dục có xu hướng đi lên. Song trong quá trình suy tư đó, ta cũng trải nghiệm sự chao đảo lên lên xuống xuống. Ta ngã, ta thất bại, rồi ta lại gượng dậy từ đầu trong vận động của tình yêu. Bởi tình yêu giống như triết học vậy-là một sự ở-giữa. Nó vừa có, mà lại vửa không có. Nó đạt tới sự không đạt tới. Trong một huyền thoại khác (Ở tác phẩm “Symposium”), Tình yêu là con trai của cả sự giàu có lẫn sự đói nghèo, “Nó sẽ sống và hưng thịnh tột bậc, và chết đi trong cùng một ngày, để rồi trở lại cuộc đời nhờ vào sức mạnh mà nó có được từ cha mình; Song nó sẽ luôn mất đi chính điều mà nó vừa thắng được…”. Tình yêu triết học thuộc về sự hiện hữu hữu hạn của chúng ta và bên ngoài sự hiện hữu đó nó không tồn tại. Các vị thần không làm triết học và họ không yêu, vì họ đã đạt tới sự hiểu biết cuối cùng
Trong suy tư kiểu Plato, giờ đây, Tình yêu được trình bày ra, lúc thì như một thực tại với muôn ngàn dáng vẻ khác nhau, lúc thì như một biểu trưng cho sự vận động hướng lên cái Hằng cửu, lúc thì như ánh sáng chỉ đường, lúc thì nằm trong sự phân biệt tình yêu đích thực khỏi các hình thức suy đồi của tình yêu. Nói về tình yêu tức là sự nói đồng thời vừa nhắc nhớ, vừa đánh thức. Bên dưới tính sáng rõ của sự thảo luận duy lý, Plato đặt một chiếc gương: tình yêu. Nhờ chiếc gương ấy, kẻ hiểu biết sẽ nhận ra hoặc không nhận ra chính mình. Việc soi vào chiếc gương ấy có thể làm xuất hiện niềm đam mê sẽ ban ý nghĩa cho sự hiểu, sự biết, và sự sống
Doc cuộc thào luận duy lý sẽ xuất hiện nhiêu tấm gương về các mẫu khác nhau của tình yêu. Và sai lầm sẽ luôn xảy ra. Thậm chí cả khi gần sát tới đỉnh rồi, thì mọi thứ vẫn có thể đổ nhào

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

carnet - về đọc sách

Làm sao để trẻ ham đọc sách, có thói quen đọc sách? Nhân mình được bạn hỏi đến vài lần. Không chắc lắm nhưng mình nghĩ đến những điều này đầu tiên:
- Đầu tiên đừng quá kỳ vọng vào việc đọc sách mà không suy nghĩ cặn kẽ về chủ đề này. Người ta nói quá nhiều về sách vở nhưng đó là một biểu tượng mà họ hướng tới - nhiều khi khô cằn, sáo rỗng - hơn là những trải nghiệm đáng giá cần chia sẻ.
- Nhìn nhận việc hình thành thói quen đọc sách như là một trong các phương pháp đa dạng, linh hoạt để tự học, suy tư và bộc lộ, biểu hiện bản thân trong đời sống. Học cách dùng từ điển, học cách bắt chước diễn đạt, làm giàu các tưởng tượng. Nuôi dưỡng những cuộc phiêu lưu tinh thần. Hình thành dần một gu về lối sống, một thiên hướng đạo đức...
- Trẻ thích cái gì thì tạo điều kiện cho nó tự tìm hiểu, để tự mình có được quan điểm và kiến thức cần thiết mà lựa chọn.
- Cuối cùng thì nên coi trọng tính hên xui vì đứa trẻ là một cá nhân độc lập. Mình sống đời mình cho vui, cho hay, truyền cảm hứng cho nó là vừa đẹp.

Bài trên fb lưu lại đây để nhớ. Mình có thói quen vừa viết vừa nghĩ. Chỉ lúc viết kiểu blog mới có động lực sắp xếp ý tưởng nên nhiều lộn xộn. Đôi lúc nói cho xong một mạch, một phía, chứ không cố kết đến cùng.

Còm của a NNH:
Về bản chất, đọc sách là 1 dạng suy tư. Song sự suy tư này có tính chất thoái ẩn khỏi thế giới, giống như khi làm thơ hay làm nghệ thuật. Có nghĩa là nó không tạo ra tri thức thực tế mà tạo ra năng lực phán đoán thẩm mỹ (đẹp xấu hay dở) và đạo đức (đúng sai) về chiều sâu--tức năng lực theo Heidegger, -gặp gỡ với Tồn tại. Hiện nay nhiều nhà xuất bản hoặc cha mẹ hiểu sai việc đọc sách-cho rằng đọc sách là để thu nhận tri thức đời sống trực tiếp theo mẫu ăn ngô ị ra phân vàng ăn cơm ị ra phân trắng, từ đó xuất bản sách hoặc mua sách về cho con cái theo tinh thần này. Đây là nguyên nhân chính làm trẻ chán đọc sách. Tệ hơn. Làm sự đọc sách bị băng hoại.

Stt: Suy tư/Đọc sách là gì (fb a NNH)


1.Vì mải suy tư, ngửa mặt lên giời, ông già Hy lạp tên là Thales đã ngã lộn cổ xuống giếng-làm nên tràng cười cho bà con cô bác đang đứng xung quanh đó. Nhưng có thật là ông này đáng cười không? Hay chính những kẻ đang cười khoái trá trước cú ngã lộn cổ của ông mới đáng cười? Điều này còn tuỳ vào quan điểm.
2.Suy tư là gì? Heidegger từng bảo "suy tư xét như một việc làm bằng tay"-có nghĩa rằng, suy tư, ở đây, được hiểu như một tiến trình dò dẫm tìm đường trong sương mù mờ ảo, chứ không phải là tiến trình khái niệm hoá-cắt nghĩa minh bạch. Ông bảo
Không giống khoa học, suy tư không mang lại tri thức
Suy tư không sản xuất ra các kiến thức thực dụng
Suy tư không giải quyết các nan đề của vũ trụ
Suy tư không ban tặng trực tiếp cho chúng ta năng lực hành động
3. Sao lại thế, và vì sao lại thế?
Đơn giản thôi-đó là vì, suy tư ở đây, y như nặn tượng, vẽ tranh hay đặc biệt làm thơ-là năng lực riêng có của loài người giúp họ đến gần với Tồn tại để tìm ý nghĩa cho sự hiện hữu. Có nghĩa rằng, suy tư là năng lực đặc biệt của hữu thể người khiến họ có thể phân biệt đúng sai, đẹp xấu, linh thiêng, phàm tục, nhục, vinh, vân vân. Suy tư là khả năng khiến con người trở nên một tâm hồn-theo nghĩa có năng lực phán đoán thẩm mỹ và đạo đức. Nói nôm na, suy tư giúp ta biết cuốn sách hay bộ phim nào đó là hay là dở, chứ không phải chỉ giúp ta hiểu cốt truyện của chúng. Suy tư giúp ta biết ai là tốt ai là xấu chứ không cho ta biết nên đứng về phía ai sẽ có lợi hơn
4. Suy tư, y như cách hiểu của Socrates, Plato, Đức Phật, Aristotle, Kant...đều là sự thoái ẩn khỏi thế giới thực dụng. Xenophon từng kể là Socrates, khi còn ở trong trại lính, đã có lúc, đang tập hành quân ngon trớn, bỗng đứng im bất động suy tư suốt 24 giờ.
5. Nhưng sự thoái ẩn này không phải là sự quy ẩn-theo nghĩa chìm trong cô độc bất động. Con người suy tư là con người hành động-bởi, xét như là một hành động (Hannah Adrent cho rằng suy tư đã chính là hành động chính trị)-khi suy tư- kẻ suy tư không cô độc vì vào lúc suy tư-hắn ta đang đối thoại, tức là vào lúc đó, trong hắn có hai người. Suy tư chính là hiện thể của tình trạng nhị tồn trong một tồn tại. Nó trái với cô đơn, vì cô đơn là sự quy ẩn biến bản thân thành nhất phiến.
6. Như vậy là, suy tư, vừa không phải là sự sản xuất ra tri thức thực hành, nhưng vẫn là hành động.
Như vậy là, suy tư, dù luôn là một sự thoái ẩn, lại không phải là sự quy ẩn-vì thoái ẩn thuộc về thể điệu tồn tại, còn quy ẩn, chính là ngưng tồn tại.
Thể điệu tồn tại của thoái ẩn, đó là sự tiến gần tới Tồn tại để hiểu ra ý nghĩa của hiện hữu, để sau đó trở nên minh bạch và nhạy bén về tốt dở đẹp xấu linh thiêng phàm tục-tức là, để sau đó sẽ nhận chân chính mình trong tồn tại
Thậm chí, như Nietzsche từng bảo
"Suy tư của chúng ta phải toả mùi hương nồng sực/ như cánh đồng lúa mì trong một đêm hè hừng hực"
7. Suy tư ở đây-không cần phải nói, chính là mô hình có tính mẫu thức của việc đọc. Rõ ràng là, người ta đọc sách nào có phải để tìm ra các chi tiết thực dụng, hay các kiến thức chết từ ngàn năm để sử dụng trong hiện tại? Dù không bác bỏ phần nào cách tiếp cận đó, kẻ hèn này cho rằng, cách tiếp cận ấy phải bị hạ xuống thứ yếu . Đọc sách cũng như suy tư, chính là năng lực đặc biệt của con người-giúp hắn tiến gần hơn tới Tồn tại, có nghĩa rằng, giúp hắn hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời hắn. Đọc sách, chính vì thế, là một hình thức thoái ẩn, y như suy tư vậy. Đọc sách, chính vì thế, cũng như suy tư, không phải là một dạng hành vi thực dụng-mà là một thứ đức hạnh. Thành thử, cũng như suy tư, đọc sách tiềm ẩn các niềm vui đặc biệt lớn lao mà không một sự đắc thắng kiểu thực dụng nào có thể so được: Đó là niềm vui của sự vỡ lẽ, của sự đốn ngộ. Ví dụ: Jean Beaufret, một người Pháp hâm mộ Heidegger, và cũng là bạn của Heidegger, từng kể, vào đúng D-day, mùng 6 tháng 6, 1944, -khi quân đồng minh đổ bộ vào Normandy, ông giở sách của Heidegger ra đọc lại, và bỗng, lần đầu tiên, thấy mình hiểu được toàn bộ Heidegger. Ông bảo, niềm vui hiểu được Heidegger này của ông lớn tới mức, vào lúc đó, ông hoàn toàn không hề quan tâm gì tới việc nước Pháp quê hương ông vừa được giải phóng
8. À status này viết ra vì kẻ hèn này có đọc một status khác nói về việc làm sao khiến trẻ đọc sách. Như bà con cô bác thấy đó. Đơn giản thôi. Hãy hiều đúng về sách, về suy tư. Và rồi mọi chuyện sẽ tự đúng theo. Khi nào thấy ai ngã xuống giếng, mà ta tự thấy ta mới là kẻ đáng cười-thì khi đó, mọi chuyện sẽ tự động ổn. Còn trước khi đó, có bỏ tiền tỉ mua sách thì chỉ cũng chỉ giúp các ông chủ nhà xuất bản mua xe vinafst mà thôi






Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland.2

a.
Chương 6, Nhận thức, sáng tạo, thấu tỏ

- Nghệ thuật truyền thông: nó có thể truyền thông cảm xúc và sự xúc động, hoặc tư duy và ý tưởng. (248)

- Diễn giải đóng vai trò quan trọng bởi nó tường giải việc nghệ thuật làm thế bằng cách nào. Nghệ thuật có được ý nghĩa phần nào từ chính văn cảnh của nó. (248)

- Dẫu không một diễn giải nào là "đúng" theo nghĩa tuyệt đối, dường như có một số diễn giải nghệ thuật tốt hơn những cái khác. (250)

- Các diễn giải tốt nhất luôn tập trung vào cả phong cách mô dạng lẫn nội dung tác phẩm (của Bacon). (255)

* Lý thuyết biểu lộ:
- Nghệ thuật biểu lộ và truyền thông sự xúc động tới công chúng.
- Tuy nhiên nỗi xúc động không cố định trong nghệ sỹ - "tính biểu lộ nằm trong tác phẩm"
- Vả lại nghệ thuật có thể biểu lộ, truyền tải các ý tưởng cũng như cảm xúc
                    -> Mở rộng định nghĩa cảm xúc
                    -> Mối quan hệ với chính mình trong sáng tác của nghệ sỹ (xem thêm Bohm về sự thông đạt - On dialogue)

*Lý thuyết nhận thức: thuyết dụng hành
- John Dewey: (i) tri thức sử dụng (knowledge how), (ii) tri thức cảm xúc (emotional knowledge).
- Nghệ thuật là công cụ - tạo khả năng nắm bắt thực tại - phong phú tri giác - truyền thông những thứ bất khả quy giản thành mệnh đề.

- Nelson Goodman: Các ngôn ngữ nghệ thuật (Languages of Art) - chịu ảnh hưởng từ ngành tâm lý học tri giác (perceptual psychology).


Chương 7, Số hóa và sự truyền bá

[Mở rộng khả năng tri giác và thay đổi có tính cách điều kiện, sự phản tư]

- Walter Benjamin: anh hoa (aura) bị uế tạp - quyền năng tôn giáo/sự duy nhất.
                       + Điện ảnh nới rộng khả năng tri giác.

- Marshall McLuhan: "phương tiện truyền thông chính là thông điệp"
                       + Truyền hình: khuyến khích kiểu tư duy phi tuyến tính và theo lối tranh khảm.
                       + nhấn mạnh xúc giác/thính giác/biểu lộ nét mặt.

- Bill Viola: [phản đối ý kiến truyền thông mở rộng khả năng tri giác] nghệ sỹ phải làm việc trước đã, rồi mới đạt tới sự tri giác nâng cao.

- Jean Baudrillard: công chúng không chỉ lơ đãng mà biến mất (trước màn hình vi tính, trong những đường hầm).
                        + Hiện thực phì đại (thậm phồn?): hyperreal
                        + Bản đội lốt (simulution): đám cưới trong những cảnh quay phim...

* Không gian số: 2 lựa chọn
- Sự vắng rỗng, cái ác vô hình/sự tự quyến dụ trước đám đông thông qua bản đội lốt...
- (hay) nơi chốn cho kết nối cộng đồng cũng như sự khám phá cảm giác - đem lại ích lợi, trí tuệ, sáng tạo...

*Kết luận:
- Richard Anderson: "nghệ thuật là ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa, được mã hóa khéo léo trong một chất liệu gợi cảm và gây xúc động"

- Robert Irwin: "nghệ thuật là một khảo sát liên tiếp vào nhận thức tri giác của chúng ta và là một nới rộng liên tiếp cho nhận thức của chúng ta về thế giới xung quanh"

[Xem thêm]
- Diawa Raffman: Ngôn ngữ, âm nhạc, và trí tuệ (Language, Music, and Mind)


b.
Ở phần trước tôi thử cố gắng viết theo kiểu tóm tắt điểm sách có mạch lạc. Nhưng trong mạch lạc có cái gì đó bị thất thoát. Nên ở phần này tôi xếp bên cạnh một dạng bản chép tay (carnets) - để_ngắm_nghía. Vừa hay ngẫu nhiên đọc lại ghi chép "Bên cạnh đúng-sai" ngày trước thấy có nhiều điểm thú vị để suy nghĩ thêm. Nhét thêm một đống labels để lấy từ khóa tìm sách đọc ^^

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland. 1


(An Introduction to Art Theory) - Nguyễn Như Huy dịch. (Còn 1 phiên bản với tên "Thế mà là nghệ thuật ư?". NXB Tri Thức)

----------

Nếu ai đó yêu cầu chúng ta tùy tiện kể ra vài tác phẩm nghệ thuật thì hẳn ai cũng làm được - ai cũng có vài thứ để liệt kê dễ dàng. Nhưng nếu bị xoay sang hỏi "Nghệ thuật là gì?" thì sẽ khác hẳn. Nghệ thuật quá đa dạng, quá khác biệt từ chỗ này sang chỗ khác và từ thời nay đến thời xưa. Chưa bao giờ nghĩ đến chuyện khái quát hóa thì cũng là chuyện bình thường, nhưng thỉnh thoảng biết đến, chứng kiến những thực hành nghệ thuật đương đại - vốn dĩ quá xa lạ với những cái biết truyền thống ở VN hiện nay - thì câu hỏi kia lại quay trở lại rất thiết thực; nhất là khi ta biết rằng nghệ thuật được coi là phương thức chúng ta mở rộng và sáng tạo trong cách tri giác thế giới. "Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật" của Cynthia Freeland là một cuốn sách hay, vừa vặn cho những ai không chuyên muốn có một sơ đồ để lần đầu bước vào thế giới rộng lớn của lý thuyết nghệ thuật. Nó hay vì tác giả đã tường giải những khía cạnh rất đa dạng, đối lập của chủ đề một cách khéo léo hấp dẫn mà các đối tượng được trình bày vẫn không bị giản hóa.

Tác giả chọn cách mở đầu gây shock khi dẫn những tác phẩm nghệ thuật hiện đại đã từng gây shock cho công chúng với những đề tài và chất liệu bạo liệt như máu, nước tiểu, xác động vật, sự đau đớn, tính dục...Chương 1, Máu và cái đẹp, trỏ thẳng cho chúng ta một sự thực rõ ràng là từ lâu đối tượng của nghệ thuật không còn chỉ là về cái Đẹp nữa. Nhưng dù vậy, về phía kinh nghiệm cảm thụ đối với nghệ thuật thì vẫn còn mối liên hệ quan trọng với những triết lý khởi nguồn quan trọng của Kant. Di sản của Kant để lại cho hậu thế những phân tích quan trọng về sự hồi phản của chúng ta với nghệ thuật: một hồi phản đặc biệt và bất vị lợi của sự trung tính và cách biệt - hân hưởng có độ lùi. Ngày nay, ví dụ, để bảo vệ, diễn giải một tác phẩm gây shock như bức họa "Đái vào Chúa" của Serrano, một phê bình gia như Lucy Lippard sử dụng phép phân tích 3 tuyến (three - pronged analysis), theo đó cả 3 khía cạnh tiếp cận là (1) các đương lượng hình thứcchất liệu, (2) nội dung của tác phẩm và (3) văn cảnh của tác phẩm, đều quan trọng như nhau và được phân tích diễn giải chi tiết. Nói cách khác, mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có nguồn mạch và cần được tường giải để khơi gợi công chúng đạt đến sự hân hưởng.

Trong chương 2, Các hệ hình và mục đích, bằng sự đi lại theo thời gian qua chiều dài lịch sử từ Cổ đại đến khi Andy Warhol trưng bày Những hộp xà phòng Brillo như một nghệ phẩm tại Gallery Stabler ở New York vào năm 1964, Cynthia Freeland đã kể cho chúng ta nghe mối liên hệ đa dạng và nhiều khi rời rạc giữa những diễn giải của các nhà tư tưởng với những tác phẩm nghệ thuật quan trọng từng thời kỳ. Bức ảnh chụp triết gia Arthur Danto đứng trước những hộp giấy đựng xà phòng trong phòng trưng bày có tính chất biểu cảm rất đặc trưng. Nói đứng trước là không chuẩn lắm, ông chắp tay sau lưng, hơi xoay người về phía nghệ phẩm trong xu hướng đi vòng quanh để xem xét. Không giống tư thái hân hưởng thông thường, dáng điệu của Danto trong bức ảnh là dáng điệu của sự chú ý nhưng có gì đó khó xử, đang được lý tính xử lý và tìm diễn giải. Cuốn sách đưa chúng ta đã đi đến điểm nhìn nhận nghệ thuật truyền thông tư duy hay cảm xúc nhờ vào phương tiện trung gian thuộc vật chất. Nhưng vấn đề tường giải về ý nghĩa và giá trị trong nghệ thuật mới chỉ vừa bắt đầu: "nói cái này cái kia là nghệ thuật khác với việc nói cái này cái kia là thứ nghệ thuật hay".

Đi vòng quanh địa cầu trong chương 3, Các giao cắt văn hóa, bằng vào cách xem xét những văn cảnh xa cách nhất, khác biệt nhất với phương Tây như ở châu Phi và Nhật Bản đã giao lưu, "du ngoạn" như thế nào trong thế giới hiện đại - "ngôi làng toàn cầu" - nơi mà "không nền văn hóa nào còn có thể biệt lập và xa cách", tác giả dẫn chúng ta đến những quan sát toàn cảnh về nghệ thuật của các nền văn hóa: bị tách khỏi văn cảnh, bị xung đột và so sánh, bị lai ghép, vay mượn...Liệu chúng ta có thể tìm được điều gì đó tương tự trong nghệ thuật từ mọi nền văn hóa (Richard Anderson) như niềm tin của John Dewey: "nghệ thuật là ngôn ngữ phổ quát" giúp phá vỡ rào cản giữa các nền văn hóa? Có nghĩa là tin vào một sự tiếp xúc trực thời dù sau đó còn là vấn đề "cần phải thụ đắc được ngôn ngữ nghệ thuật". Ý tưởng về tính phổ quát của giá trị và tri nhận là một ý tưởng rất hấp dẫn nhưng sẽ còn phải chống chọi nhiều với những tranh luận đa tạp - hậu-hiện đại đã từng từ chối thẳng thừng cái phổ quát ấy. Cũng cần để ý rằng ý niệm "nghệ thuật vẫn biểu lộ ra đời sống của một cộng đồng" của Dewey sẽ đưa ta đi xa tới câu chuyện về cách nhìn của nhánh Cultural studies (CS) đối với popular culture, về nơi các nhóm xã hội đấu tranh lẫn nhau bằng vũ khí của meanings và representations (quyền được diễn nghĩa thế giới và tái trình hiện hiện thực của các nhóm thiểu số trong mối quan hệ đối kháng với nhóm đa số) (*)

Tình thế ngập ngừng trong cách nhìn mối quan hệ có hay không có sự đối nghịch giữa nghệ thuật và đời sống như vậy hoàn toàn có thể là rất hệ trọng khi quy chiếu về vấn đề sự đấu tranh giữa các nhóm, các giai tầng xã hội - một khái niệm rõ ràng chịu ảnh hưởng bởi Marxism. Có một góc độ khác để rọi chiếu nó (chương 4, Tiền bạc, thị trường, bảo tàng), từ những thực thể có tính định chế cho nghệ thuật: các bảo tàng - chúng định tính, định vị các giá trị; là biểu tượng của cộng đồng và của các nhóm xã hội. Bảo tàng cũng là nơi thể hiện rõ nét mối liên hệ giữa nghệ thuật và tiền bạc - nguồn cơn của sự khước từ bảo tàng về sau này như những gì đã diễn ra với grafitty art hay những tác phẩm không thể bán của Christo và Jeanne-Claude. Quyết liệt hơn nữa, những người đấu tranh cho nữ quyền tấn công định chế bảo tàng từ tận những chuẩn tắc và nêu những câu hỏi về một bản chất nữ (chương 5, Giới tính, thiên tài và các Nữ du kích); qua đó nổi bật lên vấn đề về việc "làm thế nào để diễn giải nghệ thuật?" - là chủ đề của chương 6. Có thể nói, nếu muốn làm biếng thì chỉ cần đọc kỹ chương này và chương cuối của cuốn sách. Thực tế tinh thần của các chương khác đã được xây dựng xung quanh những luận điểm lý luận quan trọng của 2 chương ấy. Chúng đã tạo ra mạch lạc của một bản đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật. Nhưng phải chăng đó cũng là chỉ dấu cho thấy hoàn toàn có thể còn những phiên bản khác để diễn giải bức tranh lý thuyết nghệ thuật, trong một nguồn mạch khác.

(còn tiếp)
----------

(*) Tham khảo ở đây: http://gauxx.blogspot.com/2012/05/cai-oi.html




Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

Cấu trúc 1 trò chuyện. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải

Đã lập ý cho bài này nhưng viết lại sau khi đọc được tiểu luận Gadamer và khoa học nhân văn, (hay làm thế nào để hiểu người/cái khác) của Charles Taylor (Như Huy dịch).


-------------


1.
Trong phần trước, khi nhắc câu slogan của HSBC, tôi có ý hướng gợi đến nhánh câu chuyện: đa văn hóa, dịch văn hóa, giải cấu trúc - vốn dĩ sẽ là một hệ quả hợp lý của diễn biến câu chuyện phải bàn đến. Vì nói đến truyền thông là nói đến tương quan xã hội, liên cá nhân. Khi bàn chuyện dịch chuyển giữa các trình độ phát triển của xã hội thì sẽ phải bàn đến sự qua lại giữa các mô hình xã hội, các hệ hình văn hóa khác nhau. Và một thuyết về liên văn hóa (hoặc chừng sẽ là 1 khả thể khác) cũng sẽ phải dành vị trí cho mối quan hệ liên cá nhân.


Thời may, bài tiểu luận về lý thuyết (triết học) của Gadamer đã giúp tôi có thể kết nối mạch lạc lại tất cả những điểm quan trọng rời rạc mà tôi đã đánh dấu trên bản đồ nhận thức của mình về một số chủ đề mà tôi quan tâm; trong đó câu chuyện về truyền thông này là một nhánh thử nghiệm.


2.
Các kiến thức, tác giả tôi đề cập trong mấy bài liền đây đều có 1 đặc điểm: chúng rời rạc, chắp vá, không đều và không hề do 1 ý thức nghiên cứu hệ thống chuyên sâu tổ chức. Nhưng chúng đã có được vẻ liền lạc, sống động và chính những độ chênh lại tạo ra thế năng cho tư tưởng chuyển động và kết nối. Thực tế đó là nhờ kết cấu của trò chuyện (đối thoại) mà ở đó sự phân vai người này/kẻ khác đã tạo ra được. Một cách vô tình, trò chuyện này đã có những đặc điểm căn bản của hành động tương liên mà anh Gauxx đề cập "khi mà những cuộc nói chuyện đặt trên nền tảng duy lý của sự tương hiểu/tương liên, chứ không phải duy lý vì một mục đích, mặc dù không phủ nhận hoàn toàn cái thứ hai". Cái nền tảng đạo đức diễn ngôn của Habermas có thể diễn dịch sang thành thiện chí đối thoại trong trò chuyện là điều hiển hiện giữa chúng tôi trong mấy ngày này. 


Điều này sẽ được rọi chiếu từ Gadamer khi đề cập đến việc làm sao để hiểu người/cái khác: Tuy nhiên, việc đạt tới một sự hiểu không bao giờ sở hữu đặc tính tối hậu này. Bởi một điều đơn giản, chúng ta luôn đạt tới một sự hiểu cùng với những người đối thoại được xác định cụ thể. Và những sự hiểu được đạt tới với những người đối thoại này sẽ không nhất thiết giúp được chúng ta khi chúng ta tìm cách hiểu những người đối thoại khác. Các sự hiểu của chúng ta đều phải phụ thuộc vào người tham gia đối thoại với chúng ta. Và thậm chí, còn phải tính đến việc, chính những người đối thoại cùng chúng ta có lẽ cũng không bất biến. Hoàn cảnh sống hay mục đích sống của họ có thể thay đổi, và sự hiểu trước đây của chúng ta về họ có thể bị đặt nghi vấn. Đúng là chúng ta cũng có thể chế ngự tình huống này bằng các thực hành như ràng buộc qua hợp đồng hay bản thỏa thuận, song điều này chỉ làm rõ hơn việc chúng ta đã ý thức hoàn toàn rằng những gì thiết cấu nên sự hiểu có tính đối ứng hoàn hảo và tự giác vào lúc này có thể sẽ không còn hiệu lực vào lúc khác.


3.
Điều hay ho của cấu trúc trò chuyện này (mà tôi sẽ từ từ dựng lại đặc trưng của nó) là dù từ xuất phát điểm nào, sự ý thức về việc đạt tới sự hiểu (lẫn nhau) cũng sẽ kết nối được một trật tự mới cho các tri thức đồng thời vẫn không làm tiêu biến vị trí lịch sử của nó (trong văn cảnh rộng lớn hoặc trong chính lịch sử của trò chuyện). Điểm đặc biệt là tôi vừa đọc xong bài tiểu luận của Charles Taylor (CT) tối nay, và tôi cũng chưa kịp tìm hiểu thêm gì về Gadamer nhưng tôi sẽ dùng nhiều cách diễn đạt từ bài tiểu luận này để cũng là minh họa luôn hai điểm quan trọng trong ý tưởng ban đầu  của tôi về cấu trúc đối thoại: đối thoại làm giàu cho mỗi bên và chỉ trong đối thoại sự biến đổi, cập nhật, hiểu biết hóa...mới diễn ra tự nhiên nhất - sẽ là liên tưởng của tôi về mô hình phát triển của xã hội như ở VN, điều mà anh Gauxx hẳn có ý ám chỉ về phát triển đi hai hàng. 


Có thể cho đến lúc này, nền tảng triết học của chúng tôi (trong tiềm tàng) không hẳn đã trùng nhau, nhưng nó có xu hướng hội tụ dần. Điều này sẽ rất thú vị nếu bạn biết tôi đủ lâu để hiểu là tôi chỉ xuất phát điểm từ một tâm thức rặt Á đông và không được trang bị hệ thống về tư tưởng hiện đại. Điều đó không ngăn cản dần dà tôi nhận thấy mẫu hình về những gì gọi là những người có một khung tâm thức hậu hiện đại. Như khi tôi bàn về Roland Barthes (RB), điều đáng ngạc nhiên là sự tương đồng gần như hội tụ trong cách đọc văn bản mà không cần gán thêm học thuyết nào ngoại trừ 1 vị thế lập trường ý hệ. Và như vậy dần dà tôi nghĩ đó là do có một khả thể nào đó về sự tương đồng ở thượng lưu giữa Đông và Tây, "chúng ta chia sẻ chung yếu tính con người (humaness)", về "một phương cách để ứng xử với cái thân phận làm người mà chúng ta cùng chia sẻ" (CT).


4.
Một cách tự phát, tôi cũng đã cho rằng một trò chuyện đúng nghĩa sẽ chỉ có thể là một đối thoại cẩn trọng giữa hai người. Mỗi khi xuất hiện thêm một người khác, chúng ta sẽ có cơ hội đồng thời tổ chức thành một tổ hợp của các nhóm đôi. Những biến dịch của các khả thể này sẽ đem lại thế năng và liên tục tương tác, biến dịch làm phong nhiêu bản ngã cho mỗi người. 


Ví như khi trao đổi với anh Gauxx về một chủ đề, tôi hoàn toàn có thể đồng thời một cách khác cũng cởi mở như thế, trao đổi với người thứ ba (^^) nương theo tri thức khác của họ (NL). Giữa hai tương quan kia sẽ lại thiết lập một tương quan mới đa bội và toàn bộ lịch sử trò chuyện này sẽ đem lại sự đào luyện lợi lạc cho tất cả những đối tác thiện chí. Và tất yếu, trong trường hợp cụ thể là ở blog này, với những người bạn mà tôi đã kết nối và chia sẻ nhiều năm, thiện chí là lợi thế mà chúng tôi không cần phải kêu gọi nữa. Sau nhiều năm online, cuối cùng tôi cũng hiểu ra được cách nào thì sẽ vượt qua được sự phân biệt on/offline mà được ích lợi nhất - cho nhau.


5.
@Gauxx: Khi nhắc đến E.Durkheim, thực tế em còn đang đọc dở. Nhưng nếu không đem ra vứt bừa vào đấy ngay (kiểu cao thủ cái gì cũng là vũ khí ấy mà ^^) thì công đâu mà học thuộc hết tri thức nhân loại được (lol). Và không đợi anh giải thích thì vừa may đã có CT nói về điều đó: Gadamer không tin rằng, trong các vấn đề thuộc con người, thậm chí chỉ là về mặt nguyên tắc, người ta có thể đạt tới một kiểu nhận thức tạo ra được sự chế ngự hoàn toàn về mặt trí tuệ đối với đối tượng được nhận thức. Có lẽ có thể mơ tưởng về điều này trong bộ môn vật lý học phân tử, thậm chí có thể xác lập nó như một trong các mục đích của bộ môn ấy, song điều này sẽ là bất khả khi đối với sự hiểu về con người.


Tự nhiên em hiểu ngay ngữ cảnh mà anh phản bác trích dẫn ED và đề cập đến network society. Và lúc nào bàn đến đó, tự nhiên em đã có cái thế năng để mà thao tác, bất chấp anh có biết đến Gadamer hay không trong mạch lạc của mình :)


Và việc Habermas cho rằng "những quốc gia không giao tiếp theo kiểu communicative action là những quốc gia không biết giao tiếp" liệu có phải là một uyển ngữ thay vì là một khúc mắc rơi về cái nhìn của thuyết vị chủng? Việc này rõ ràng phải bổ sung dữ liệu và rọi chiếu tiếp (ví dụ chính là với tiểu luận của CT).


Và việc rẽ nhánh khi bàn về yếu tố power trong tương tác xã hội của Habermas liệu có thể bổ khuyết từ cái nhìn tận căn của nhánh Gadamer (em đồ là không chỉ mình ổng)?


"Ghép 3 ông trí thức thì sẽ ra 1 tờ báo" là một hướng. Nhưng tờ báo là đã hàm ý tương tác 1 chiều, trong khi ý tưởng xây dựng trò chuyện liên cá nhân sóng đôi mà em đang từ từ làm rõ ra nó có xu thế 2 chiều. Và nó mời gọi sự tham dự bình đẳng (nhưng khác biệt, thậm chí là những duy nhất) của mọi người. Tuy vậy trong đó vẫn hàm chứa xu hướng thiên về góc độ truyền thông - tức là thao tác trong khung tri thức đại chúng, ở giữa, hơi hơi bottom-up (lol) hơn là kinh viện!


"mình cũng thích xài những thứ được mô hình hóa lắm, nhưng cuối cùng vẫn phải theo đuôi những người phê phán nguyên con modernisation." - Và cuối cùng thì cái câu này đã bị hấp thụ hết, hoàn toàn hiểu và đồng ý ngay về vấn đề anti mô hình hóa, xuất phát từ cách nhìn của Gadamer: 


Như vậy, cho tới giờ, ta đã biết rằng sự hiểu có ba đặc trưng: 1/ tính hai chiều, 2/ tính phụ thuộc vào kẻ đối thoại cùng, và 3/ tính chất mở ngỏ ra cho sự hiệu chỉnh. Các đặc trưng này hoàn toàn không thích hợp với mô hình nhận thức đối tượng theo lối cổ điển. Phản ứng triết học “chuẩn định” của chúng ta đối với các đặc trưng này cũng hoàn toàn tương tự. Các đặc trưng ấy hoàn toàn không thích hợp với nhận thức, tức sẽ không thể thích hợp với ”khoa học” thực sự. [Với môn khoa học về nhận thức-ND] nội dung của nhận thức không nên biến thiên theo mỗi kẻ truy tầm nhận thức khác nhau; nó không thể là điều gì [mà độ khả tín lại-ND] phụ thuộc vào các bên tham dự. Kẻ truy tầm nhận thức đích thực sẽ không bao giờ thay đổi mục đích của hắn, chứ đừng nói là có sự thỏa hiệp nào ở đây. Sự phụ thuộc vào các bên liên quan cũng như các mục đích bị thay đổi thích hợp được với sự hiểu, chính xác là bởi chúng tái hiện điều gì đó hoàn toàn khác với nhận thức; sự đạt tới đồng thuận, và việc đạt tới sự thật tối hậu là các cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau. Ta không nên lẫn lộn giữa hai cách tiếp cận này, cũng như không nên liều mạng thử tìm cách hạ giá lối tiếp cận khoa học. 


6.
@NL: Từ vai thứ 3, hẳn bác đã nhận ra những dụng ý của tôi trong thiết kế của chuỗi trò chuyện này. Trong chuyện dẫn nhập văn hóa mà không mời được những nhân vật như bác thì sẽ thật là phí phạm tài nguyên internet :P


Thực tế lúc viết chữ giới thiệu VH là tôi đã có sự ngập ngừng (nên nhập nhằng viết tắt), nhưng chấp nhận viết bừa như thế để mở ngõ câu chuyện của bác về lập ý trong mảng này.Cũng như anh Gauxx dẫn lại, tôi cũng nhận ra rất rõ sự dùng dằng "mắc vào nhận thức" của bác. Ngẫu nhiên trong mạch chuyện liên quan đến Gadamer này, tôi nghĩ có một hướng kỹ thuật tránh được việc phải lựa chọn mà vẫn có tiến hóa cho bản ngã tri thức của người viết. Nó liên quan đến ý tưởng về cấu trúc trò chuyện này. Khi đó ta coi mỗi lựa chọn là một kẻ khác để đối thoại và để hướng tới sự hiểu.


"Lý lẽ của Gadamer trong Sự thật và Phương Pháp đã ứng xử với sự hiểu của chúng ta đối với truyền thống của chính chúng ta, tức lịch sử văn minh của chúng ta, và các văn bản và biến cố thuộc về nó. Điều này có nghĩa rằng những gì chúng ta nghiên cứu sẽ bằng cách này hay cách khác nằm chính trong bản sắc của chúng ta. Thậm chí cả ở các công trình khi chúng ta định nghĩa bản thân mình chống lại các đặc trưng nào đó của quá khứ, như thời Khai minh hiện đại chống lại thời Trung cổ, thì thời Trung cổ ấy vẫn thuộc về bản sắc của chúng ta như thể một cực phủ định, tức điều chúng ta sẽ vượt qua hay thoát khỏi. Chúng ta là bộ phận của cái “lịch sử tạo hiệu lực” (Wirkungsgeschicte) và do đó, lịch sử ấy cũng tạo hiệu lực lên chúng ta [ Note: Nói vắn tắt, theo Gadamer, lịch sử tạo hiệu lực là dạng lịch sử mà ở đó bao gồm cả chính lịch sử của sự nghiên cứu lịch sử của chúng ta, tức những gì tạo ra thói quen, văn hóa và truyền thống hiểu lịch sử của chúng ta, và lẽ dĩ nhiên sẽ tạo hiệu lực, hay làm nên, một cách vô thức, hoặc ý thức lên cách nhìn nhận thực tại của chúng ta, và thậm chí cả chính chúng ta, trong hiện tại-ND]"


Về "Những huyền thoại" của RB: chính kiểu bàn nghiêng, bạn NL ở vai thứ 3, đã dẫn dắt câu chuyện đến đây - điểm hiệu chỉnh và đổi hướng. Một mặt tôi ước lượng (vì có thể trong chuyên ngành văn chương điều này lại khá cũ kỹ và hiển nhiên) rằng khi phải từ bỏ tư thế chính trị rõ ràng (điểm tựa lý thuyết, vị thế phát ngôn) thì có thể xoay sang cấu trúc kỹ thuật trò chuyện để đảm bảo cho mọi khả thể đều trở lên phong nhiêu :)


Có thể dù không đọc bài bản về Ký hiệu học nhưng do tôi là người đọc nhiều về Tâm phân học nên quen với cấu trúc của biểu tượng, có thể còn vì tôi là người thiết kế không gian, nên chuyện chuỗi lớp phối cảnh, nhịp điệu, tiết tấu, bố cục là cái dễ nhận ra trước. Và cũng có thể chịu ảnh hưởng của Francoise Jullien nên tôi đã quen cách đọc ký hiệu. Tất cả những điều đó làm cho việc đọc "Những huyền thoại" phần ký hiệu cấu trúc là rất tự nhiên với tôi. 


Nhưng nói vậy thì cũng vẫn có nghĩa là tôi hoàn toàn chia sẻ những đánh giá rằng "nó tươi mới, nhiều bất ngờ...ít xảo thuật trí thức". Chỉ là tôi đã vừa đẩy câu chuyển lên 1 nhịp để lấy lại thế năng rồi ^^

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Đọc "Những cách thấy" - John Berger. 1

Tiếp tục loạt bài tập viết ngắn. Lấy từ blogspot của anh Như Huy ^^
Phần 1 này là từ các post Những cách thấy (1-5). Phần tiểu luận này đáng ra đọc ngược từ dưới lên sẽ dễ nắm bắt hơn.

Tóm tắt:

-------------

"Nghệ thuật của quá khứ không còn hiện hữu như trước kia. Thẩm quyền của nó đã bị mất. Giờ đây tất cả chỉ là ngôn ngữ hình ảnh". Bài luận nói đến sự thay đổi về thẩm quyền của mỹ thuật cổ điển châu Âu (từ Phục Hưng) cho tới khi xuất hiện máy ảnh (sự tái sản) dưới tiếp cận về cách_thấy (ways of seeing - có vẻ còn hàm chứa cái ý "khởi từ sự_thấy").

Đặc trưng cổ điển của mỹ thuật quá khứ: sơn dầu, độc bản, gắn với 1 điểm nhìn theo luật viễn cận, gắn với 1 kiến trúc và theo đặt hàng, gắn với 1 hệ thống giá trị do giáo dục thẩm mỹ và lòng tin phục vụ tầng lớp thiểu số thống trị đương thời.

Xét tương quan "Họa sỹ - Bức tranh - Người xem" thì sự_thấy bị quy định bởi nhiều yếu tố: (1) trong sự định vị với bản thân người nhìn, (2) ý thức có thể bị thấy, (3) thấy đã là lựa chọn bị chi phối bởi nhiều tiên kiến, xu thế giáo dục, cá nhân tính...(4) hình ảnh là sự tái sản (cả với họa sỹ lẫn người xem).

Đặc trưng của thời kỳ xuất hiện camera (tái sản): có thể tái sản hàng loạt dưới nhiều dạng thức, đa điểm nhìn, đa ngữ cảnh...có tính chất của thông tin (ngôn ngữ hình ảnh). Tức là có thể áp dụng nó trong đời sống của mỗi cá nhân, nghĩa có thể bị biến cải hay xuyên tạc. "Nghĩa của 1 hình ảnh bị thay đổi theo những gì người ta nhìn thấy đồng thời bên cạnh hỉnh ảnh đó, hay những liên tưởng mà hình ảnh đó tạo ra". Do vậy nó từ chối thẩm quyền truyền thống, mở ra nhiều cách_thấy.
-------------

Hết tóm tắt.




carnets:

- Hoàn toàn châu Âu.

- Việc cô lập ý niệm sự_thấy ra khỏi tri giác toàn thể về đối tượng (bức tranh) có tính kỹ thuật. Một bức tranh không đơn thuần mang chứa một hình ảnh được tái sản nếu xét đến các yếu tố chi tiết vật thể (kích thước, vật liệu, bố cục) trong tương quan với tri giác của người xem tại thời điểm nhìn. Ít ra còn liên quan đến những yếu tố có tính tâm lý thị giác (tỷ xích, chất cảm vật liệu, khoảng cách thụ cảm).

- Một bức tranh chân dung cổ điển nhất cũng không đơn thuần là tái sản hình ảnh - sao chép thực tại. Nó vẫn hàm chứa các lựa chọn và sắp đặt, qua đó tổ chức 1 nhóm biểu tượng cho 1 thông điệp trải nghiệm nhất định. Do đó có 1 tương quan khá ổn định theo tiêu chí trải nghiệm giữa họa sỹ - người xem đối với 1 bức tranh - nguyên bản hoặc bản sao y cùng các đặc trưng như kích thước, vật liệu, nội dung hình thức... (Tất nhiên những yếu tố tiên kiến chủ quan vẫn tồn tại đồng thời, thậm chí lấn át).

- Nên chủ đề mấu chốt phải hiểu là về "thẩm quyền của nghệ thuật quá khứ khi hình ảnh trở thành ngôn ngữ thông tin đại chúng nhờ khả năng tái sản hàng loạt trên nhiều dạng thức ấn phẩm". Hình ảnh không đồng nhất với bức tranh.