Thứ Hai, 30 tháng 1, 2017

Tại sao gặp nhau cứ phải ăn uống một cái gì?

Nghĩ ra thì cũng buồn cười, có lẽ chỉ có một đôi đang yêu nhau hoặc là những đứa bạn đang độ cấp 1, cấp 2 (lũ chưa có tiền riêng để vào cafe) mới có thể vô tư lựa chọn nói chuyện, trao đổi, chia sẻ mà không cần phải ăn một cái gì đó. Tức là hai trạng thái trên nó không cần môi giới xã hội nào khác - nó bỏ qua một số nghi thức xã hội.

Khía cạnh không gian công cộng dành cho xã hội (VN) hiện nay hầu như đi kèm với việc ăn/uống một cái gì đó (ngoại trừ các hoạt động chính trị ra). Thậm chí có thể đi xa hơn: để chứng minh một sự kiện gặp gỡ không phải chính trị, không phải luyến ái thì nhất thiết phải có đặc điểm sau: (a) một không gian công cộng hay bán công cộng và (b) có chỗ ăn uống. Nếu chỉ bán chỗ ngồi thì hơi kỳ - chắc là không biết tính phí thế nào. (Hãy liên hệ đến các core-working space và câu chuyện ấm trà của các nhóm đa cấp. Thực ra còn có thể nghĩ đến các vườn hoa có thu phí kiểu ở ngoài bãi sông Hồng).

Quay lại câu chuyện: nếu không ăn uống mà ngồi nói chuyện với nhau thì tức là câu chuyện đó phải có đủ sức nặng cho sự tụ hợp của (ít nhất) 2 người. Chúng ta có thể có nhu cầu gì để phải gặp gỡ và thảo luận mà không ăn uống? Học nhóm là một ví dụ. Hội chợ nghệ thuật cũng là một ví dụ. Nhưng hội chợ lại có khía cạnh của việc phải mua/bán một cái gì đấy. Tức là không gian cần chi phí và hội nhóm hay cá nhân cũng cần chi phí.

Nhưng rõ ràng là sẽ có thể có những không gian công cộng miễn phí được thiết kế dành cho cộng đồng và ở đây cụ thể là cho nhiều quy mô nhóm cộng đồng khác nhau. Vấn đề là việc quy hoạch có lẽ là thứ đến sau. Các không gian mở sẽ có trước. Các hoạt động xã hội sẽ có trước. Các thiết chế văn hóa sẽ dần hình thành và được củng cố bằng quy định (quy hoạch) (cái Đình) hay bằng văn hóa (các địa điểm).

Các thiết chế bị mất dần vai trò của mình. Hay vì nó bị biến tướng, không giữ được chức năng của nó? Đây sẽ dẫn đến câu hỏi về cấu trúc xã hội hiện nay.

Trở lại từ đầu: vậy là tôi chán ghét sự tụ họp ăn uống vì nó không có nghị sự rõ ràng, lại sa vào thức nghiện ngập phè phỡn của ăn uống vô tội vạ. Tôi cần trao đổi, trò chuyện chứ không phải ăn uống. Vấn đề là anh/bạn có gì để trao đổi hay không. Nếu có, tôi chấp nhận vừa ăn uống vừa tìm hiểu. Nhưng nếu không phải ăn uống thì tốt hơn.

Kể ra còn có các seminar, các phòng họp, thư viện hay không gian mạng thì sao? Không gian mạng đúng ra là không gian lý tưởng cho các nhóm hội thảo luận và đối thoại nhưng sự thực thì lại đáng nản. Tại vì sao? Liệu có gì liên quan đến bản chất giao tiếp của con người hay không? Ví dụ như các vấn đề xã hội cần bối cảnh xã hội, cần các thành viên, cơ chế thảo luận, sự ràng buộc và cam kết đạo đức, sự thông hiểu giữa các cá nhân...Tất nhiên là còn có môi trường kinh viện của học thuật: các hội thảo, tạp chí khoa học...Nhưng học thuật không bao trùm được đời sống xã hội. Ở tầm mức các nhóm xã hội nhỏ như vậy có thể thấy không khí méo mó, bị chèn ép của một xã hội không có tự do lập hội, tự do ngôn luận.

Câu hỏi chính thành ra phụ, chuyện ăn uống ấy mà - tại sao lại cứ phải là ăn uống? Nó là tập quán xã hội từ thời nguyên thủy? Hay vì xã hội Á Đông lễ lạt, chè chén là truyền thống? Cũng có thể đó là phản ánh nhu cầu làm bận rộn tâm trí, làm bận rộn môi miệng - nghiện ngập là mặt trái của mất kết nối xã hội.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

ngôn ngữ của con người không phải lúc nào cũng hoạt động hoàn toàn theo formal logic

"
    Tòa KHÔNG dựa trên [formal] logic khi diễn giải điều này vì theo Tòa, ngôn ngữ của con người, ngay cả của người chuyên viết luật, không phải lúc nào cũng hoạt động HOÀN TOÀN theo formal logic. Tòa còn dựa theo ngữ cảnh, tập tục ngôn ngữ, cách hiểu tự nhiên (natural reading), cách viết đặc thù trong toàn đoạn, và tựu trung là "plausibility". Đây quả là 1 đoạn rất thích thú và cho thấy tầm cỡ của các quan tòa quốc tế vượt xa lối suy nghĩ chuyên môn hẹp của những đầu óc thông thường. Đối với họ, formal logic chỉ là 1 trong nhiều tools để diễn giải ngôn ngữ của con người.

    "495. The Tribunal is conscious, however, that formal logic accords IMPERFECTLY WITH LINGUISTIC USAGE at the best of times, even among legal drafters, and is hesitant to accord decisive weight to logical construction alone. Here, it could well be argued that a NATURAL READING of the phrase would include an IMPLIED second negation, omitted only to reduce the length of an already somewhat cumbersome clause”...
"

(trích 01 comment từ PQT trong 1 stt trên Fb Giang Le)

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

Trùm chăn luận kiếm. Tiếu ngạo giang hồ (c)

1.
Bây giờ khoảng 3 giờ chiều cuối mùa hè. Mùa hè của tôi thôi chứ đúng ra thì phải gọi là đầu thu. Ký ức thường ám nắng mùa này. Bây giờ dựa gió xiêu xiêu/Thoảng xanh nhạt trắng ven chiều bước đi. Tôi đi bộ, đổi 3 quán cafe quen để tìm chỗ thích hợp. Để viết. Cần viết ra, ghi chép lại, mô tả ra vài điều gì đó của những ngày đang trôi.

Cuốn sổ cũ còn sót vài ghi chép phác thảo cho loạt bài về truyện Kim Dung ngày trước phải tìm mãi mới thấy. Càng nên viết nốt ra trước khi cuốn số sẽ thực sự bị phủi bụi, lãng quên trên nóc giá sách theo đúng nghĩa đen. Có thể sẽ không hoàn chỉnh

Nhân mới đọc mấy bài cùng chủ đề trên soi: http://soi.today/?p=216427

2.
Tiếu ngạo giang hồ (c)


6.
Những lần trước là vòng quanh 1 câu hỏi chính "Làm thế nào mà Quỳ Hoa Bảo Điển lại thành võ công vô địch?". Từ đó dò dẫm tìm kiếm xem Kim Dung, theo mạch thủ pháp của mình, đã vẽ mây nẩy trăng, tả ra, củng cố những nét gì cho Quỳ Hoa Bảo Điển thành ra võ công vô địch. Bây giờ thử đi thẳng vào hệ thống của công phu này xem sao.

Theo thứ tự các phiên bản/tàn bản lưu lạc ngoài giang hồ thì có "Tử Hà thần công" - gắn với Nhạc Bất Quần và "Tịch Tà kiếm phổ" - gắn với Lâm Viễn Đồ, sau đó còn có Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi. Theo thứ tự thì THTC là đầu manh mối, sơ khai nhất; sau đó đến TTKP thì gần như chính là QHBĐ được phổ sang kiếm pháp. Vậy ta sẽ xem lần lượt từng chi tiết truyện liên quan để dựng lại các ẩn ý của Kim Dung xem sẽ đi đến đâu.

Tử Hà thần công chỉ là nhập môn công pháp so với QHBĐ mà đã làm cho Nhạc Bất Quần vang danh thiên hạ, nên NBQ ham hố tìm tòi là chuyện đương nhiên. Trong chuyện đại khái mô tả khi vận dụng THTC thì khuôn mặt chuyển sang màu đỏ tía (tử hà là cái ráng trời chiều màu tím), có tác dụng tăng khí lực, bồi bổ nội thương. Nhưng nhìn rộng ra quanh nhân vật Nhạc Bất Quần này thì cũng có những manh mối nhất định. NBQ dùng kiếm, THTC thì hỗ trợ cho kiếm pháp của y. Sau này TTKP cũng là kiếm, dù lúc đánh nhau với Tả Lãnh Thiền thì đã lòi ra ẩn chiêu dùng kim thêu - cái mà sẽ thành vũ khí chính tông của QHBĐ do ĐPBB dùng. Ta sẽ quay lại chủ đề về vũ khí sau đây, nhưng trước đó là cái món THTC này đã.

Trên quan điểm không có chi tiết nào Kim Dung không có dụng ý, tôi bắt đầu xét cái tên của môn công phu "Tử Hà thần công". Nếu nó không có liên hệ gì với mạch QHBĐ thì chắc chúng ta hẳn đều nghĩ tên quái gì chẳng được. Nhưng hãy xem: ít nhất về mặt trường nghĩa thì "Tử Hà" với "Triêu Dương" - ráng chiều tím với nắng sớm mai là một cặp đối ý nghĩa trong truyện - vì giáo chủ của Triêu Dương thần giáo là ĐPBB với môn QHBĐ. Mà bản thân Quỳ hoa - loài hoa hướng dương, hướng về mặt trời - cũng nằm trong phổ biểu tượng này; cùng với Đông Phương - phương của mặt trời. Hay có thể nói từ Tử Hà thần công đã là dấu chỉ cho con đường đi đến Quỳ hoa bảo điển của nhân vật Nhạc Bất Quần rồi. (Sau này có thể mở rộng ra trong Tịch Tà kiếm phổ cũng đã ẩn chứa cái ý Tà Dương, đối lại với Triêu Dương mà có thể ta sẽ xét thêm sau).

Nhưng từ NBQ đến ĐPBB thì có mối liên hệ gì nữa không? Nếu đúng theo nguyên lý nội kết của Kim Dung thì võ công và tính cách, hành động của nhân vật sẽ tương liên với nhau. Ở đây ta thấy ít nhất là ở phương diện hành động cả hai đều vì bản thân mà phản bội, tàn hại đến cả những người thân thiết của mình - bất chấp tất cả. Theo dấu đến điểm mấu chốt này, cộng với cái tính năng gia tăng nội lực, bồi bổ chữa thương của môn công phu này thì ta có thể nhận ra một dấu hiệu, ám chỉ bổ sung để làm cơ sở đặt tên môn công phu: trong đông y, có một phương thuốc gọi là Tử Hà Sa, lấy nhau thai (nhân bào) làm thuốc, có tác dụng chữa trị các chứng nam nữ hư lao tổn. Mặc dù mối liên hệ là mờ nhạt võ đoán đến đâu, riêng tôi vẫn thấy việc NBQ, kẻ luyện Tử Hà thần công, dùng con gái làm mồi nhử trong các âm mưu tranh đoạt - cái hành động ăn thịt con ấy - là hoàn toàn tương đương với cái vị thuốc thịt người Tử Hà Sa kia. Tất nhiên Kim Dung không cần người đọc mở rộng ra đến như vậy khi theo mạch tác phẩm. Nhưng đọc đi đọc lại thì càng thấy thêm ý vị này cũng không tồi.

Tịch Tà Kiếm Phổ được Lâm Chấn Viễn dùng như thế nào thì không được mô tả, nhưng có thể nhận thấy gián tiếp qua Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần sử dụng. Đặc biệt khi NBQ hạ TLT. Có thể hiểu TTKP chỉ còn khác QHBĐ ở vũ khí mà thôi. Về nội công tâm pháp thì đều phải tự cung nếu không sẽ bị hỏa dục tâm công mà chết. Từ môn bồi bổ dưỡng thương đến môn làm tăng khí lực con người đến độ nếu không tự cung (triệt sản, nhưng vẫn không hẳn triệt được dục như trong trường hợp ĐPBB) thì sẽ mất kiểm soát được dục vọng của mình, là con đường tiến triển nhất quán của tâm pháp QHBĐ. Cũng như từ chỗ phản trắc, tàn hại người thân đến tự tàn hại bản thân cũng là một con đường nhất quán trong hành động của những nhân vật chính luyện môn công phu này. (Lâm Viễn Đồ là ngoại lệ để so sánh vì đây không phải nhân vật chính, nhưng chẳng phải sâu xa cũng chính từ môn võ này với những hành động gian dối, phản bội sư môn của LVĐ mà sau 03 đời thì họ Lâm cũng tuyệt tự?). Ở đây cũng phải làm rõ lại là tôi đang quan tâm phân tích đến một khía cạnh trong thủ pháp sáng tác của Kim Dung để thưởng thức chứ không phải có tham vọng đặt ra vài quy luật cứng nhắc để mổ xẻ tác phẩm theo một lối hiểu duy nhất đúng.

Kiếm là vũ khí của hầu hết các nhân vật chính, nó cũng là vũ khí của Tịch Tà Kiếm Phổ. Nói võ công mà không gắn với vũ khí đặc thù thì rất hãn hữu và phi lý, chỉ dành cho một vài trường hợp đặc biệt được mô tả về sau trong trường phái kiếm hiệp. Lúc đó đại khái lấy tâm làm kiếm, cái gì hoa lá cỏ cây đều là vũ khí...Tất nhiên triết lý này không tồi, nhưng trong mạch truyện này của Kim Dung thì không có ý đấy ở đây. Vậy kiếm có ý vị gì trong tương quan với tính cách và hành động nhân vật của Kim Dung?

Kiếm hay được coi là vương giả chi binh ngay trong văn hóa truyền thống Trung Hoa chứ không nói gì đến riêng trong thế giới kiếm hiệp. Có lẽ rất đơn giản vì nó là vũ khí hiệu quả mà lại vừa tay, có thể đeo theo bên người mà không bất tiện, quá khổ, nặng nề như thương, giáo hay đao...cũng không quá nhỏ như các loại vũ khí ám sát khác mà mất tính biểu tượng cũng như thực chiến. Nhưng bất kể vì lý do gì, từ khi đã có tính chất biểu tượng trong văn hóa quyền lực thì trong thế giới kiếm hiệp, hầu hết các võ phái, các nhân vật chính đều dùng kiếm như là võ đạo tối cao, biểu tượng cho chính khí...Thực ra trong thế giới này thì lý luận về sự tiện dụng vẫn đúng, các nhân vật biểu tượng cho cá nhân độc lập, tự do, lang bạt trên giang hồ trong kiếm hiệp, thử tưởng tượng dựng thành phim thì y chỉ có thể mang kiếm mới đỡ chướng mắt bất tiện nhất so với các loại vũ khí khác. Nhất là khi thế giới giang hồ chưa thoát ly hoàn toàn thế giới xã hội cổ trang truyền thống như trong truyện Kim Dung.

Xét kỹ ra, còn có một số điểm đáng phân tích về kiếm, kiếm có kích thước tương đồng với cánh tay con người: gập lại thì dấu sau cánh tay, mở ra thì bằng thêm 1 tầm tay nữa. Trong tâm lý học, không gian 1 tầm tay với là có liên quan đến cảm nhận không gian của con người. Đây là tầm không gian giao tiếp. Hai người đối thoại với nhau thường đứng trong tầm kích thước này. Bằng hữu cũng là trong tầm kích thước không gian này.

(còn tiếp)

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

một buổi trưa trên đời

Trong khoảnh khắc chập chờn của trưa hè, thứ ánh sáng mới lên sau bão lan vào giấc mộng. Lọt qua kiểm duyệt của ý thức, cảm xúc vỡ loang những gì vốn tưởng rất hiển nhiên. Dang dở, bàng hoàng...hay là kiểu gì đó như thể xót xa.

Tất cả đã biến đổi. Triệt để hoang tàn và dang dở. Sau đó chỉ còn là xa lạ. Lối vào vẫn nhỏ, những khu dự án quây rào tôn, cỏ mọc ngang người như ngày xưa. Nhưng cả con ngõ nhỏ giờ đã thành hoang phế. Hầu hết đã bị phá bỏ, dở dang - vết người cư ngụ hãy còn hiển hiện. Một hai người già của những hộ cuối cùng dẫn cháu ngồi chơi vơ vẩn dưới gốc cây trứng cá già. Căn nhà cũ đã bỏ không. Căn nhà mới xây ngoài khu tái định cư cũng khóa cửa bỏ không. Hiểu vô thường là một chuyện, tràn ngập trong cảm thức đó lại là một chiều sâu hoàn toàn khác - không phải ở bình diện này nữa.

Không, tuyệt đối không phải vấn đề cá nhân. Chỉ là nó ở mối tương liên sát sao quá.

Cuộc rượu ngà ngà, Ben lẩm bẩm kể về những thứ tuyệt vời như vợ đây, cô con gái 4 tuổi xinh đẹp đây...hẳn là món quà từ trên kia gửi cho đấy. Nhưng sao tao vẫn luôn có cảm giác cuộc đời nó sao sao ấy. Muốn như nhảy mẹ xuống sông kia mà phó mặc. Có cái gì đó không đúng lắm...

Chuyện của mày ấy mà, tao nghĩ nó là midlife crisis mà thôi. Ngay từ khi còn rất trẻ, tức là gần hai mươi năm trước ấy Ben ạ, bọn tao cũng đã từng rất thường nói chuyện với nhau về những thứ như thế. Nhưng giờ thì vẫn thế, có gì mới mẻ đâu - chúng ta như thể sống ở 2 thế giới. Một rất ổn, và một kia thì như thế ta đã để quên, đánh mất, phản bội cái khỉ gì đó.


Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Về trò chuyện

Trò chuyện chỉ có khả năng trở nên hữu ích khi đó là trò chuyện giữa hai người. Ít nhất với khả năng trò chuyện của tôi thì là như vậy. Nhưng không phải gặp mặt nào cũng là trò chuyện - "mỗi người thăm thẳm một chiêm bao".

Thậm chí hầu như tôi nghi ngờ khả năng thông giao của trò chuyện, ngay cả với những người được coi là thân thiện và biết nhau nhiều nhất. Có điều gì đó từ bản chất của phương thức giao tiếp, nhận thức của con người hơn là vấn đề ý tứ cá nhân. Chúng ta có gì để-nói và một diễn ngôn thì nói được gì?

Hầu hết những suy nghĩ của tôi về chủ đề này nằm tản mạn trong các label như "đọc", "bằng hữu", "đọc lại", "bạn"....Đấy là cách khả dĩ nhất đến nay mà tôi thấy: sắp xếp các mảnh rời và nhìn vào giữa những chệch choạc hay đồng điệu để từ đó gợi ra một tầng phía sau của thông hiểu. Có thể gọi nó là phương thức chỉ hiệu (từ của F.J).

Mỗi lần gặp bạn, tức là những người ít nhất tôi nghĩ chúng tôi sẽ có nhiều khả năng trò_chuyện_về_điều_gì_đó, rốt cuộc tôi thường lựa chọn bắt đầu bằng những điều tầm phào nhất. Hai người dọ dẫm trao đổi, một kiểu khai quang, chuẩn bị cho một đối thoại. Nhưng rồi hầu hết sẽ trượt đi ngoài ý muốn. Điều muốn chia sẻ nhất thường không được nói ra. Và nếu có chạm đến thì cũng thật khó để biết nói thế nào. Chỉ có thể trong một sự chiêm nghiệm, quan sát theo dõi nhau trong thiện chí, tư lường nghiêm mật, tâm tình bao dung thoáng đạt, may ra mới có gì đó để trao đổi. Một loại tương tác giao tình, hành động tương liên.

Nhưng quy chiếu về một đối tượng đặc biệt, một ai đó thân thiết nhất, là một sai lầm. Hành động dạng thông diễn không thể có tính cách sở hữu được. Nó có tiềm năng vô hạn và vô ngã.

Mặt khác, tôi nghĩ không thể nhấc lên khỏi bình diện cá nhân của câu chuyện. Mỗi câu chuyện đều là câu chuyện của ai đó, với một lịch sử riêng. Nên cuộc đời thú vị không thể chỉ là ngồi ngẫm nghĩ lan man, viết tản mạn và mong chờ những ai đó cũng viết cũng đọc được. Vẫn cần những quán cafe, những buổi chiều, những bóng người, những tay bắt mặt cười, những trò chuyện chú tâm. Cho dù rốt cuộc cũng chẳng biết nói gì cho phải.



  

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

trong thân thiện và chia sẻ

nghe quế kể lại, vân cũng mô tả cho bạn ấy rằng vân lại một lần nữa trải qua cảm giác rơi xuống lòng nước khi nhận kết luận về căn bệnh. chỉ có tuấn anh với mình biết bơi một chút mà đến chiếc thuyền thứ hai lật úp rồi cả bọn vẫn không hẳn hoàn toàn biết mình vừa trải qua may mắn như thế nào. khi bạn gọi mình lúc đó, mình chỉ có thể hô lên từ xa với bạn là cứ bình tĩnh. ừ, ở dưới nước mà giữ được bình tĩnh thì khả năng sống sót đã cao hơn rất nhiều. ngày đó chúng mình mới 15, 16, còn nghĩ cuộc đời giống như trò chơi. chúng mình đang lớn, vài năm nữa sẽ lên đại học (hẳn thế) và khám phá thế gian.

bọn mình cả hai đều chuyển trường, chuyển hướng. mình thuần túy đi theo một cảm xúc nhất thời mà thành ra một con đường khác. lá thư đầu tiên mình nhận được, bạn nói để chứng minh rằng tình bạn cùng tổ 3 của chúng ta không phải là thoáng qua. vậy là bắt đầu một tình bạn giản dị, chân thành và thân thiện. mình có nhiều bạn, mỗi tình bạn là một sắc thái khác biệt. mối quan hệ thân tình nhưng đơn sơ của chúng ta trong nhiều năm đã là một vốn liếng xã hội đầu tiên của mình, từ đứa trẻ vị thành niên bước vào cuộc đời. có thể nói, bắt đầu từ bạn, mình trải nghiệm sớm sự rộng lớn đa dạng của không gian nhân sinh. ở đâu đó xa kia, có ai đó là bạn bè của mình, thường thư từ chuyện trò với nhau. thế giới quanh ta này có thể mở rộng ra được, có thể kết nối được. trong thân thiện và chia sẻ.

chúng ta đã đi những ngả đường khác nhau, theo những cách cũng khác nhau vời vợi. không biết sao, từ rất sớm mình đụng phải cái thắc mắc về khoảnh khắc tối hậu. mình đã dành nhiều năm tuổi trẻ, là đúng cái độ đôi mươi ấy đấy, để tìm kiếm một cách sống khả dĩ, một câu trả lời khả dĩ. không tìm được cái gì cụ thể cả, nhưng vốn liếng bấy nhiêu có trong mấy điều mình tìm cách mô tả với bạn trưa hôm đấy thôi vân ạ. sống và quan sát chính sự sống ấy bằng con mắt nữa phía trên, bên ngoài. thấy biết mà không theo. chỉ là thấy biết.

bạn vẫn kiên cường và gắng tin tưởng. thằng bé cứ rúc vào cạnh mẹ. giọt nước mắt lặng lẽ trong khóe mắt bạn, mình thấy biết mà chẳng lựa được lời. lời không giúp được gì chúng ta. ai rồi cũng sớm muộn nhận ra cái biền biệt của sống là sống tự mình. là đi tự mình trên con đường rừng vậy. khi buột miệng dặn bạn "cứ bình tĩnh", mình tự thấy ngớ ngẩn. ý mình hẳn định nói là cứ bình thản, nhưng lại nói thành như thế đấy. thấy biết đến độ nào đó thì sẽ bình thản được. nhưng nói cho cùng thì cũng không sao vân ạ, cái vụ này mình nói được nhưng làm thì cũng chả được bao nhiêu đâu.

mình không có nhu cầu ở thế giới thần kỳ linh ứng. có hay không có là không liên quan đến lối sống của mình. cuộc đời bạn làm mình càng thấy cái liên tưởng của mình về thế giới thần linh giả định ấy giống như thế này: chúng sinh là những con muỗi vo ve có cả kiếm sống từ máu thần linh, chúng tưởng chúng được ban phước và phải khéo cầu nguyện - bằng những tiếng vo ve. cũng giống thái độ của con người với muỗi, cơ bản điều ấy làm phiền, khó chịu. cho đến lúc nào đó thì bộp một cái là xong. là đến thời điểm gọi là số phận của chúng sinh chúng ta. thôi, cười vui với nhau một chuyện hài hước như vậy. bạn không may rồi, con muỗi hiền lành, thân thiện mà chăm chỉ kiên cường ạ. chỉ là bộp một phát thôi. hãy rộng mở và thanh thản đi tiếp đi. không có gì có thể mô tả được ý niệm tuyệt đối không cả. nhất định còn đâu đó một điều gì đó có thể mở rộng được, kết nối được. trong thân thiện và chia sẻ.

hình ảnh khuôn mặt bạn thất thần gọi mình "t ơi" khi chiếc thuyền lật úp trên hồ cũng là cảm giác đầu tiên mình nghĩ đến khi nhận được tin bạn sẽ phải đối diện với khoảnh khắc dữ dội nhất của cuộc đời bạn. 

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

ALAN WATTS - Biết ta đích thực là ai

(tr17)
- Chúng ta khổ sở vì một ảo tưởng xuất phát từ cảm nhận sai lầm và méo mó về sự tồn tại của chính mình: cái tồn tại riêng biệt, trung tâm, đối nghịch thế giới.

(trong khi):
- Như đại dương có "sóng", thế giới có "con người", mỗi cá nhân là một hiện thân của thế giới tự nhiên, một hành động độc nhất của toàn vũ trụ.

(vấn đề là):
- Hầu hết không hiểu được, không trải nghiệm được cảm nhận này. Bỏ qua mối liên hệ tương thuộc giữa mọi sự vật và hiện tượng.

(Nhưng):
- Nhận thức điều trên (bất nhị) rất khó, vì tư duy khái niệm không nắm bắt được nó.

(vì vậy):
- Buộc phải nói về nó thông qua thần thoại - những ẩn dụ, so sánh, và các hình ảnh để nói nó giống cái gì, chứ không thể nào nói nó là cái gì.

(tr31, đó là Vệ Đà):
- Vệ Đà, ở trung tâm và siêu việt mọi kinh nghiệm, là nhận thức trực tiếp rằng mọi sự là như vậy.

(khi đó):
- Khi đã nhìn thấu ảo tưởng về bản ngã, ta không thể nghĩ mình tốt đẹp hơn, hay ưu việt hơn kẻ khác vì đã làm được điều này.

(Phân tích tâm trí nhận thức):
- Không bao giờ chỉ có nửa con sóng, không hạt nào tồn tại trơ trọi mà không có không gian xung quanh. Bật luôn đi đôi với tắt, có lên thì phải có xuống.
- Tất cả mọi thứ đều là trung tâm trong tương quan với mọi vật.
- Chúng ta cho rằng vật thể là một sự vật và không gian là một sự vật khác, hoặc chẳng là gì hết.

(hậu quả là):
- Nhân quả không phải là tất định luận như ta hay nghĩ.

(Ví dụ nhìn con mèo qua khe hẹp tr45):
- Đầu và đuôi con mèo đi liền với nhau, đều thuộc một con mèo. Vì nhìn qua khe hẹp nên không thể thấy toàn thân con mèo một lúc. Cái khe hẹp nơi hàng rào tựa như cách ta nhìn cuộc sống bằng sự chú ý có ý thức, nhiều khi theo dõi điều gì đó, ta thường bỏ qua mọi thứ khác.

(Cái cách ta lưu ý):
- Ta chọn điều gì là thú vị hay quan trọng.
- (đồng thời) ta cần 1 bảng ký hiệu cho hầu hết mọi thứ ta có thể nhận thức (dán nhãn)

(liên quan tới):
- Bất cứ điều gì có lợi hoặc bất lợi cho sự sống còn, địa vị xã hội, an toàn bản ngã của ta.
- Mô thức và logic của mọi biểu tượng ký hiệu ta đã học từ người khác, xã hội và nền văn hóa của ta. (hệ hình tư duy)

(Có 2 nhân tố bị bỏ qua nhưng thực chất dễ dàng tiếp cận tới tri giác của ta, vì bị bỏ qua mà sinh ảo tưởng):
- Ta không nhận thức được các mặt đối lập đều là các cực hay mặt trái của cùng 1 sự vật (NÓ-Đại Ngã).
- Chúng ta quá chuyên chú vào nhận thức chủ quan (loại tri giác hạn hẹp thấy thế giới là tập hợp sự vật riêng biệt, phân mảnh).

(Hậu quả):
- Chúng ta chơi trò Đen chọi Trắng - đấu tranh sinh tồn. Sống chọi Chết - ngộ nhận vì ta đang tạm chiến thắng (ta đang sống); và sinh tồn đòi hỏi sự nỗ lực và khéo léo.

(Thực ra):
- Cảm nhận của cá nhân về cái chết được định hướng bởi thái độ của xã hội.
- Hồi còn nhỏ, những cái "tôi" khác của chúng ta - người thân, bạn bè, thầy cô - đã làm mọi điều khiến ta tin vào sự riêng biệt - biến ta thành đồ giả "con người thực sự".

(Sự phát triển ngày nay về công nghệ):
- Đó sẽ là kiểu cá thể mới - với hệ thần kinh ở bên ngoài rộng lớn vươn xa vô tận - hệ thần kinh điện tử này sẽ liên thông rộng đến mức mọi cá nhân khi kết nối vào đều có chiều hướng chia sẻ cũng những tâm tư, cảm xúc và kinh nghiệm.
- Khuynh hướng sẽ là mọi cá thể kết hợp lại thành một cơ thể sinh học điện tử duy nhất. Cuối cùng chẳng ai còn trí não riêng; chỉ có 1 trí óc cộng đồng khổng lồ và siêu phức tạp của xã hội.

(Xem ra rất đáng sợ):
- Sự riêng tư và tự do không còn.

(Do đó có 02 bài học quan trọng):
- Nếu trận đấu giữa "trật tự" và "ngẫu nhiên" phải tiếp tục như 1 trận đấu thì trật tự không được thắng. Vì vũ điệu và điều diệu kỳ của sự hiện hữu.
- Ngược lại ngẫu nhiên không được/không thể thắng. Vì điều đã 1 lần xảy ra luôn có thể lặp lại.

(Tiến bộ kỳ thật có dẫn đến đâu?):
- Công nghệ giải quyết vấn đề nhưng đồng thời tạo ra những vấn đề mới.

(tr75, Ảo tưởng về Ngã diễn ra như thế nào?):
- Tích lũy ký ức là thiết yếu đối với cảm nhận về bản ngã. Ký ức mang ấn tượng về bản thân - như thứ gì đó còn lại trong khi cuộc sống cứ trôi đi.
- Ký ức là mô thức chuyển động lâu dài - không phải thực thể lâu bền - ký ức không thể đứng bên lề dòng sự kiện.
- Ngộ nhận "cái tôi không phải là thứ gì đó ở ngoài da" bắt nguồn từ lối suy nghĩ (hệ hình tư duy) trong hình ảnh, khuôn mẫu, thần thoại, và các hệ ngôn ngữ ta dùng để giải mã thế giới.

(Một quan niệm về Vũ trụ):
- Mô hình Đồ sứ: mọi thứ trong vũ trụ là vô vàn dạng thức của 1 hay nhiều loại vật chất.
- tr84. Vì chưa ai từng phát hiện vật chất phi cấu trúc, hay 1 cấu trúc phi vật chất, nên mô hình Đồ sứ rõ ràng có gì đó không ổn.

(bởi vì):
- Cả cấu trúc và vật chất là 02 khái niệm thô vụng để chỉ cùng 1 tiến trình, được nhận thức mơ hồ là "thế giới" hay "sự tồn tại".

(Mô hình Đồ sứ nứt: mọi thứ cấu thành từ vật chất):
- Nếu thế giới cấu thành tư "vật chất cơ bản" thì "năng lượng", "dạng thức" và "trí tuệ" do vậy hẳn phải thâm nhập từ bên ngoài. Thế giới do vậy được quan niệm là 1 tạo tác - có ai đó tạo ra. Nhưng trong thế giới này rõ ràng có cái ác, cái gì đó sai...thì Thượng Đế/Bản thể...sáng suốt ở đâu? - Nghịch lý Tà Ác phát sinh từ chính mô hình.
- Tín niệm về Thượng Đế sáng suốt từ những dân tộc từng đươc cai trị bởi tộc trưởng và vua chúa. Đem tới cho mọi người cảm thức về tầm quan trọng của thế giới quan (Thượng Đế quan phòng).
- Tín niệm này có vấn đề ở chỗ nó tốt đẹp quá mức cần thiết, rốt cuộc thành ra có hại (bị giám sát, phán xét).

(Mẫu tự động hoàn toàn của vũ trụ ngày nay):
- Chỉ còn lại năng lượng và vật chất. Thế giới đã kiến tạo nên chính mình, dù không chủ đích. Các "nguyên tử" hỗn loạn và tổ hợp đến 1 lúc nào đó sẽ thành ra trật tự thế giới (con khỉ và cái máy chữ).

(Vấn đề là):
- Bất cứ lúc nào lại cũng có thể trở thành lủng củng.
- Con người phải chinh phục những quá trình thuần túy ngẫu nhiên của tự nhiên.
- Thượng Đế siêu phàm thành ra Gã Khờ vũ trụ!

(Tất cả chỉ là thuyết duy danh: tổng thể được làm thành từ những mảnh thực tại cơ bản của tự nhiên).

(Nhưng):
- Nhân loại (chẳng hạn) không phải chỉ là tổng số những con người cá thể. Con người nhất thiết phải là 1 sự vật xã hội, chỉ vì lý do không cá nhân nào ra đời mà không có 1 cha và 1 mẹ.

(Do đó):
- Cái tổng thể phải lớn hơn tổng số các bộ phận của nó chỉ vì 1 mô tả khoa học về cá thể phải tính đến cái trật tự hay mô thức sắp xếp các hạt và hoạt động của chúng.

(còn chưa đủ, phải kể nữa):
- Bất kỳ sự vật cụ thể nào cũng đi kèm với 1 môi trường cụ thể mật thiết và không thể tách rời. Khó vạch ra 1 lằn ranh rõ ràng giữa sự vật và môi trường của nó.

(Ta nhận thức sai lầm vì):
- Ta suy nghĩ bằng ngôn ngữ và hình ảnh mình không tạo ra mà xã hội trao cho ta. Ta không tồn tại tách rời xã hội. Xã hội là thân ta và tâm ta. Ta bị mâu thuẫn: vừa phải tự do vừa phải tuân thủ.

(Nghĩa là):
- Cá nhân là một con người riêng biệt, mắc kẹt trong 1 vũ trụ vô tâm xa lạ, nhiệm vụ chính của y là chiếm ưu thế trước vũ trụ và chinh phục thiên nhiên.
- Cá thể được dạy phải sống, làm việc cho 1 tương lai nào đó và trong hiện tại y sẽ không khi nào đạt được mục đích.

(Con đường đúng: Không xa lánh thế gian, mà tận lực hợp tác với thế giới trong hiện tại).

(tr120, Thế giới là thân ta):
- Trong mọi trường hợp, "nguyên nhân" của hành vi chính là hoàn cảnh với tư cách 1 chỉnh thể - chỉnh thể sinh vật/môi trường.
- Tốt hơn hết là bỏ đi cái ý niệm nhân quả mà thay vào đó hãy dùng ý niệm tính tương đối.
- Hoàn cảnh là những mô thức đang vận động.
- Ta không bao giờ có được điều gì khác ngoài 1 phác thảo về hoàn cảnh.
- Mối liên hệ giữa sinh vật và môi trường của nó là hỗ tương. Nếu lý giải sinh vật và hành vi của nó theo góc độ môi trường là có lý, thì cũng sẽ có lý khi lý giải môi trường theo góc độ sinh vật.
- Quan điểm cho rằng mỗi sinh vật làm hiển lộ môi trường của chính nó cần được trung hòa với đối cực hay quan điểm đối lập là môi trường tổng thể làm hiển lộ sinh vật.

(tr158, Và bây giờ thì sao? Bước tiếp theo của chúng ta phải thế nào?):
- Quan trọng nhất là củng cố điều ta đã hiểu để có khả năng mãn nguyện với cuộc đời, biết sống trong hiện tại và tuân thủ nguyên tắc mà điều này đòi hỏi.

(Trong thực tế, làm sao vượt qua được cảm giác bị cách ly với tất cả những thứ khác?)
- Có nhiều cách, mỗi cách đều có sự hấp dẫn (yoga, thiền...). Cái khó là mỗi môn này khi đã dính sâu rồi, ta sẽ thấy mình bị đóng hộp trong nội bộ nhóm riêng - thất bại, tự mâu thuẫn, bế tắc.
- Cảm giác bất lực không thoát được tình trạng này chính là tia chớp đầu tiên nhận thức được trò chơi này vô nghĩa, còn bản ngã độc lập của ta chỉ là ảo tưởng.
- Chủ yếu không bao giờ được quên rằng, những trải nghiệm thế này không thể đạt được nhờ nỗ lực của "ý chí" mang tính ảo tưởng của chúng ta.
- Đừng cố sức tiêu diệt cảm giác-bản ngã-hãy tiếp nhận nó như 1 phần không thể tách rời của toàn bộ quá trình. Khi cảm giác về sự phân ly này bắt đầu được tìm hiểu và chấp nhận như bất cứ cảm giác nào khác, nó sẽ tan biến như ảo ảnh mà nó vốn là.

- Lằn ranh ảo tưởng: (Mọi thứ xảy ra với tôi, những cảm nhận của tôi) vs (chính tôi như 1 nhân chứng có ý thức). Lằn ranh là ảo tưởng - tất cả diễn ra tự động, như cảm xúc của tôi phản ánh những quá trình sinh lý trong cơ thể tôi.
- Vào thời khắc khi ta có vẻ như ta sắp thành 1 zombi đích thực, thì trong thế giới chủ quan của ta bùng lên vụ nổ. Bất thình lình hình dung về số phận đánh mất ý nghĩa, vì hiển nhiên là không tồn tại kẻ có thể trở thành nạn nhân của sự tiền định. Tôi sẽ thấy mình sống không ở trong thế giới mà như thế giới.
- Khi đã hiểu ra điều này, ta có thể quay về thế giới của những chuyện thực tế với 1 tinh thần mới.
- Cái "ta" đích thực duy nhất là cái đến rồi đi, liên tục tự hiện ra rồi biến đi như mọi loài sinh vật có ý thức.
- Thấy được điều này (tính hỗ tương), có nghĩa là gần như tức thì có được tính hài hước, mà hài hước và tự cho mình đúng là 2 thứ loại trừ nhau.

- Để "sống được", đang sống, hay đơn thuần là để thiết thực, đời sống phải được sống như 1 trò chơi.
- Nhưng để sống theo cách này, trò chơi - cuộc đời phải gột bỏ những luật lệ tự mâu thuẫn. Cần bớt nhấn mạnh tính thực dụng, kết quả, tiến bộ và tính gây hấn. Biết và sống chứ không phải tìm kiếm và trở thành gì đó.
- Cái hài đích thực là cười cợt chính ta, nhân đạo đích thực là hiểu chính ta.

- Theo logic, câu hỏi "mọi thứ là gì?" không có nghĩa, dù nghe có vẻ thâm thúy. Nhưng có nỗi thôi thúc muốn biết cái gì tự biểu thị bản thân nó trong câu hỏi trên.

- Vấn đề là tôi không tìm kiếm câu trả lời bằng ngôn từ. Thắc mắc siêu hình tìm kiếm một kinh nghiệm. Có thể nói câu trả lời hay nhất cho câu "Mọi thứ là gì?" là "Nhìn đi rồi thấy!".

- Nội dung của kinh nghiệm sống động, rất cụ thể trong cảm thụ - 1 kinh nghiệm "thống nhất" về sự huyền bí.

(tr197, lý lẽ phản bác): Ta chẳng thể nói gì về mọi thứ, không thể cảm nhận về mọi thứ. Vì mọi giác quan có tính chọn lọc. Ta trải nghiệm bằng sự tương phản cũng như ta suy nghĩ bằng sự tương phản.
- Nhưng siêu hình học không phải là cái gì đó có thể đơn giản chữa trị hay bỏ đi. Một kẻ chống siêu hình học có thể đưa đến 1 tầng siêu hình học còn sâu hơn nữa, dù có la hét phản đối. Những giả định nền tảng cho rằng toàn bộ sự hiểu biết đều liên quan đến những tương phản, thì cũng siêu hình như bản thân giả định.

tr201, Wittgenstein: Phương pháp triết học đúng sẽ là thế này: không nói gì ngoài cái có thể nói, tức là các mệnh đề của khoa học tự nhiên, tức là cái gì đó không liên quan gì đến triết học. Và rồi luôn luôn, khi ai khác muốn nói cái gì đó siêu hình, thì giải thích cho y là điều đó không có hiệu quả đối với mệnh đề của y.

- Nói rằng ngôn ngữ có thể vượt lên trên nhị nguyên không khác gì nói bức tranh hay tấm ảnh trên 1 mặt phẳng có thể vượt quá không gian 2 chiều. Thế nhưng bằng quy ước phối cảnh, 1 số đường 2 chiều chạy xiên về 1 "điểm ảo" được dùng để biểu thị chiều thứ 3 là chiều sâu. Cũng theo 1 cách tương tự, thuật ngữ nhị nguyên "bất nhị" được dùng để biểu thị "chiều" trong đó các khác biệt hiển nhiên có sự thống nhất tiềm ẩn.

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

The Medium is the Message

Bỏ dùng Fb ít nhất 1 năm. Quyết định vậy đi. Anh trở về đúng nghĩa trái tim anh :3

Sống chậm lại, đọc kỹ lại, nghĩ kỹ lại.
Cô đơn lại @@


Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

về tình yêu hay là về tuổi trẻ của chúng ta

(...)
Nẻo đường xa
Em có đi cùng tôi?
Như ngày xưa em bảo:
Hạnh phúc là chi
Cùng làm việc bên người yêu dấu
Tựa vai nhau tin tới một thiên đàng..

Nói đi em nơi ấy ở đâu
Để tôi lại cười vui hạnh phúc
Như ngày xưa trong sáng
Uống giọt sương lành
Nhìn đắm say..
Ta làm sao có được?

Em lặng im.
Cái lặng im kỳ lạ
Giục tôi đi tới tận chân trời

Trái đất này rộng lớn
Nếu đi xa đây sẽ hoá chân trời
Chân lý giản đơn
Tôi trở về rồi ư?
Ngày giản dị ngày vui độ lượng
Say đắm nhìn
Cuộc đời ghê gớm ta yêu..

Vịn câu thơ đi trong ngày nắng gắt
Kẽ mắt dấu buồn
(...)

Ngày của tình yêu, đọc lại những mẩu thơ chân thành ngày trước, viết trước hết cho chính mình (nỗi riêng tư ấy) và từ hồi tình yêu cũng đồng nghĩa với trọn vẹn lẽ sống và khát vọng.

Tuổi thanh niên đã thực sự ở lại phía sau. Mà có lẽ tuổi thanh niên đích thực là khi ta trong độ vài năm xoay quanh tuổi 20. Mấy năm sinh viên là một chặng đời. 

[Tôi thấy bóng dáng của mình trong đó. Tôi thương tuổi trẻ của tôi bơ vơ không người chỉ dẫn. Hay chính nghĩa của trưởng thành là phải trải qua những ngày tháng như vậy? Như D.T.Suzuki đã miêu tả - "(...)bắt đầu trịnh trọng quan sát quanh mình, và tra hỏi về ý nghĩa của cuộc sống. Tất cả nguồn năng lực siêu hình, bấy lâu vùi kín trong tiềm thức, bỗng dưng như cùng một lúc trào vọt ra. Nếu chúng bùng ra dồn dập và bạo quá, tâm trí có thể mất thăng bằng một thời gian, lâu hoặc mau; trên thực tế, nhiều trường hợp kiệt quệ thần kinh như vậy đã được ghi nhận trong tuổi trẻ, mà nguyên do chánh không ngoài sự đổ vỡ thế quân bình nội tại. Thường thì hậu quả không vết tích gì sâu đậm; nhưng ở đôi căn tạng thì khác hẳn; hoặc vì những khuynh hướng nội tại, hoặc vì sức tác động mạnh của những luồng ảnh hưởng xung quanh vào bản chất dễ cảm kích, cơn thức tỉnh tâm linh ấy chấn động họ đến tận cùng cá thể. Đó là lúc phải dứt khoát chọn giữa cái “vĩnh viễn có” và “vĩnh viễn không(...)"]

Mười mấy năm đi làm là một chặng đời. 

[Nhưng ở giữa độ tuổi ba mươi hơn khi nào hết tôi cảm nhận sâu xa sự lạc lõng với những gì xung quanh mình. Nó không đơn giản như thời thanh niên bế tắc (Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ/Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào/Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao/Giữa sự thông minh của đông vui bè bạn/Vứt sách xuống gầm bàn đi ra mặt trận/Tôi là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn/Bao lâu rồi vẫn chỉ có thế thôi/Nỗi cô đơn hoàn toàn nỗi cô đơn khủng khiếp/Trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách...). Nó khác. Nó như là một sự lưu vong ngược. Nhờ internet và tại vì trót sinh ra ở một nước đang kỳ hậu thuộc địa. Chúng tôi có quá nhiều truy cập và toan tính đi vòng qua vấn đề căn tính bằng các mối liên hệ. Nhưng liệu có thể nói trơn tuột đi như thế không? Lịch sử cá nhân của tôi với những người khác, tôi có cố gắng giữ riết róng lấy nó như thế nào, người khác vẫn cứ sẽ xếp nó vào ngăn kéo của một kiểu nhìn căn tính học. 

Thật khó khăn để chấp nhận sự thực là sẽ phải thực hành một tiếp cận khác - chống lại mọi diễn giải bằng cách vui chơi với mọi diễn giải, một cách tùy thuận.]

Bây giờ tôi lại bắt đầu đặt cho mình một chặng đường nữa: sống sao cho thật hay. 

[Có những người họ khác hẳn đám đông xung quanh ở chỗ có thể truyền cho ta nguồn cảm hứng sống. Họ có thể sai lầm, đạo đức chưa chắc toàn hảo, tài năng không hẳn xuất chúng...nhưng ở họ có vẻ gì đó toàn vẹn của một phong cách sống khiến ta thấy hứng thú với cuộc đời, cũng làm ta thoáng chút ngậm ngùi thấy mình nhạt nhẽo vô vọng. Mặc dù ta cũng chẳng muốn theo bước họ.

Nhưng họ cũng như ta, không phải là những thần tượng. Họ hẳn cũng nhiều trắc trở, buồn vui, bệnh tật, lem nhem...Nhưng càng sống ta càng thấy nao núng khi không thể có được cái vẻ sống động ấy, cái khí chất ấy.]

Vậy thôi.

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

thệ giả như tư phù


Ngày tháng trôi chảy, tâm nổi trôi.
Bắt đầu định hình rõ vài ý tưởng cho những ngày tiếp theo.
Dẫu mình đã thôi hy vọng vào người khác nhưng vẫn quyết giữ lòng tin vào chính mình như một khả thể.


Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Hành vi thế phạm

1.
Lúc còn sống mấy đứa đều gọi bác là sư phụ hay thầy nhưng tôi thì tránh, chỉ gọi là bác. Nhưng 20/11 nào vợ chồng cũng dẫn nhau đến nhà bác chơi giống mọi người. Trải qua vài chuyện, tôi vốn có tâm ý chỉ coi ai dạy được mình đạo lý làm người mới gọi là Thầy. Chữ Thầy tôi để dành đó vậy.

2.
Bác dạy tôi nhiều chuyện qua cách sống cách làm việc. Nhưng rốt cuộc cho đến lúc bác mất rồi tôi vẫn chưa lần nào dù đùa hay thật gọi bác là thầy. Mọi người nói chuyện học trò của bác thì đều nhắc đến tôi. Càng sống tôi càng thấy bác thật đã dạy tôi nhiều điều, ảnh hưởng đến tôi nhiều hơn là tôi đã từng nghĩ.

3.
Hội trường đại học, nói chuyện xã giao với cậu bạn từ Sơn La về rồi ra lại cũng biết bác. Biết một lần ngay trước khi bác mất không lâu. Tôi buột miệng nói "Bác D là thầy tôi". Chúng tôi uống với nhau chén rượu thật đầy. Cách cậu ấy nhắc đến bác cũng đủ để tôi mường tượng sống động những ngày bác cháu đi làm với nhau khắp chốn.

Uống vài lượt nữa thì bị sốc rượu, không say nhưng uống nữa thì sẽ nôn hết. Tôi không muốn say nên về trước khi rã đám.

Học vi sư nhân
Hành vi thế phạm.


Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Như thế nào mới là đúng?

Thế giới mạng lưới blogspot có một điểm khác với Y360 trước đây hay Facebook sau này: người ta liên kết với nhau lỏng lẻo hơn, mơ hồ hơn. Ở đây bạn có thể lâu lâu kiểm tra xem những người theo dõi có ai mới không? Đại khái bạn phải tìm kiếm, để tâm một chút. Họ bắt đầu theo dõi mình khi nào mình cũng không rõ. Lại có những trường hợp tinh tế hơn, lặng lẽ hơn. Blog của mình được đặt một cái link về blog của họ. Nếu mình không lưu tâm xem đường dẫn đến trang của mình thường xuyên, mình cũng không biết gì về họ cả.

Bạn bè trên mạng lưới này không nhiều, nên lâu lâu thấy có ai theo dõi mình thì mình cũng tìm hiểu xem họ như thế nào, có hợp tạng mình không mà kết nối lại. Hầu hết là trong lặng lẽ.

Tôi tìm thấy blog Phạm Doãn của chú Phạm Doãn Luận cũng như vậy, lặng lẽ và như thể ở hai phía của thế giới. Chú theo dõi tôi hồi đó, không rõ vì sao vì chúng tôi hình như không có bạn chung nào. Chú hay viết về Phật pháp, theo cách riêng của mình. Tôi bắt đầu chú ý hơn đến blog của chú khi vô tình có lần đọc một bài kể về trải nghiệm tâm linh của chú - tôi coi trọng những người biết đến trải nghiệm đó. Rồi dần dần thấy chú ít viết, sau chuyển sang giới thiệu trang về Phật giáo Nguyên thủy. Cuối cùng chú bỏ sang (hình như) quản trị trang đó. Bỏ nhẹ như không vì dần dà chỉ còn những bài viết về đạo pháp. Rồi ít lâu thì bỏ luôn trang đó nữa. Mãi về sau này tôi cũng tìm thấy trên facebook trang của chú. Nhưng không kết bạn, không theo dõi thường xuyên. Chỉ biết và thỉnh thoảng tìm xem.

Kiến giải của chú nhiều điểm tôi không thông suốt nhưng thái độ quyết liệt cầu đạo thì tôi ngưỡng phục. Mình không nhấc nổi một bước chân theo con đường đó thì mình chẳng nên nghĩ bàn nhiều. Vài ý niệm trong đầu chẳng nói lên điều gì.

Rồi hôm nay qua mạng fb tôi đọc được tin chú mất. Ra đi cũng quyết liệt tinh tấn như cách của chú nói về pháp.

Trong những ngày tháng hoang mang này, chuyện đó khiến mình nao núng và thảng thốt.