Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland.2

a.
Chương 6, Nhận thức, sáng tạo, thấu tỏ

- Nghệ thuật truyền thông: nó có thể truyền thông cảm xúc và sự xúc động, hoặc tư duy và ý tưởng. (248)

- Diễn giải đóng vai trò quan trọng bởi nó tường giải việc nghệ thuật làm thế bằng cách nào. Nghệ thuật có được ý nghĩa phần nào từ chính văn cảnh của nó. (248)

- Dẫu không một diễn giải nào là "đúng" theo nghĩa tuyệt đối, dường như có một số diễn giải nghệ thuật tốt hơn những cái khác. (250)

- Các diễn giải tốt nhất luôn tập trung vào cả phong cách mô dạng lẫn nội dung tác phẩm (của Bacon). (255)

* Lý thuyết biểu lộ:
- Nghệ thuật biểu lộ và truyền thông sự xúc động tới công chúng.
- Tuy nhiên nỗi xúc động không cố định trong nghệ sỹ - "tính biểu lộ nằm trong tác phẩm"
- Vả lại nghệ thuật có thể biểu lộ, truyền tải các ý tưởng cũng như cảm xúc
                    -> Mở rộng định nghĩa cảm xúc
                    -> Mối quan hệ với chính mình trong sáng tác của nghệ sỹ (xem thêm Bohm về sự thông đạt - On dialogue)

*Lý thuyết nhận thức: thuyết dụng hành
- John Dewey: (i) tri thức sử dụng (knowledge how), (ii) tri thức cảm xúc (emotional knowledge).
- Nghệ thuật là công cụ - tạo khả năng nắm bắt thực tại - phong phú tri giác - truyền thông những thứ bất khả quy giản thành mệnh đề.

- Nelson Goodman: Các ngôn ngữ nghệ thuật (Languages of Art) - chịu ảnh hưởng từ ngành tâm lý học tri giác (perceptual psychology).


Chương 7, Số hóa và sự truyền bá

[Mở rộng khả năng tri giác và thay đổi có tính cách điều kiện, sự phản tư]

- Walter Benjamin: anh hoa (aura) bị uế tạp - quyền năng tôn giáo/sự duy nhất.
                       + Điện ảnh nới rộng khả năng tri giác.

- Marshall McLuhan: "phương tiện truyền thông chính là thông điệp"
                       + Truyền hình: khuyến khích kiểu tư duy phi tuyến tính và theo lối tranh khảm.
                       + nhấn mạnh xúc giác/thính giác/biểu lộ nét mặt.

- Bill Viola: [phản đối ý kiến truyền thông mở rộng khả năng tri giác] nghệ sỹ phải làm việc trước đã, rồi mới đạt tới sự tri giác nâng cao.

- Jean Baudrillard: công chúng không chỉ lơ đãng mà biến mất (trước màn hình vi tính, trong những đường hầm).
                        + Hiện thực phì đại (thậm phồn?): hyperreal
                        + Bản đội lốt (simulution): đám cưới trong những cảnh quay phim...

* Không gian số: 2 lựa chọn
- Sự vắng rỗng, cái ác vô hình/sự tự quyến dụ trước đám đông thông qua bản đội lốt...
- (hay) nơi chốn cho kết nối cộng đồng cũng như sự khám phá cảm giác - đem lại ích lợi, trí tuệ, sáng tạo...

*Kết luận:
- Richard Anderson: "nghệ thuật là ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa, được mã hóa khéo léo trong một chất liệu gợi cảm và gây xúc động"

- Robert Irwin: "nghệ thuật là một khảo sát liên tiếp vào nhận thức tri giác của chúng ta và là một nới rộng liên tiếp cho nhận thức của chúng ta về thế giới xung quanh"

[Xem thêm]
- Diawa Raffman: Ngôn ngữ, âm nhạc, và trí tuệ (Language, Music, and Mind)


b.
Ở phần trước tôi thử cố gắng viết theo kiểu tóm tắt điểm sách có mạch lạc. Nhưng trong mạch lạc có cái gì đó bị thất thoát. Nên ở phần này tôi xếp bên cạnh một dạng bản chép tay (carnets) - để_ngắm_nghía. Vừa hay ngẫu nhiên đọc lại ghi chép "Bên cạnh đúng-sai" ngày trước thấy có nhiều điểm thú vị để suy nghĩ thêm. Nhét thêm một đống labels để lấy từ khóa tìm sách đọc ^^

Đọc lại - Bên cạnh đúng-sai

Suy nghĩ bất chợt về nghệ thuật

Nghệ thuật, cốt yếu ở chỗ tái tạo cảm xúc và bắt đầu từ cảm tính. Không hẳn ý nghĩa đến sau mà có vẻ nó đến trong nhập nhằng. Khi xem 1 vũ công khiêu vũ trên băng thì cảm hứng mỹ cảm đến trước hết với tôi. Nhưng cũng có thể vì tôi chưa am hiểu và có kinh nghiệm về kỹ thuật của bộ môn này. Lại là nói về sự đào luyện. Rõ ràng những người có kinh nghiệm luyện tập trong 1 bộ môn nào đó sẽ thường có khả năng cảm nhận tinh tế hơn về bộ môn đó. Phải chăng ngay cả xúc cảm thẩm mỹ cũng chỉ quy về việc "tập và quen" trong 1 ngữ cảnh văn hoá nhất định?

"Mọi sự miêu tả cảm tính bất kỳ một vật thể sống hay hiện tượng nào từ giác độ trạng thái cuối cùng của nó, hay là dưới ánh sáng của thế giới tương lai, sẽ là tác phẩm nghệ thuật.” - Soloviev.


Dụng học của tri thức tự sự

Dưới hình thức 1 Báo cáo thẩm định nhưng sự thực thì cuốn "La condition Postmodern"/Hoàn cảnh hậu hiện đại-của F.L có tính chất như 1 đề cương lớn cho những ai muốn tìm hiểu những điều ông đã thực sự phát biểu trong những dòng giản lược. Nhưng hễ có thân phận con người thì thảy đều có quyền triết lý (K.Jasper), cuốn sách vạch ra những khía cạnh căn bản của 1 tổng thể tri thức thời đại (1979).

F.L tiếp cận vấn đề bằng khái niệm "các trò chơi ngôn ngữ" (ngữ dụng học, Wittgenstein hậu kỳ-theo BVNS) và nếu chấp nhận sự tiếp cận này thì sẽ đi cùng ông đến các khái niệm về "tri thức tự sự", "tri thức khoa học", "phát ngôn sở thị", "nhận thức"...Theo cách này tôi thấy rõ ràng hơn khi nhìn lại câu chuyện về "học lệch" rất phổ biến ở VN (mà trong 1 entry của chị HY có đề cập đến-trong câu chuyện với con trai). Bản thân tôi cũng có những kinh nghiệm khá sâu sắc với chuyện này. Từ hồi cấp 1, các giáo viên trường tôi luôn vận động các học sinh khá giỏi rằng "học năng khiếu là học lệch".

Bệnh thành tích của GD địa phương đã sáng tạo ra những giải pháp chiết trung tiện lợi: chúng tôi thường tham gia "thi hộ"-"thi cùng" với các đội tuyển của trường NK. Coi như là học sinh của cả 2 trường. Càng học lên thì tâm lý "môn chính-môn phụ" càng nặng nề. Lễ, Tết theo đó cũng có nặng nhẹ khác nhau. Còn nhớ năm lớp 7, cô giáo Sinh và thầy giáo Hoạ có phê phán công khai chúng tôi trước lớp về tâm lý này. Ông thầy có nói 1 câu "sau này ra đời chưa chắc các em sẽ sống bằng kiến thức Văn, Toán. Rất có thể là Nhạc, Hoạ. Lúc đó hãy kiểm nghiệm lại lời tôi.". Điều này kể cũng có tác dụng phản tỉnh và cuộc sống về sau cũng cho những phản tỉnh thường xuyên.

Nhưng có 1 điều canh cánh mơ hồ thường trực là cảm giác hình như câu chuyện có cái gì đó lệch dòng, chệch choạc khi tri thức được phân chia thành các ngăn riêng rẽ. Sau này lại thấy thêm 1 cái gì đó chệch choạc hơn nữa khi mọi thứ (chủ yếu ở VN) đều tìm cách hợp thức hoá bằng mấy chữ "có tính khoa học". Ngay cả các ngành nhân văn cũng tìm cách "khoa học hoá" bộ môn của mình. Xa hơn nữa thì là câu chuyện lược quy chân lý vào Logic hình thức. Định lý bất toàn của Kurt Godel trong Toán học thường được viện dẫn trong nhiều diễn ngôn phong phú thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trong mục 6 "Dụng học của tri thức tự sự", Lyotard phân biệt các khái niệm "nhận thức", "tri thức", "khoa học" đồng thời bàn về các hệ tiêu chí khác nhau. Theo ông, "tri thức không đồng nhất với khoa học, đặc biệt dưới dạng hiện nay của nó" và "tri thức nói chung không quy về khoa học và thậm chí về nhận thức". Để hiểu rõ điều này cần nắm được cách định nghĩa của Aristote về "sở thị": "Mọi lời nói đều biểu thị cái gì đó, nhưng không phải mọi lời nói đều là sở thị. Chỉ là sở thị cái mà có thể nói về nó là đúng hay sai. Nhưng, điều này không phải bao giờ cũng làm được: chẳng hạn lời cầu nguyện là một lời nói nhưng nó không đúng không sai" (Péri herménèias; 4,17a)-(dẫn theo sách).

Nhận thức, do vậy, được giới hạn bằng tiêu chí "có thể qui về đúng sai". Khoa học là tập con của nhận thức. Nó kèm theo 2 tiêu chí là đối tượng mà chúng phản ánh phải dễ đệ qui, và do đó, phải ở trong hoàn cảnh được quan sát rõ ràng; hai là có khả năng quyết định mỗi phát ngôn này là thuộc về hay không thuộc về 1 ngôn ngữ mà giới chuyên gia cho là thích đáng.

Nhưng tri thức thì dù tất nhiên là phát ngôn sở thị nhưng nó được trộn lẫn vào những ý tưởng về tri thức-làm, tri thức-nghe, tri thức-sống...Nó vượt ra ngoài việc xác định và áp dụng tiêu chí chân lý duy nhất. Còn có những tiêu chí về tính hiệu quả (nhân tiện-Bàn về tính hiệu quả; F.Jullien), sự công bằng (Xác lập cơ sở cho đạo đức-F.J) và/hay hạnh phúc, vẻ đẹp của âm thanh/màu sắc..."Tri thức là cái làm cho ai đó có năng lực nói ra được những phát ngôn sở thị "hay", cũng như phát ngôn mệnh lệnh hay lượng định "tốt"->Tri thức cho phép thu được những thành tựu "tốt" về nhiều đối tượng của diễn ngôn: để hiểu biết, quyết định, đánh giá, thay đổi...

Đặc điểm chính yếu của tri thức, do đó, vẫn theo F.L: nó trùng với 1 sự "đào luyện" bao trùm nhiều thẩm quyền: nó là hình thức duy nhất được hiện thân trong một chủ thể, và chủ thể này là 1 tập hợp gồm nhiều loại thẩm quyền khác nhau cấu tạo nên nó. (sdd, tr105)
-------------


Phản tư
Khi xuôi chiều nhận thức thì không có vấn đề gì, nhưng tôi thường có cảm giác truyền thống tư tưởng Phương Tây không thể tách khỏi ảnh hưởng của cái tinh thần "Lời làm nên xác thịt" trong Cựu Ước. "Khởi đầu là Lời.".

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland. 1


(An Introduction to Art Theory) - Nguyễn Như Huy dịch. (Còn 1 phiên bản với tên "Thế mà là nghệ thuật ư?". NXB Tri Thức)

----------

Nếu ai đó yêu cầu chúng ta tùy tiện kể ra vài tác phẩm nghệ thuật thì hẳn ai cũng làm được - ai cũng có vài thứ để liệt kê dễ dàng. Nhưng nếu bị xoay sang hỏi "Nghệ thuật là gì?" thì sẽ khác hẳn. Nghệ thuật quá đa dạng, quá khác biệt từ chỗ này sang chỗ khác và từ thời nay đến thời xưa. Chưa bao giờ nghĩ đến chuyện khái quát hóa thì cũng là chuyện bình thường, nhưng thỉnh thoảng biết đến, chứng kiến những thực hành nghệ thuật đương đại - vốn dĩ quá xa lạ với những cái biết truyền thống ở VN hiện nay - thì câu hỏi kia lại quay trở lại rất thiết thực; nhất là khi ta biết rằng nghệ thuật được coi là phương thức chúng ta mở rộng và sáng tạo trong cách tri giác thế giới. "Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật" của Cynthia Freeland là một cuốn sách hay, vừa vặn cho những ai không chuyên muốn có một sơ đồ để lần đầu bước vào thế giới rộng lớn của lý thuyết nghệ thuật. Nó hay vì tác giả đã tường giải những khía cạnh rất đa dạng, đối lập của chủ đề một cách khéo léo hấp dẫn mà các đối tượng được trình bày vẫn không bị giản hóa.

Tác giả chọn cách mở đầu gây shock khi dẫn những tác phẩm nghệ thuật hiện đại đã từng gây shock cho công chúng với những đề tài và chất liệu bạo liệt như máu, nước tiểu, xác động vật, sự đau đớn, tính dục...Chương 1, Máu và cái đẹp, trỏ thẳng cho chúng ta một sự thực rõ ràng là từ lâu đối tượng của nghệ thuật không còn chỉ là về cái Đẹp nữa. Nhưng dù vậy, về phía kinh nghiệm cảm thụ đối với nghệ thuật thì vẫn còn mối liên hệ quan trọng với những triết lý khởi nguồn quan trọng của Kant. Di sản của Kant để lại cho hậu thế những phân tích quan trọng về sự hồi phản của chúng ta với nghệ thuật: một hồi phản đặc biệt và bất vị lợi của sự trung tính và cách biệt - hân hưởng có độ lùi. Ngày nay, ví dụ, để bảo vệ, diễn giải một tác phẩm gây shock như bức họa "Đái vào Chúa" của Serrano, một phê bình gia như Lucy Lippard sử dụng phép phân tích 3 tuyến (three - pronged analysis), theo đó cả 3 khía cạnh tiếp cận là (1) các đương lượng hình thứcchất liệu, (2) nội dung của tác phẩm và (3) văn cảnh của tác phẩm, đều quan trọng như nhau và được phân tích diễn giải chi tiết. Nói cách khác, mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có nguồn mạch và cần được tường giải để khơi gợi công chúng đạt đến sự hân hưởng.

Trong chương 2, Các hệ hình và mục đích, bằng sự đi lại theo thời gian qua chiều dài lịch sử từ Cổ đại đến khi Andy Warhol trưng bày Những hộp xà phòng Brillo như một nghệ phẩm tại Gallery Stabler ở New York vào năm 1964, Cynthia Freeland đã kể cho chúng ta nghe mối liên hệ đa dạng và nhiều khi rời rạc giữa những diễn giải của các nhà tư tưởng với những tác phẩm nghệ thuật quan trọng từng thời kỳ. Bức ảnh chụp triết gia Arthur Danto đứng trước những hộp giấy đựng xà phòng trong phòng trưng bày có tính chất biểu cảm rất đặc trưng. Nói đứng trước là không chuẩn lắm, ông chắp tay sau lưng, hơi xoay người về phía nghệ phẩm trong xu hướng đi vòng quanh để xem xét. Không giống tư thái hân hưởng thông thường, dáng điệu của Danto trong bức ảnh là dáng điệu của sự chú ý nhưng có gì đó khó xử, đang được lý tính xử lý và tìm diễn giải. Cuốn sách đưa chúng ta đã đi đến điểm nhìn nhận nghệ thuật truyền thông tư duy hay cảm xúc nhờ vào phương tiện trung gian thuộc vật chất. Nhưng vấn đề tường giải về ý nghĩa và giá trị trong nghệ thuật mới chỉ vừa bắt đầu: "nói cái này cái kia là nghệ thuật khác với việc nói cái này cái kia là thứ nghệ thuật hay".

Đi vòng quanh địa cầu trong chương 3, Các giao cắt văn hóa, bằng vào cách xem xét những văn cảnh xa cách nhất, khác biệt nhất với phương Tây như ở châu Phi và Nhật Bản đã giao lưu, "du ngoạn" như thế nào trong thế giới hiện đại - "ngôi làng toàn cầu" - nơi mà "không nền văn hóa nào còn có thể biệt lập và xa cách", tác giả dẫn chúng ta đến những quan sát toàn cảnh về nghệ thuật của các nền văn hóa: bị tách khỏi văn cảnh, bị xung đột và so sánh, bị lai ghép, vay mượn...Liệu chúng ta có thể tìm được điều gì đó tương tự trong nghệ thuật từ mọi nền văn hóa (Richard Anderson) như niềm tin của John Dewey: "nghệ thuật là ngôn ngữ phổ quát" giúp phá vỡ rào cản giữa các nền văn hóa? Có nghĩa là tin vào một sự tiếp xúc trực thời dù sau đó còn là vấn đề "cần phải thụ đắc được ngôn ngữ nghệ thuật". Ý tưởng về tính phổ quát của giá trị và tri nhận là một ý tưởng rất hấp dẫn nhưng sẽ còn phải chống chọi nhiều với những tranh luận đa tạp - hậu-hiện đại đã từng từ chối thẳng thừng cái phổ quát ấy. Cũng cần để ý rằng ý niệm "nghệ thuật vẫn biểu lộ ra đời sống của một cộng đồng" của Dewey sẽ đưa ta đi xa tới câu chuyện về cách nhìn của nhánh Cultural studies (CS) đối với popular culture, về nơi các nhóm xã hội đấu tranh lẫn nhau bằng vũ khí của meanings và representations (quyền được diễn nghĩa thế giới và tái trình hiện hiện thực của các nhóm thiểu số trong mối quan hệ đối kháng với nhóm đa số) (*)

Tình thế ngập ngừng trong cách nhìn mối quan hệ có hay không có sự đối nghịch giữa nghệ thuật và đời sống như vậy hoàn toàn có thể là rất hệ trọng khi quy chiếu về vấn đề sự đấu tranh giữa các nhóm, các giai tầng xã hội - một khái niệm rõ ràng chịu ảnh hưởng bởi Marxism. Có một góc độ khác để rọi chiếu nó (chương 4, Tiền bạc, thị trường, bảo tàng), từ những thực thể có tính định chế cho nghệ thuật: các bảo tàng - chúng định tính, định vị các giá trị; là biểu tượng của cộng đồng và của các nhóm xã hội. Bảo tàng cũng là nơi thể hiện rõ nét mối liên hệ giữa nghệ thuật và tiền bạc - nguồn cơn của sự khước từ bảo tàng về sau này như những gì đã diễn ra với grafitty art hay những tác phẩm không thể bán của Christo và Jeanne-Claude. Quyết liệt hơn nữa, những người đấu tranh cho nữ quyền tấn công định chế bảo tàng từ tận những chuẩn tắc và nêu những câu hỏi về một bản chất nữ (chương 5, Giới tính, thiên tài và các Nữ du kích); qua đó nổi bật lên vấn đề về việc "làm thế nào để diễn giải nghệ thuật?" - là chủ đề của chương 6. Có thể nói, nếu muốn làm biếng thì chỉ cần đọc kỹ chương này và chương cuối của cuốn sách. Thực tế tinh thần của các chương khác đã được xây dựng xung quanh những luận điểm lý luận quan trọng của 2 chương ấy. Chúng đã tạo ra mạch lạc của một bản đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật. Nhưng phải chăng đó cũng là chỉ dấu cho thấy hoàn toàn có thể còn những phiên bản khác để diễn giải bức tranh lý thuyết nghệ thuật, trong một nguồn mạch khác.

(còn tiếp)
----------

(*) Tham khảo ở đây: http://gauxx.blogspot.com/2012/05/cai-oi.html




Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Phi-vô-bất-chẳng Niệm xứ. 1

Cũng giống như đề mục "truyền thông", tìm hiểu về "nghệ thuật đương đại" đối với tôi là việc phải làm nên biết trong chuỗi tiến hóa của bản thân. Nhưng "biết đến mức nào thì đủ?". Khi mà "truyền thông chính là văn hóa" (à la CS) và nghệ thuật đương đại thì nhập thế đến độ phổ sinh và chính là sự mở rộng và sáng tạo không ngừng cách chúng ta tri giác về thế giới mà ta ở-đó? Câu hỏi này hơi khó chịu và dai dẳng nhưng tôi nghĩ vẫn không thể thay được câu hỏi "sống thế nào?" bằng những câu kiểu như "nghiên cứu/hiểu/biết/chơi/làm truyền thông (hay contemporary art) thế nào là đủ?". Thì cứ thử đọc to mấy câu hỏi ấy lên mà xem ^^ "Người ta có quyền hoài nghi khi không hiểu một cái gì đó" (N.Chomsky)

Carnets
(Dự án nghệ thuật đương đại đa phương tiện: Những chân trời có người bay)

- Không gian gây ấn tượng trực thời nhất. Làm liên tưởng đến nghệ thuật Origami: cả không gian như từ một tờ giấy được gấp dựng lên một nơi chốn chơi-trò chơi. Mỗi điểm studio trên bề mặt biến đổi này như là một cái hốc: từ nghĩa đen 3D đến một chiều thếp mới - nó như một concept đang được kiến tạo và khu trú trong văn cảnh.

- Sự đồng nhất (vô tình?) về thời trang của những người trong khuôn viên (cả khán giả và nghệ sỹ): tông màu đô thị ấm, bạc, hơi vô sắc, chói chỉ là điểm xuyết. Chất cảm thấm, xốp. Nôm na là kiểu bụi bụi quen quen nhưng sạch sẽ.

- Thời gian vụt chạc và nhất thời của khán giả. Thời gian "đầy đủ" của nghệ sỹ theo kế hoạch. Luôn là như vậy. Cần một cam kết? Một sự giáo dục? Một sự thông diễn? Phải chăng luôn là bất đối xứng?

- Sự vượt trội của các thiết bị ghi hình và cảm giác thiếu vắng sự mật thiết chú tâm.

- Thông cáo báo chí và tên dự án (với cảm nhận cá nhân) là hơi xoàng. Đặt đâu cũng được, cũng vẫn thế.

- Đa phương tiện - tiến trình. Giải cấu trúc.


Khác

- Một bước về phía tự do, tự khẳng, tự quyết.

- Phản tư, nghiệm sinh, mô tả, biểu hiện và tương tác giao tình - đào sâu, mở rộng trải nghiệm - (một cách) sáng tạo.

- Phép phân tích ba tuyến (three-pronged analysis): các đương lượng hình thức và chất liệu/nội dung tư tưởng tác phẩm/văn cảnh của tác phẩm. Hội tụ hay chính độ chênh mới đem lại khả thể?


Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Đọc "Chữ số hay lịch sử một phát minh vĩ đại" - Georges Ifrah


Tôi mua cuốn sách này kèm với mấy cuốn khác ở chỗ NXB. Cũng ngần ngừ rồi nhặt vì nghĩ nó thể nào cũng có phần nói về mối liên hệ nhận thức con số với thân thể con người - là chủ đề mà tôi quan tâm. Sách dạng này có cái hay là dễ đọc một lèo, không phải đắn đo suy xét nhiều. Tưởng là vậy nhưng đọc đến hồi cuối thì cũng phải chép lại vài điều.

Đáng kể nhất, nổi bật nhất là cảm khái về sự vòng vo, khúc khuỷu của lịch sử nhận thức của nhân loại đối với con số. Nó không phải kiểu liên tục hay tuyến tính, mà tiến hóa dần dần cũng như sự tiến hóa của lịch sử các xã hội rời rạc trên quả đất. Một cái gì hiển nhiên hóa ra không hiển nhiên. Cái gì tưởng như bản năng hóa ra không phải như vậy. Toán học thường được coi là tư biện, trừu tượng bậc nhất, nhưng ở đây, gắn với câu chuyện của những con số, nó có nhân thân xuất xứ hẳn hoi - luôn luôn là là mặt đất, ở đâu đó giữa xã hội, lợn gà dê bò thóc lúa...

Sách có nhiều hình minh họa, nhiều câu chuyện chi tiết cụ thể để những người ưa thích toán học có thể lưu trữ trong vốn liếng câu chuyện làm quà của mình. Tôi quan tâm nhiều đến cái chiều kích cảm nghiệm thân thể trong tương quan với thế giới quan như thế nào hơn là những chi tiết minh họa nhiều khi rất lằng nhằng mệt óc. Đấy cũng là cái hay của loại sách thường thức này: có thể đọc theo nhiều cách khác nhau, tùy tạng mỗi người.

Carnets:

- Con người thông minh và có tính xã hội: sự vượt trội của kinh nghiệm so với bẩm sinh.

- Cảm nghiệm thân thể - quy chiếu về thân thể: con người cổ đại phân biệt 1, 2 và rất nhiều (3 = rất nhiều)/ từ những ý niệm cụ thể và quan trọng xung quanh họ.

- Người Ấn độ diễn đạt các con số bằng những ý niệm: 0 = không khí, rỗng không, trời...1 = mặt trăng, vị thần, kinh Veda...2 = cặp đôi...

- Ý niệm phổ quát về số học (không có tháp Babel)

- Lịch sử số học với/trong xã hội, được lưu trữ hay lựa chọn do xã hội.

- Con số googol 10 mũ 100: giới hạn của thế giới vật lý/số hạt cơ bản trong vũ trụ 10 mũ 88, tỷ lệ đường kính foton và đường kính vũ trụ 10 mũ 42....

- Cái vô hạn  = phủ định hữu hạn. Số siêu lớn: cái vô hạn - bộ phận = tổng thể.
-------------------

Có những pha mình đọc sách rất vào, lại có pha mình viết rất hăng. Tầm này lại đang rơi vào pha đọc loáng thoáng, nghĩ ngợi, đánh dấu và kết nối nên lười viết ^^ Nhưng cũng phải cố vì để lâu sẽ chán blogging thì sợ là tụt hẳn :P

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

Bùi Văn Nam Sơn - Đạo đức học diễn ngôn


(Jurgen Habermas, Karl-Otto Apel)


- Phân biệt Đạo đức học với Luân lý:
            + Luân lý (Moral) là những điều quy định con người nên hay không nên làm.
            + Đạo đức học là môn học bàn về cơ sở của luân lý; tức là nghị luận triết học về luân lý. Khởi đầu từ triết học Hy Lạp cổ đại.
            + Các phái sinh của Đạo đức học: Triết học xã hội, triết học pháp quyền...Tất cả thuộc nhánh triết học thực hành với đối tượng là hành động của con người. Nó phân biệt với nhánh khác của triết học lý thuyết như siêu hình học...

- Về khái niệm Diễn ngôn:
            + Là một khái niệm thời trang kể từ những năm 60s của thế kỷ trước.
            + Khái niệm Diễn ngôn có nhiều lớp nghĩa, tuy nhiên trong Đạo đức học nó được xác định bằng một nghĩa hẹp: phân biệt với Lời nói có tính chất trao đổi thông tin, Diễn ngôn là hành vi truyền thông đặc biệt, đặc thù. Bằng lập luận nó bàn về cơ sở của những yêu sách khẳng định có tính phổ quát.
            + Sự bàn luận ở đây không phải là những giáo điều quyền uy mà bằng các lập luận. Nó không trao đổi thông tin mà trao đổi các luận cứ (ủng hộ hay phản biện những yêu sách có giá trị phổ biến - vd: yêu sách không giết người - xem chúng có biện minh được hay không).

- Về khái niệm "Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành":
            + Ví dụ: khi tôi nói "tôi sẽ không nói gì", có 2 phương diện ở đây là nội dung lời nói và hành động thực hiện (hành động nói, hành vi nói). Hành vi nói đã phủ định nội dung của nó. Đây chính là Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành. Chỉ diễn trình ngôn ngữ trong hoàn cảnh nào đó. Nói tự nó đã là một hành vi làm điều gì đó.
            + Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành là bí quyết để xây dựng Đạo đức học diễn ngôn. Habermas và Apel đã sử dụng nó để giải quyết vấn đề đặt cơ sở tối hậu cho các luân lý.

- Tham vọng đặt cơ sở tối hậu là khả nghi. Triết gia duy lý phê phán Hans Albert đã phân tích về tham vọng này là bất khả thi: Bộ ba bất khả thi, Tam nan, Tam bất khả. Muốn đặt cơ sở tối hậu chỉ có 3 cách, và đều bế tắc.
            + (1) Quy thoái đến vô tận
            + (2) Luẩn quẩn - đặt cơ sở trong một cái cũng phải đặt cơ sở.
            + (3) Cắt đứt: bằng khẳng định, khẳng quyết võ đoán, giáo điều.
- Tóm lại chính sự tự mâu thuẫn ngôn hành sẽ là chìa khóa giúp Apel đi vòng qua khỏi tam nan. (Một cương lĩnh nghiên cứu tham vọng, mạo hiểm).

- Lược sử hình thành 4 mô hình trong lịch sử triết học:
            (1) - Truyền thống đối thoại Socratics: Hộ sinh tinh thần.
            (2) - Triết học siêu nghiệm của Kant (mệnh lệnh nhất quyết): hình mẫu cho đạo đức học phổ quát.
            (3) - Diễn ngôn tương đối luận - đưa kích thước lịch sử vào trong triết học (tiêu biểu của thời Hiện đại, Hậu hiện đại, bắt nguồn từ Heghel)
            (4) - Sự thay đổi hệ hình thông qua Habermas và Apel bằng triết học ngôn ngữ và tính liên chủ thể.

1 - Truyền thống Socratics:
            + Dẫn người đối thoại vào những câu hỏi đơn giản, bằng cách đặt câu hỏi, lập luận đối thoại cùng nhau đi đến chân lý.
            + Lối lập luận dũng mãnh nhưng không áp lực, quyền uy hay lừa dối. Tạo ra sự cưỡng bách không có tính cưỡng bách của luận cứ tốt hơn.
            + Khác với biện sỹ, Socratics không nhằm thuyết phục mà tạo ra sự xác tín nơi người đối thoại (hộ sinh tinh thần).
            + Hình thức đối thoại thư giãn, vui vẻ, là cách để tránh khỏi hoạt động. Môi trường thuần lý, thoát khỏi mọi sức ép. Khác với những đối thoại chính trị hay biện hộ trước tòa là dùng lời nói theo đuổi lợi ích; là những hành động mang tính chiến lược strategic action, nhiều tính toán mưu mô vì mục đích riêng.

* Di sản của Soccratics là phân biệt hành động chiến lược với hành động tương giao thông hiểu lẫn nhau (communicative action).

2 - Triết học Kant - Kant để lại 2 di sản cho Đạo đức học diễn ngôn:
            a- Triết học siêu nghiệm: siêu nghiệm là cái có trước cái nghiệm, là tiền đề khả thể cho việc hình thành kinh nghiệm của chúng ta. (Những cái gì nằm sẵn trong ta).
            + Apel cải biến Kant: thay vì điều kiện khả thể của cái tôi cá biệt, cô đơn chủ quan; không phải tìm ở cái tôi cá nhân mà tìm ở liên chủ thể.
            + Apel gọi Đạo đức học diễn ngôn là Ngữ dụng học siêu nghiệm (điều kiện khả thể của những cá nhân đối thoại liên chủ thể).
            b- Mệnh lệnh nhất quyết: ta là con người có dục vọng nên phải có mệnh lệnh ràng buộc. Có 2 loại mệnh lệnh: mệnh lệnh giả thuyết (có quyền không theo) và mệnh lệnh nhất quyết (không thể không làm)
            + Kant: mệnh lệnh nhất quyết từ chính anh đặt cho anh nếu là người. Là sự hiển nhiên của lý tính không thể chứng minh, cũng không thể phản đối. Vd như việc cứu người.
            + "Hãy hành động sao cho châm ngôn của ý chí của bạn lúc nào cũng có giá trị hiệu lực như những nguyên lý phổ quát".
            + Nguyên lý mệnh lệnh nhất thiết nó ghi nhận nhưng không thừa nhận những quy luật có tính khu vực.
            + Theo Kant: có 1 quy luật có nguyên lý phổ quát; nếu không luân lý sẽ sụp đổ, chỉ còn lại những tập quán.

3 -  Tương đối luận:
            + Con người không chỉ là công dân trong thế giới phổ quát, còn là con người cụ thể trong tình thế cụ thể.
            + Hình thành trường phái nhấn mạnh hiện thực xã hội chống lại nguyên lý phổ quát - bỏ qua, cào bằng. Chủ trương nền đạo đức cụ thể, thực chất, mang tính lịch sử; khởi từ Heghel.
            + Đặt ra hàng loạt vấn đề. Có một biến thể cực đoan: quá nhấn mạnh dị biệt "không có cái thiện nói chung. Chỉ có những cái được coi là thiện trong từng bối cảnh cụ thể". Trào lưu Hậu hiện đại hoan nghênh sự suy tàn của quan niệm phổ quát: trò chơi vô tận của những sự khác biệt. Kant chỉ là thuyết vị chủng.
            + Hậu hiện đại là cơ sở biện minh cho những giá trị (lỗi thời) châu Á (nhân quyền mang màu sắc châu Á).
4 - Habermas: sự thống nhất của lý tính và sự đa dạng của những giọng nói.
            + Sự thống nhất của lý tính: bảo vệ di sản của Khai Minh.
            + Sự đa dạng của giọng nói: sự mới mẻ của thời đại cần được tính toán đến.
- Bảo vệ 2 điều trên bằng cách nào?
            + Không đơn giản trong quyền uy
            + Không đơn giản triết học chủ thể độc thoại.
- Cải biến Kant bằng triết học ngôn ngữ: thay đổi hệ hình (mẫu mực và hệ thống khuôn mẫu).
- Có 3 giai đoạn hệ hình:
            (a) - Lấy sự tồn tại làm đối tượng nghiên cứu.
            (b) - Lấy ý thức cá nhân làm đối tượng nghiên cứu
            (c) - Lấy liên chủ thể - thông qua ngôn ngữ như là môi trường - làm đối tượng nghiên cứu.
Đây là bước ngoặt triết học ngôn ngữ.
            + Cổ đại Hy lạp (a): "nó là gì?" tìm cầu trúc khách quan của thế giới từ đó chủ thể rút ra kết luận cho mình.
            + Decarte (b): triết học về ý thức. Cơ sở tối hậu của sự xác tín là cái tôi tư duy - từ đó xây dựng toàn bộ thế giới. Nguy cơ của hệ hình này là hố thẳm của thuyết duy ngã.
            + Bước thay đổi triệt để: từ tính khách quan thuần túy, từ chủ quan thuần túy độc thoại đến sự tương giao liên chủ thể. (c) giải quyết được: (i) phá vỡ khuôn khổ chật hẹp cũ; (ii) Tạo được sự đồng nhất hóa tông qua đồng thuận chung của những cá nhân đa tao trong một đối thoại đa nguyên.
- Theo Habermas thì 2 lý tưởng đạo đức tưởng như xung đột với nhau đã được kết hợp trong đạo đức học diễn ngôn: đó là sự kết hợp giữa lý tưởng tự do và lý tưởng đoàn kết.
            + Nếu cá nhân được tự do tham gia vào diễn ngôn trong một cộng đồng ngôn ngữ hòa nhập bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng hướng tới sự thông hiểu thì sẽ vượt qua được sự xung đột.
-  Diễn ngôn không phải là trao đổi thông tin. Khi nào có vấn đề (xem quan điểm có đúng không/xem hoạt động ứng xử có đúng không).
            + Khi diễn ngôn ta phải tạm thời tách mình ra khỏi sự hối hả của đời sống: giữ khoảng cách với chính mình và sự vật thì mới có thể diễn ngôn. Lý tưởng của diễn ngôn ở đây là những cuộc đàm thoại thung dung (Hy Lạp cổ đại) - để nghe nhau, thông cảm cho nhau. Là hành động đích thực mang tính người (tương giao).
            + Diễn ngôn bàn về những vấn đề nguyên tắc. Trong diễn ngôn ta làm gì? (ngoài nội dung).
            + Phải tiền giả định một số điều kiện cơ bản (những điều kiện khả thể cho nhận thức).

- Ta phải tiền giả định 4 điều kiện:
            (1) - Ta quan tâm đến tính đúng đắn của sự việc không vì mục đích riêng
            (2) - Tầm quan trọng của lời nói là ở nội dung chứ không phải ở quyền uy.
            (3) - Mục đích không phải giành lẽ phải về phía mình mà là sự khách quan.
            (4) - Lập luận dần dần dẫn đến xác tín (không phải sự lừa dối).

- Thực ra trong đối thoại chính trị, hay kinh doanh cũng đều phải có 4 tiền giả định này.

- Tiền giả định có thể trái với thực tế:
            + Nó giữ vai trò chân trời không tưởng - nó quy định sự thành tựu của mọi diễn ngôn.

(Habermas) - (4 tiền đề): Hoàn cảnh nói lý tưởng - gồm 4 tính chất:
            (1) - Bình đẳng (mọi người đều có cơ hội diễn ngôn)
            (2) - Cởi mở và minh bạch
            (3) - Trung thực và chân thật
            (4) - Sự tử tế với nhau.

(Habermas): Hoàn cảnh nói lý tưởng không phải là 1 hiện tượng thường nghiệm, không phải sản phẩm tưởng tượng mà là một sự giả định mà ta phải cần dành cho nhau. Nó là một sự dự đoán, một ý niệm điều hướng. Nếu không mọi diễn ngôn đều vô ích. (Diễn ngôn lý tưởng nơi chân lý, sự đúng đắnm hình thành lên thông qua sự đồng thuận của mọi người).

* Apel sử dụng đặc điểm này để đặt cơ sở tối hậu cho Đạo đức học diễn ngôn: Ngữ dụng học siêu nghiệm.
- Ngữ dụng học phân biệt: cú pháp học (ký hiệu), ngữ nghĩa học (quan hệ ý nghĩa và ký hiệu), ngữ dụng học (ký hiệu và người sử dụng).

- Lý thuyết hành vi nói:
            + Hành động nói nhấn mạnh tính cách hành động của lời nói (Austin).
            + Trong hành vi nói ta phân biệt nội dung nói với hành vi nói.
- Ngữ dụng học : hoàn cảnh nói cụ thể, tình hình, hành động tương giao.
- Siêu nghiệm: điều kiện khả thể.

Apel tra hỏi điều kiện khả thể tối hậu của diễn ngôn bằng truyền thông, tương giao, liên chủ thể. Sự tự mâu thuẫn ngôn hành là chìa khóa xác lập.

- Ý tưởng: ngay người hoài nghi triệt để nhất khi bảo vệ quan điểm của họ cũng phải bằng 1 hành động (lập luận) - mặc nhiên đã có những tiền giả định không thể tránh khỏi. (Vd tôi nói "tôi không nói").
- Trong một diễn ngôn thực hành cũng phải mặc nhiên thực hiện một số quy tắc.
- Không thể đặt điều kiện về những tiền đề giả định. Khi lập luận buộc phải chấp nhận điều kiện khả thể. Không chỉ trong môi trường ngôn ngữ mà còn giữa những người khác trong xã hội, thậm chí là những người ở tương lai.

(Apel): Cái tiên nghiệm của cộng đồng truyền thông (ngôn ngữ) nó là tiền đề, độc lập với nội dung cụ thể. Không thể chứng minh được, không phủ nhận được nếu không sẽ vướng vào sự mâu thuẫn ngôn hành.
- Hoàn cảnh nói lý tưởng của Habermas: ngoài những yêu cầu tối thiểu về logic còn đỏi hỏi mặt quy phạm. Ngoài bình đẳng còn cùng chịu trách nhiệm về sự đồng thuận. (Trách nhiệm cộng đồng).

- Đạo đức học diễn ngôn không chỉ riêng cho diễn ngôn. Nó đặt cơ sở tối hậu cho đạo đức học nói chung.
Điểm này khác biệt với Habermas vốn chỉ tập trung vào phương thức và thao tác đạt được quy phạm luân lý. Ông gọi Đạo đức học diễn ngôn là Ngữ dụng học phổ quát.

- Nguyên tắc phổ quát hóa của Habermas: (trong điều kiện thế kỷ 20 với sự phức tạp) Bất kỳ quy phạm có giá trị nào đáp ứng những điều kiện sau:
            + Bất kỳ hoạt động cá nhân theo một nguyên tắc đạo đức nào đó tạo ra những hậu/hệ quả được mọi người chấp nhận.
            + Một quy phạm chỉ được phép yêu sách có giá trị hiệu lực khi mọi người tham gia đều đồng thuận.
- 02 nguyên lý của Habermas bảo vệ triết học khỏi:
            + Nguy cơ giáo điều tiền Khai Minh và phản Khai Minh.
            + Tránh nguy cơ tùy tiện của Hậu Hiện Đại (chối bỏ mọi yêu cầu phổ quát).
            + Nguy cơ tân bảo thủ: chỉ dựa vào những quy ước đơn lẻ, từng trường hợp; tránh né trao đổi diễn ngôn, chỉ chấp nhận tập quán.
            + Bảo vệ di sản thuyết phổ quát đạo đức học Kant thông qua  con đường đồng thuận liên chủ thể.

Apel bổ sung 1 nguyên lý khác:
- Habermas mới chỉ là phương thức thao tác chưa vào cốt lõi - phải gắn với cứu cánh.
- Trước thực tế hoàn cảnh nói lý tưởng hiếm khi diễn ra mà hệ quả đối với từng cá nhân tham gia vào diễn ngôn là nghiêm trọng. Cần rút ta nguyên lý bổ sung: hãy hành động theo châm ngôn bạn có thể giả định rằng bằng việc tham gia diễn ngôn, hậu quả đều được các cá nhân tham gia chấp nhận. (Ý thức tự giác tham gia diễn ngôn hiện thực).
- (Khi tham gia khó loại trừ trường hợp có người có tư duy chiến lược với ý đồ tinh vi). Apel: chúng ta phải hành động thế nào cho những hoạt động phi bạo lực, quyền lực của diễn ngôn ngày càng trở thành thực tiễn - đưa hoàn cảnh nói lý tưởng vào thực tiễn.
- Cương lĩnh đấu tranh cho nền dân chủ hiện đại:nguyên lý đạo đức, nghĩa vụ luân lý.
- Nguyên lý khác: nguyên lý bảo tồn nền tảng sống còn thuộc về bản chất người - cộng đồng tương giao - bảo vệ những thành tựu văn hóa lịch sử - nguy cơ hủy diệt môi sinh...
------------
Mở rộng:
- Ở các nước thế giới thứ 3 (quá khứ thuộc địa): vấn đề hòa giải, đồng thuận. Muốn đạt được phải đặt cơ sở trên 1 số giả định.
1 - Đối chiếu Đạo đức học diễn ngôn và Đạo đức học Kant:
            + Phê phán duy ngã trong Kant có chính đáng không? Kant đã có ý về quan hệ với người khác. Ý chí luân lý đã thừa nhận tự do của người khác. Thực chất là đã có tính liên chủ thể.
2 - Đạo đức học diễn ngôn là tiến hay lùi so với Kant?
- Đạo đức học diễn ngôn đặt cơ sở cho nhân quyền nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể. Có khoảng cách giữa hiện thực và lý tưởng. Phải chăng cần ý chí tự do của Kant?
- Habermas thay thế cảm thức luân lý bằng quy định pháp lý là đóng góp lớn của Đạo đức học diễn ngôn. Nỗ lực đặt quy phạm có đủ cơ sở cho luân lý? Phải chăng lẫn lộn giữa chính trị và luân lý? Đặt nặng lý tính xem nhẹ xúc cảm là nguy cơ đánh mất động cơ luân lý (Kant) - ý chí thiện cá nhân. Không có động cơ, quy định pháp lý mong manh.
3 - Sự chưa thống nhất giữa đồng thuận và bình đẳng:
Lyotard: đồng thuận lỗi thời, khả nghi. Bình đẳng mới quan trọng.
- Hậu hiện đại đặt ra vấn đề quan trọng: thừa nhận tính dị loại trong nhiều trò chơi ngôn ngữ khác nhau: tôn trọng, chấp nhận, chịu đựng người khác.
- Phổ quát hóa là bất khả thi, không có nguyên lý phân xử những loại diễn ngôn khác nhau. Phân biệt phân xử nội bộ diễn ngôn và phân xử giữa các diễn ngôn.
Apel trả lời: đạo đức học diễn ngôn không được phép nghị luận gia trưởng - nguy cơ toàn trị, trở lại sự thống trị của đa số.
- "Thật phi lý khi trước thách thức toàn cầu, thảm họa sinh thái, thách thức chúng ta phải sống chung với nhau tất yếu sống còn, không thể lấy yêu cầu hòa giải đồng thuận làm mối nguy cho sự đa dạng"
Apel tin rằng Đạo đức học diễn ngôn theo chúng tôi là quan niệm đạo đức học duy nhất đáp ứng được một nền đạo đức học vĩ mô hậu quy ước về một cộng đồng trách nhiệm phổ quát toàn nhân loại.
            (1) Nguyên lý diễn ngôn: cá nhân tham gia chịu trách nhiệm chung gánh phần người khác.
            (2) Là công cụ hiện đại để phân phối, điều chỉnh cùng chịu trách nhiệm, hướng dẫn kỹ năng thao tác đối với những vấn đề quy mô toàn cầu.
- Đạo đức học diễn ngôn: tinh thần dân chủ khai phóng đang phát huy trong thực tế giải quyết xung đột, hòa giải văn minh - nền tảng của quốc tế hiện đại. (Habermas, Apel: cái bàn thì tròn).



------------------------------
(Ghi chép buổi thuyết trình của BVNS ngày 24/11/2012. Có thể sẽ hiệu chỉnh lại) 

Anh Gauxx để ý BVNS dịch communicative action là hành động tương giao (liên chủ thể) - so với anh dịch hành động tương liên ở mấy bài trước.

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Ông mày còn giữ những việc gì?



Viết blog là viết theo cơn hứng. Có những thứ nằm rõ ràng mười mươi trong đầu mình rồi nhưng mà chưa gặp cơn thì có cố cũng rời như cơm nguội. Như vụ Trùm chăn luận kiếm khởi đi từ tết năm ngoái năm kia mà có khi chưa biết đến tết năm nào mới xong ^^

Hoặc là mình có một kế hoạch rõ ràng, làm việc quy củ; hoặc là mình đi lan man trên mạng đọc linh tinh, cả hai lối đấy đều có thể giúp mình tìm ra cái gì đó để bắt đầu - đôi khi chẳng ăn nhằm gì với ý định lúc trước đó. Thực ra còn có một cách khác tôi thấy khá hiệu nghiệm, đó là đi bách bộ. Đi bách bộ làm cho đầu óc dịu đi, thả lỏng nên có khả năng triệu hồi vô số ý tưởng tiềm tàng (vụ này để khi nào review cuốn Những thành tựu lừng lẫy của Tâm lý học hiện đại - sẽ nói lại). Thứ đầu tiên mà tôi hay kiếm để tìm hứng là các bài Tống Từ. Tối này tìm được một bài của Tân Khí Tật, rất hợp cảnh hợp tình thời suy thoái!

Tây giang nguyệt

Vạn sự vân yên hốt quá,
Bách niên bồ liễu tiên suy.

Nhi kim hà sự tối tương nghi?
Nghi tuý, 
Nghi du, 
Nghi thuỵ.
Tảo sấn thôi khoa liễu nạp,
Cánh lường xuất nhập thu chi.

Nãi ông y cựu quản ta nhi:
Quản trúc,

Quản sơn,
Quản thuỷ.


Tây giang nguyệt

Vạn sự như mây khói,

Trăm năm bồ liễu sớm suy.

Mà nay nên nhất là việc gì?
Nên say khước,
Nên ngao du,
Nên ngủ khì.
Sớm chạy đóng cho xong thuế,
Để tính xuất nhập thu chi.
Ông mày còn giữ những việc gì?
Giữ trúc,
Giữ sơn,
Giữ thuỷ.


(Nguyễn Hiến Lê dịch)

Nôm na thì cái món Từ này là thể loại lẩy Kiều ở trình độ cao mà thôi. Tức là kiểu điền chữ theo khuôn mẫu bằng trắc, thanh điệu, ngắt câu. Tài nghệ của Từ gia là ở chỗ lời hay hợp với nhạc điệu. Cứ y như khuôn mẫu, rất vừa tầm với công chúng vì ai cũng ngân nga được theo nhạc điệu quen thuộc.Tình cảm phóng túng lãng mạn đa dạng theo thể ngắn dài có phần tự do cũng chiều lòng người ta vốn dĩ tản mạn vụn vặt. Như trong bài từ trên, cái điệu ngắn dài thất thường đọc lên rất thích, nhất là khi lại có mấy câu bất cần phóng túng kiểu nghi túy/nghi du/nghi thụy mà NHL phải thêm vào mỗi câu 1 từ cho tả được cái nghĩa cô đọng của nó (say khước(t), ngao du, ngủ khì).

Còn có một công thức nữa cho việc mua lòng công chúng (nay còn hay gọi là PR): trong bài nên có một đôi câu thật thích hợp để tiềm thức người đọc chộp lấy, bắt dính. Câu đấy sẽ đi vào văn nói cửa miệng của đời sống, nói cách khác, người ta sở hữu chúng. Tôi có đọc đâu đó phân tích về việc này nhưng chưa nhớ ra được là ở chỗ nào. Nhưng ví dụ thì đầy: xin chào nhau giữa con đường - đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt - cám ơn con cò...Đấy đại loại nó có nguyên tắc của slogan quảng cáo ngày nay. Như trong bài Tây Giang Nguyệt thì tôi bắt dính 2 câu: Vạn sự vân yên hốt quá - Ông mày còn giữ những việc gì. Một đàng thì thảng thốt vô thường dễ dùng cho những lúc bâng khuâng, một đàng thì bất cần yếm thế những khi buồn lui cui. Cảm xúc đến, dù là cảm xúc gì thì nó cũng sẽ rõ ràng hơn, có chiều hướng hơn một tâm trạng vụt chạc, thắc thỏm. Rõ là một loại não thần đan.

Theo tiêu chuẩn của Adorno (ở đây) thì đây thực sự là vấn đề của văn hóa đại chúng thời mạt thế. Đó là "sự trốn chạy không đòi hỏi nỗ lực gì trơn trọi (bán kèm sự thụ động)" với chức năng tâm lý là "sự điều chỉnh tâm lý (để chấp nhận) đối với cái nguyên trạng" và dẫn đến "khước từ và đàn áp mọi khả năng phê phán". Có lẽ ông Adorno và cả ông dịch giả kia (^^) đã đúng mà chưa biết mà phê phán Tống Từ. Băng đóng ba tấc đâu phải cái lạnh một ngày! Cái điềm nhà Tống suy vi đã hiển hiện ngay trong Tống Từ, bất kể những nỗ lực chấn hưng phong khí của Tô Đông Pha.

Cho nên câu "Thật nguy hiểm! Nền công nghiệp văn hóa đồng hóa, giải chính trị hóa và hút cạn cái khả năng cách mạng của văn hóa đỉnh cao bằng việc hòa tan chính bản thân nó..." chính là vận vào triều Tống bên Tàu kia. Thời đó, phong khí Thiền Tông vẫn còn đương thịnh, nhưng e rằng hóa ra Thiền Tông thời đó có thịnh là thịnh cái tư tưởng được chế biến cho phù hợp với não trạng "mang tính bảo thủ và đặt trọng tâm tư duy vào cái hiện tại tức thì hơn là hướng tâm trí vào tương lai và những khả năng cải thiện hoặc thay đổi" mà ông Adorno đã chẩn đoán.

Thế là từ nay có cái thú ngâm vịnh "tín nhi hiếu cổ" với mấy chữ Nho lỏng (@Hồi ký Phạm Cao Củng) sẽ không còn được hồn nhiên thưởng thức nữa. Đành chơi bài giễu nhại cho hợp thời và qua ngày đoạn tháng ^^

Chứ không thì ông mày còn giữ những việc gì?


Minh họa

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Đọc lại - Bằng hữu. Tản mạn về chữ "Chí"



- Khi nào một người coi một người khác là bạn? Điều tối thiểu là họ phải "biết" nhau. Như vậy chưa đủ, họ còn phải có thể "thông - cảm" được với nhau ở một phương diện nào đấy. Do đó họ chia sẻ một sự tín nhiệm về "đồng cảm". Và "tín nhiệm" thường được coi làm tiêu chuẩn của tình bạn - tin cậy lẫn nhau, chúng ta thường nói như vậy. Điều kiện của tín nhiệm như vậy chính là một môi trường chung để có thể "cảm - thông" với nhau. Họ có thể không hiểu nhau ở chỗ bất đồng chính kiến, nhưng họ không "hại" nhau. Tức là họ chia sẻ với nhau niềm tin vào một sự liên đới nhân bản giữa các cá nhân với nhau. Chính điều này sẽ phát động hành vi giúp đỡ nhau lúc khó khăn một cách vô vụ lợi. "Làm cho bạn được như mình được". Mà vẫn duy trì, tôn trọng sự độc lập trong khai triển nhân tính của mỗi người. Tình bạn chia sẻ cảm nghiệm chúng ta chung một bản thể và hơn thế tất thảy đều gắn chặt trong bản thể của tự tính sự sống.

- Có bạn tốt là một điều hay. Có nhiều bạn tốt càng đáng mừng. Nhưng khai triển những năng tính của tình bạn hữu ra đến vô tận mới chính là điều tốt đáng hâm mộ. "Tứ hải giai huynh đệ".
Tình bạn thường được so sánh rất tự nhiên với tình anh em. Có thể nói tình anh em là mẫu hình lý tưởng cho tình bạn tốt? Ta thử tìm kiếm một vài ví dụ ngẫu nhiên xem sao.

Tình anh em. (Erich Fromm)

Tình anh em là tình yêu căn bản nhất, nền tảng cho mọi kiểu mẫu tình yêu.
- Với tình anh em, tôi chỉ cho ý nghĩa về trách nhiệm, quan tâm, trọng thị, nhận thức về một con người khác nào đó, ước muốn giúp đỡ sự sống của nó.
- Tình anh em là tình yêu đối với tất cả loài người: nó có đặc điểm là không cực đoan.
- Tình anh em dựa trên cảm nghiệm rằng tất cả chúng ta đều là một.
+ Những sai biệt trong tài năng, trí năng, tri thức đều có thể bỏ qua so với đồng nhất tính của tâm điểm con người chung cho tất cả mọi người. (Xem “Sự hình thành con người” và “Lý luận không có con người” của Trần Đức Thảo).
+ Mối thân thuộc từ trung tâm tới trung tâm: Simone Weil: “Cùng lời nói ấy (thí dụ, một người nói với vợ mình: tôi yêu mình) có thể là tầm thường hay phi thường tùy theo cách nói lên của chúng. Và cung cách này dựa trên miền sâu của vùng, trong thể tính của con người mà chúng diễn tiến từ đó; không cần đến ý chí với khả năng làm một việc gì đó. Và bằng một thỏa thuận kỳ lạ chúng tiến vào vùng ấy trong kẻ đang nghe chúng” (Điều này thật ý nghĩa khi so với thế giới lý tưởng của Plato).
- Tình anh em là tình yêu giữa hai kẻ ngang hàng: nhưng sự thựcchúng ta không bình đẳng như là những kẻ ngang hàng; vì chúng ta là người nên chúng ta cần có sự giúp đỡ. (Bản chất xã hội của loài người – xem các thảo luận liên quan của K.Marx).
+ Nhưng nhu cầu giúp đỡ này không có nghĩa rằng người này thiếu sức người kia dư sức.
Bất hạnh là một điều kiện tạm thời; khả năng đi và đứng bằng đôi chân của chính mình là một khả năng thường trực và chung. (Liệu có liên quan gì đến những phê phán xung quanh vấn đề “luật pháp và đạo dức là khế ước của xã hội những kẻ có bản chất xấu xa” của các nhà ngụy biện Hy Lạp?)
- Tuy nhiên, tình yêu một kẻ yếu ớt; tình yêu một người nghèo, một kẻ lạ, là khởi đầu của tình anh em.
+ Chỉ trong tình yêu của kẻ nào không phục vụ cho một chủ đích, tình yêu mới bắt đầu thổ lộ.
> Cựu Ước: đối tượng trung tâm tình yêu của con người là kẻ nghèo, kẻ lạ, quả phụ và cô nhi, và cuối cùng là kẻ thù quốc gia, người Ai Cập và người Edomite.
+ Bằng lòng lân tuất với kẻ yếu ớt, con người bắt đầu phát triển tình yêu với huynh đệ mình, và trong tình yêu của nó với chính nó, nó cũng yêu kẻ đang cần giúp đỡ, kẻ bạc nhược và bất an.
Lòng lân tuất bao hàm yếu tố nhận thức và đồng nhất hóa: Cựu Ước: “…vì bạn là những khách lạ trong lãnh thổ Ai Cập; vậy nên bạn hãy yêu khách lạ” (Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm/Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân)
- E.F đã phát biểu với tinh thần và cung cách diễn đạt của Phương Đông. Nó đòi hỏi một sự "cảm-thông" và hướng tới "sự suy tư vô tận" về cái vô hạn, cái vô điều kiện.
Luận ngữ V.25 bản dịch NHL.
Nhan Uyên, Quý Lộ thị. Tử viết: "Hạp các ngôn nhĩ chí?".
Tử Lộ viết: "Nguyện xa mã, ý khinh cừu, dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám"
Nhan Uyên viết: "Nguyện vô phạt thiện, vô thi lao"
Tử Lộ viết: "Nguyện văn tử chi chí"
Tử viết: "Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi".
Dịch:
Nhan Uyên và Quí Lộ theo hầu.
Khổng Tử bảo "Sao không kể chí hướng của các anh cho ta nghe?".
Tử Lộ thưa: "Con mong có xe, ngựa, có áo lông cừu nhẹ để các bạn cùng hưởng, dù có hư nát, con cũng không hận".
Nhan Uyên thưa: "Con không muốn khoe điều hay, kể công lao con".
Tử Lộ thưa: "Xin thầy cho chúng con biết chí thầy?"
Khổng tử đáp: "(Ta muốn) các người già được an vui, các bạn bè tin lẫn nhau, các trẻ em được săn sóc vỗ về".

- Tại sao tôi lại chọn đoạn văn trên trong khi Luận Ngữ có rất nhiều đoạn nói trực tiếp về bằng hữu? Thứ nhất là bởi vì do ngẫu nhiên, nói đúng hơn là do đoạn văn này mà tôi nảy ra ý thú viết đoạn luận này. Thứ hai, qua nó, tôi muốn gợi ra phương thức suy tư vô tận để có thể thực sự "cảm - thông" được ý niệm "thông - cảm" của tình bạn làm cơ sở suy tư sâu xa hơn về tình bạn - cũng là làm cho tình bạn thực sự được khai triển, lân mẫn.

Tản mạn về chí. Người xưa nói về chí hướng với một sự thận trọng, trân trọng và đầy chú tâm. Vì sao vậy? Vì sao người ta thường nói về chí như là chí hướng? Là bởi vì chí không hoàn toàn là một mục đích cụ thể như người ta dễ lược quy nó như vậy. Trong truyền thống của triết lý điều tiết, triết lý "Trung thứ" (vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã) thì chí hướng có tính cách phát khởi, khích lệ con người ta phấn phát hơn là một đích đến. Nội dung cụ thể có thể được điều chỉnh, nhưng cái tinh thần, ý hướng hàm ngụ trong đó mới thực sự quan trọng. Nhất là trong truyền thống của lời nói gián tiếp, hàm ngụ, ẩn ý. (Phải nói thêm rằng lối đi vòng này là một lựa chọn có tính nguyên tắc chứ không phải một trào lưu thời trang diêm dúa). Ngày nay người ta chua chát nhận ra rằng: bây giờ những gì nghiêm trang quá, đúng đắn quá lại bị chuyển sang sắc thái hài hước thậm chí là hơi "sến" - như cách nói của người hiện đại. "Đời là bể khổ, tình là dây oan" - Ai hay đó là lời từ cửa Phật từ bi lân mẫn nữa? Chỉ còn lại một kiểu tán thán có phần giễu cợt! 

Bây giờ, trong ngôn ngữ của người VN hiện đại, người ta có phần ngượng ngập khi nói về chí và chẳng còn hỏi nhau "Chí của anh là gì?" nữa. Nó suy biến thành những câu hỏi về mục tiêu - mục tiêu luôn luôn nông cạn; và về mong muốn - mong muốn luôn luôn yếm thế. Không thể nào nói được cái sắc thái phấn phát, hướng thượng của một hoài bão khởi lên từ bên trong nữa. Thời đại của hoài nghi là như vậy - người ta chỉ biết đến hoài nghi và chờ đợi.

Chu Hy nói rằng người ta phải nghiền ngẫm những lời nói của cổ nhân. Nghiền ngẫm, chứ không chỉ đọc, người ta mới cảm nhận được cái dư vị của lời nói, cái phần không hiển ngôn của lời nói Thánh Hiền. (Từ khi con người đã quen thói lý sự, sự khích động kín đáo của một Danh sư không đủ nữa và những trường phái lao vào một cuộc tranh luận vô tận. Trong sự loạn đả tranh cãi, những điều tế vi của Đạo của cổ nhân thánh hiền bị đe doạ…(F.J). 

Hãy thử bắt đầu một cách chậm rãi: Nhan Hồi và Tử Lộ theo hầu Thầy". Họ noi theo và chờ đợi những chỉ dẫn, những tín hiệu từ thầy. Khổng Tử khơi nguồn từ trong chính họ "hãy nói_với_ta về chí của các anh". Tử Lộ nói trước. Ở trong văn bản, đây là một điều tinh tế. Có thể là vì Tử Lộ nhiều tuổi hơn nên Tử Lộ nói trước. Có thể vì Tử Lộ hấp tấp nên nói trước. Bề nào cũng có ngữ nghĩa của nó cả. Thời xưa, người ta không viết tuỳ tiện bao giờ. (Hãy nhớ lại câu chuyện Khổng Tử viết Xuân Thu). Cái gì quan trọng, cái gì xảy ra trước thì trình bày trước. (Vậy tại sao ngay từ đầu lại đặt tên Nhan Uyên lên trước Quí Lộ? Phải chăng trong trạng huống "theo hầu Thầy" trên con đường "Đạo" thì Nhan Uyên đang ở phía trước Quí Lộ?). 

Người học trò cương trực nhưng có phần kém nhạy bén kia đã thưa với thầy về những tiện nghi tượng trưng cho sự thành đạt trên quan lộ (người Trung Hoa luôn quan niệm triết lý là triết lý chính trị - tu thân là để trị nước cứu đời, con người luôn gắn chặt trong xã hội, ngay cả dù ở những trường phái cực đoan nhất cũng khởi đi từ điểm này). Điều quan trọng là Tử Lộ bày tỏ trong sự chia sẻ cụ thể với các bằng hữu - những người cùng trên con đường đạo lý của anh ta. 

Chúng ta giữ lời nói này trong tương quan giữa trò và thầy - người thầy chỉ dạy vê Nhân - về làm người thế nào cho phải lẽ. Từ đó có thể nhận thấy quan niệm của Tử Lộ về viễn cảnh đạt Đạo trong chiều hướng tin tưởng vào khả năng đạt tới một thái độ sống (dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám) nhưng trong đó còn vương vấn sự phân ly với thực tại khi dựa vào những tiêu chuẩn của thành tựu chất lượng sống (không phải mức sống). Sự phân ly này được dội lại ngay trong lời nói của Nhan Uyên "nguyện vô phạt thiện, vô thi lao". 

Nhan Uyên chăm chú vào thực tại nội tâm nhưng ý hướng vẫn có thể gợi ra một viễn cảnh mà đồng thời không chia tách với thực tại bởi khoe điều hay thì chưa thực hay, kể công lao thì chưa thực có công lao. Hãy đối chiếu ý kiện này với nhận định của E.F "chỉ tình yêu của một kẻ nào không phục vụ cho một chủ đích, tình yêu mới bắt đầu thổ lộ". Đây chính là điểm mà Nhan Uyên hằng dõi theo Thầy mình: "Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã". Tất cả đều khơi gợi đến viễn cảnh hoà nhịp với thực tại. (Phải ghi chú thêm rằng cũng theo Luận ngữ, Tử Lộ là người khi chưa thi hành được lời thầy dạy thì luôn sợ nghe thêm điều mới. Chúng ta so sánh, nhưng so sánh trong sự chú tâm cao độ vào không gian vang vọng lời tán thán của Bậc Hiền "Vi nhân nan - làm người khó lắm thay!"). Trong sự đạt nhân của Tử Lộ có sự phân lớp "xa mã, ý khinh cừu" là thành quả của người quân tử (người đạt nhân - tôi muốn thay bằng từ này cho nó sát với cổ nghĩa) đã trị nước, cứu dân, giúp đời. "dữ cộng bằng hữu" là một lớp nữa, "tệ chi nhi vô hám" lại là một lớp nữa - lớp cao nhất của một thái độ. 

Đến đây tôi chợt nhớ đến mẩu chuyện trong phần đầu của tiểu thuyết "Anh em nhà Karamazop" của F.M. Dotoiepxki. Về lời than thở của nhân vật đạo mạo với trưởng lão rằng y ta mặc dầu rất tin vào tình thương yêu con người (nói chung) của mình, nhưng càng chìm đắm trong tình thương đó, thì y ta lại càng không thể yêu thương được những con người cụ thể thường nhật. Mặc dù khập khiễng, nhưng ý niệm của Tử Lộ còn có cái gì đó như là một khuôn mẫu, một nguyên lý…là cái mà Khổng Tử không xiển dương.

Lời nói của Thánh Hiền có giá trị chỉ hiệu (valeur indicielle), mở ra sự suy tư vô tận - một "lối nói tinh tế". Ở giữa khoảng lời đáp của Nhan Uyên và câu hỏi lại của Tử Lộ với Khổng Tử có lẽ đã có một khoảng lặng. Thầy Khổng đã im lặng vì như thế là đủ. Tự sự cọ xát giữa hai lời đáp của Nhan Uyên và Tử Lộ đã đầy đủ. Chính độ chênh ấy đủ tạo ra thế năng cho sự vận hành tâm trí của các học trò trên con đường "Đạo", mà thầy Khổng đã gián tiếp tạo ra. Nhưng có lẽ hoặc là Tử Lộ không nhận ra, hoặc Tử Lộ không có chỗ bấu víu để chuyển đổi nên Tử Lộ muốn hỏi "Nguyện văn Tử chi chí?".

- "Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi". Người già an vui, bằng hữu tin cậy lẫn nhau, trẻ em được quan tâm săn sóc. Bối cảnh đã xô đẩy và chúng ta chờ đợi một hình ảnh toàn thể - bao gồm cả cái xã hội lý tưởng đáng hâm mộ của những con người đạt nhân và chính con người đạt nhân là Khổng tử. Cái điều mà chính Nhan Uyên cũng chưa rõ được. Trong lời đáp cô đọng này có quá ít chi tiết để đáp ứng yêu cầu ấy. Có thực là như vậy không. Thoạt đầu ta dễ hiểu cơ cấu ba thành phần này theo lứa tuổi: người già, người trưởng thành, và trẻ em. Nghĩa đen có vẻ như vậy. Nhưng có điều gì đó không ổn ở đây. "bằng hữu" tự nó không giới hạn ở độ tuổi nào cả. Hơn nữa, nếu triển khai theo các lát cắt, đáng lẽ ít ra chúng ta phải tìm thấy dấu vết của nhân luân, tam cương…Đó là những đặc điểm của một thiết chế xã hội mà Khổng tử muốn duy trì. Hơn nữa lại vắng bóng "ta" ở đây - thậm chí như cách dịch thì ta ở trên (ban phát) và chia tách với mọi người. Mặc dầu có vẻ hợp với vị thế của một "sư biểu" thừa mệnh trời kế chí Chu Công đi nữa thì nó vẫn thiếu sắc thái qui hướng về chính ta - người đạt nhân.

Lật sang một phía khác. "An chi", "tín chi", "hoài chi" - "được an vui", "tin cậy lẫn nhau", "được quan tâm săn sóc" từ mặt trái của các tiêu chuẩn này là những vấn đề gì? Chúng có thiết thân và phổ cập ở mức độ xã hội như là những đặc điểm vốn có của "Đạo lớn" không? Tất nhiên, ta có thể vượt qua những vấn đề của xã hội đương thời Khổng Tử và đẩy chúng đến vị trí của một khuôn mẫu xã hội lý tưởng mà ngài theo đuổi. Nhưng xem xét chúng theo những mẫu hình cũ như nhân luân, cương thường…ta thấy có cái gì đó không sát lắm. Đành rằng nó có thể diễn đạt được những điều ấy nhưng nó có phần xa rời khuynh hướng tự nội do vậy thiếu tính chất phát khởi như một nguồn sinh động của sự sống trong dòng vận hành của Tự nhiên - của Đạo.

Cơ may đến với chúng ta khi ghép hai phía khiếm khuyết này lại. Mọi sự sẽ nhất quán và có sức lan toả hơn rất nhiều khi nhìn nhận cơ cấu 3 thành phần này như 3 giai đoạn của một đời người trên con đường học Đạo tiêu biểu: thuở chưa định hướng được chí hướng của mình. Người ta chỉ mới ý thức về sự thôi thúc vươn tới Đạo lớn, nhưng còn thiếu mọi bề. (Đối chiếu với lời tự thuật của Khổng Tử: "Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập nhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất dụ củ" - "Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo lễ mà làm); bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa (tức là có trí đức, nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết được việc sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi đã biết theo mệnh trời; bảy mươi tuổi theo lòng ham muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý (không phải suy nghĩ hay gắng sức mà hành động tự nhiên, hợp đạo lý).

Vậy là theo mạch đấy có thể thấy khi còn non trẻ ("thiếu" không nhất thiết là trẻ nhỏ) để đến được với Đạo lớn, điều cần thiết nhất là có được sự khuyến khích định hướng dẫn dắt. Vào Đạo rồi (nhưng chưa đạt Đạo), con người ta còn thấy mặt này bỏ mất mặt kia…người ta cần "bằng hữu tín chi". Nó đảm bảo cho hai vế của một phương trình, một bên là tự thân người học Đạo (làm người), phần còn lại là tương quan của anh ta với xung quanh. Cuối cùng đạt Đạo rồi, người ta đạt đến sự chín muồi (lão) - sự chín muồi của tinh tấn xuyên qua thời gian sống. Phần thưởng là cái "an chi". Khỏi phải nói trong triết lý "Trung thứ" thì "an chi" chính là dấu hiệu của sự hoà nhịp và đồng điệu với Tự Nhiên - với Trời. Tựu trung lại, tự phẩm giá của 3 giai đoạn này đã gợi ra mối liên hệ theo chiều dọc, sự lưu chuyển của Đạo lớn. "Mặc nhi chí chi, học nhi bất yếm, hối nhi bất quyện, hà hữu ư ngã tai!" - Trầm mặc suy nghĩ rồi ghi vào lòng, học không chán, dạy người không mỏi, ngoài ra ta có cái gì khác đâu!

Trên cái phông nền của bạn hữu, chúng ta thấy được điều gì? Phải chăng đó là sự lân mẫn, liên thông và đồng đẳng của những nhân vị với khả năng khai triển nhân tính đến vô hạn, vô điều kiện của nó. Và trên con đường lớn chung đó người ta mới thực sự có bạn hữu, và sự tương thông làm lên phẩm giá của tín nhiệm? Nếu không thế, người ta rơi xuống bình diện của bè nhóm ("giấu cô đơn trong cảm xúc bầy đàn" @HY). Và đặc điểm nổi bật là sự đồng loã khi các xung đột chưa thực sự xảy ra. Xung đột theo hai chiều hướng: xung đột tiêu cực mù quáng ngộ nhận, sai lầm; và xung đột nội tâm xô vỡ tấm màn che mắt ta!

Cuối cùng, câu hỏi suýt trượt mất khỏi viễn tượng "lão giả an chi" vốn quá hiển nhiên và thậm chí là mờ nhạt (mờ nhạt là một phẩm giá - phẩm giá của nước, của không khí, của bao dung thể). Câu hỏi đó là "tín nhiệm" và các quan hệ bằng hữu đã chuyển hoá đi đâu trong bức tranh này? Bức tranh vốn được đưa ra đầu tiên trong dãy liệt kê chí hướng của Thầy Khổng!

Tôi thích hình ảnh thâm viễn mà Bùi Giáng sử dụng từ M. Heidegger: "Thi nhân và triết nhân đứng trong ngôn ngữ là đứng trên hai chóp núi xa biệt nhau vô cùng nhưng vòi vọi như nhau nên cùng đón nhận như nhau mọi sương tuyết phiêu bồng hiu hiu về với Chị - Chị Kiều là thiên thu Hồn Logos.." Người - điên này khích liệt quá nhưng một vẻ nào nhận thức của ông có phần đồng vọng với những điều Thầy Khổng nhận xét "Quân tử chi giao đạm như thuỷ - người đạt nhân giao tiếp với nhau đơn sơ như nước lã".


Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Trùm chăn luận kiếm. Tiếu ngạo giang hồ (b)

4.
Lại nói chuyện về nghệ thuật phúng dụ chính trị của Kim Dung, cảnh giáo chúng Nhật Nguyệt Thần Giáo rõ ràng là ám chỉ chuyện ngoài xã hội đương thời, ai cũng chán ghét cả nên mới dễ bị cuốn hút vào mạch truyện, ngõ hầu được cùng Lệnh Hồ lãng tử cười ngạo giang hồ một phen. Nhưng sự ấy sự thường, có lần khác, rõ ràng là Tra Lương Dung tiên sinh chế truyện tiếu lâm vào trong kiếm hiệp mà hầu như không ai để ý cho đến lúc có người nói ra - văn chương như thế mới gọi là đỉnh cao:

Có thanh niên nọ yêu mấy cô trong xóm về nhà xin cưới đều bị bố gạt đi bảo là em con đấy. Chàng kia buồn đời muốn chết thời may bà mẹ kéo lại rỉ tai bảo "Thích đứa nào cứ chén đi, lão ấy không phải bố mày đâu!".

Đấy nếu chỉ như thế thì đúng là hài thật, hài nhảm, dung tục bình thường. Kể phát chọc cười xong quên ngay. Nhưng đến đây hẳn mọi người cũng nhớ đấy lại chính là đại khái chuyện đời chàng Đoàn Dự trong Thiên Long Bát Bộ. Con người đẹp đẽ, con người si tình loạng quạng, ai cũng hảo cảm là nhờ cả ở tài dựng chuyện của Kim Dung.

5.
Tháng giêng ngồi quán quán thu phong
Gió Nhạn Môn quan thổi chạnh lòng
Chuyện cũ nghe đau hồn tứ xứ
Thương Kiều Phong, nhớ tiếc Kiều Phong.


(Thơ Nguyễn Bắc Sơn)

Cũng trong Thiên Long Bát Bộ, có nhiều tình tiết hay ho rải rác về sau được liên kết lại trong các bộ truyện khác thành một thế giới kỳ vỹ của kiếm hiệp Kim Dung. Ví dụ như Tiêu Dao phái thời Bắc Tống của Hư Trúc về sau hóa ra lại là cội nguồn có liên quan chặt chẽ đến Ma Giáo - Minh Giáo - Nhật Nguyệt Thần Giáo. Nếu như trong bộ Ỷ Thiên Đồ Long Ký hai nhân vật Quang Minh Tả Hữu Sứ của Minh Giáo có hiệu chung là Tiêu Dao Nhị Tiên (Dương Tiêu & Phạm Dao) cùng với bộ nhận dạng phong lưu tiêu sái anh tuấn...chỉ thoáng qua chút liên hệ thì trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ lại có lai lịch hẳn hoi.

Công phu Hấp Tinh Đại Pháp của Nhậm Ngã Hành là một trong bốn môn công phu tối cao trong bộ truyện (ba môn kia là Độc Cô Cửu Kiếm, Quỳ Hoa Bảo Điển và Dịch Cân Kinh). Theo lời Nhậm Ngã Hành giới thiệu thì môn võ công kỳ đặc này được truyền thừa từ phái Tiêu Dao thời Bắc Tống. Tuy nhiên việc truyền thừa có điểm bất toàn, công phu bị thất thoát yếu lĩnh nên mới thành đầu mối bao nhiêu vấn đề cho người luyện công về sau. Đặc trưng võ công của Tiêu Dao phái là vẻ đẹp hình thức tiêu diêu thoát tục của nó, nhưng đồng thời lại vô cùng độc địa kỳ quái. Đến khi Kim Dung xây dựng nhân vật Nhậm Ngã Hành thì vẫn nhất quán về điểm độc địa kỳ quái này.

Việc so sánh liên hệ mấy món võ công tối cao trong bộ TNGH là có ý tứ của nó. Nếu giả thuyết về thủ pháp sáng tác dựa trên nguyên lý nội kết thống nhất của Kim Dung về các bộ nhân vật thì rõ ràng sẽ phải tìm ra được mối liên hệ giữa đặc trưng nhân vật và võ công, từ đó lý giải tại sao chỉ Quỳ Hoa Bảo Điển mới là chân chính vô địch thiên hạ! Ví dụ như nhân vật Nhậm Ngã Hành của Ma Giáo thì nhận dạng nôm na khái quát là trường phái bá đạo "ông thích là ông làm" dựa vào món nghề cướp công (phu) người khác. Trường phái này có đặc điểm là cậy mạnh làm càn, bất chấp lý lẽ nên đương nhiên là một phương nguy hiểm cao cường.

Nhưng cậy mạnh cướp công chỉ hữu dụng khi tranh đấu với kẻ có nhiều sở dục, thích tranh giành đối kháng. Công phu này đối kháng với môn Độc Cô Cửu Kiếm vô chiêu thắng hữu chiêu của Lệnh Hồ Xung thì coi như huề vốn. Là bởi tinh yếu kiếm thuật của phái này lại là dựa vào việc thấu hiểu lòng người mà đi trước một bước, là một phép nghịch đảo của câu "kỷ sở bất dục vật thi ư nhân". Hành động theo tình, theo lòng mình - là tấm lòng cho người khác, vì người khác - thấy trước cái dục vọng của đối phương mà đón đầu khắc chế, võ công như vậy thì không tranh với người khác nên môn cướp công làm càn không có chỗ thi triển sở trường. Nhậm Ngã Hành chỉ thắng Lệnh Hồ Xung khi dùng nội lực thâm hậu chấn động chàng trong hầm sắt dưới đáy Tây Hồ. Đấy, hiểu người vì người là một chuyện, nhưng còn phải có sức mà làm nữa. Nên môn công phu của Lệnh Hồ Xung còn quan trọng ở chỗ nội lực tới đâu thì khả dụng tới đó. Yếu ớt mà tốt thì cũng được nhưng chưa ăn thua (lol).

Dịch Cân Kinh là vương đạo công pháp, chú trọng chuyển hóa bản thân nên đương nhiên cũng cao cường. Nhưng muốn chuyển hóa kẻ khác thì phải trông vào thiện chí của họ nên thành ra cũng có chỗ bất tiện khi tranh cường. Thủ hòa thì được nhưng chế thắng thì còn phải xem. Làm theo chánh đạo nó có cái khổ như vậy, nên Khổng Tử mới phải khuyên người ta nên "cư kính hành giản" - chiến đấu với mình thôi. Vậy nên trong chuyện mới có cảnh Phương Chứng đại sư dỗ dành bao lần mà Lệnh Hồ công tử có chịu luyện cho đâu! Cũng là vì chỗ vi tế này mà ra cả.

Như vậy rõ ràng là ba phương võ công kể trên đều có chỗ mạnh chỗ nhược nên tầm tầm ngang hàng nhau. Thực tế cốt truyện cũng xây dựng theo logic này. Phương Chứng đại sư khi bị thua Nhậm Ngã Hành cũng là thua theo logic: nguyên lý chỉ dùng cho mình đã bị vi phạm, Nhậm Ngã Hành dùng mưu đánh vào lòng từ bi làm ông san xẻ năng lực ra cho kẻ khác nên bị bại.

Vậy Quỳ Hoa Bảo Điển dựa trên những nguyên lý nào mà thành vô địch thiên hạ, khắc chế được cả võ công của mấy phương võ bá kia? Nếu Kim Dung đã có ý vị sâu xa như vậy đến từng chi tiết cho mỗi nhân vật thì cái lý thú của logic này hẳn sẽ còn nhiều chỗ hay ho.

(còn tiếp)

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Trùm chăn luận kiếm. Tiếu ngạo giang hồ (a)

(Phần 1)
------------
1.
Như đã nói, truyện Kim Dung nhiều lớp lang tình điệu, ẩn ký vốn liếng văn hóa truyền thống Trung Hoa thâm hậu của họ Tra nên đọc rất hấp dẫn và có thể đọc lại nhiều lần. Các tình tiết, ý tứ rất tinh tế như thể là một bộ toàn bích chứ không phải viết gấp gáp theo kỳ đăng báo nữa - thực không phải giống phàm chúng mình! Về sau nhờ đọc thêm một số tác giả bình Kim Dung thì tôi cũng lỗ mỗ hiểu ra phương pháp sáng tác của ông.

Trong cuốn "Vô Kỵ giữa chúng ta hay là Hiện tượng Kim Dung" của Đỗ Long Vân có phân tích đặc trưng chia tuyến nhân vật theo bộ (Ngũ Bá, Nhị Tiên, Tứ Vương...) kiểu cơ cấu luận tạo ra sự nội kết giữa các tuyến nhân vật. Tác giả cũng điểm đến những điểm mới trong thủ pháp của Kim Dung như sáng tạo về nội lực, tinh thần duy tự nhiên, từ bỏ kết cấu tất thắng cổ điển chuyển sang thời kỳ sụp đổ của các đại tự sự...

Thực ra một số thủ pháp là có kế thừa truyền thống võ hiệp chương hồi TQ, ví dụ như kết cấu các bộ nhân vật thường được xác định trước, xây dựng theo luật ngũ hành tương sinh tương khắc. Nếu một viên tướng mặc áo bào trắng (Kim) thì thế nào cũng tất bại nếu gặp tay nào mặc áo bào đỏ (Hỏa khắc Kim). Ngũ Bá của Kim Dung cũng là một điển hình: Tây Độc áo trắng (Kim) thì sợ món Nhất Dương Chỉ của Nam Đế (Hỏa - khắc Kim), thỉnh thoảng xơi được Đông Tà áo xanh (Mộc - bị Kim khắc), hay bị Bắc Cái (Thủy) chơi khăm (vì Kim sinh Thủy)...Vậy mới có chuyện Hồng Thất Công làm sư phụ cho con gái Đông Tà. Cái vòng tương sinh tương khắc mà châm chước ra đã biến hóa thành bao nhiêu tình tiết hấp dẫn. (Còn một nhóm bộ nhân vật khác cũng sẽ rất thú vị để bàn vào dịp khác là Giang Nam Tứ Hữu).

Tất nhiên cái luật ẩn tàng kia không phải là tuyệt đối hóa nhưng trên đại thể cấu trúc lớn các tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung đều có thể nhận ra ảnh hưởng của nguyên tắc này. Nhưng luật Ngũ Hành chế hóa thì là một vòng quanh nên để xây dựng cao thủ đệ nhất thì cần phải bổ sung yếu tố giá trị gia tăng khác; thường thì cũng lấy từ vốn triết lý phương đông kiểu như vô chiêu thắng hữu chiêu (hoặc là để khuyết như trường hợp Vương Trùng Dương).

Có điều mọi người ít khi để ý: trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, tuy vô chiêu thắng hữu chiêu của Lệnh Hồ Xung là  cảnh giới tối cao của kiếm thuật/võ thuật nhưng đâu đã ăn được Quỳ Hoa Bảo Điển? Chân chính vô địch phải là nó nhưng vì sao lại là nó? Huống hồ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ còn được coi là có ẩn ý chính trị rõ ràng, liên quan đến nhiều nhân vật chính trị đương thời. Cái gì được ẩn ký trong Quỳ Hoa Bảo Điển mà bằng thủ pháp vẽ mây nẩy trăng Kim Dung đã cho nó vượt cả Ngũ Hành cả Hữu Vô? Nương theo nguyên tắc lý giải nội kết ta có thể dò ra vài ba manh mối thú vị, nhiều ý tứ.

2.
Về bối cảnh chính trị, TNGH bắt đầu được viết từ năm 1967 trên Minh Báo; lúc này ở TQ đang là giai đoạn Đại nhảy vọt (1966-1976). Tôi cũng chưa đọc được ở đâu nói gì chi tiết về mối liên hệ hay những ẩn ý chính trị cụ thể của Kim Dung. Nhưng ngoài những nét khoa trương mông muội đồng dạng dễ thấy trong Nhật Nguyệt Thần Giáo thời kỳ của Đông Phương Bất Bại thì tôi chú ý đến một sự kiện quan trọng khác của thời kỳ này: nạn đói. Các tài liệu khác nhau nói khác nhau về con số người đã chết đói (30 triệu), nhưng chuyện người TQ đói phải ăn hạt hướng dương thì đã có Ngải Vị Vị làm chứng (http://soi.com.vn/?p=16929).


Vấn đề bắt đầu trở lên thú vị nếu chúng ta để ý rằng trong tiếng Hán, Quỳ Hoa chính là hoa Hướng Dương! Nhưng nếu chỉ có như vậy thì đã không phải là Kim Dung. Với chút manh mối, thử rà lại một loạt các chi tiết mới thấy nhiều cái hay.

3.
Đệ nhất cao thủ luyện Quỳ Hoa Bảo Điển là Đông Phương Bất Bại, giáo chủ Nhật Nguyệt Thần Giáo. Ngay tên của giáo phái này đã có một lai lịch dày dặn. Khởi đầu vốn Kim Dung đặt tên cũ cho nó là Triêu Dương Thần Giáo. Chữ Triêu Dương có nghĩa là ánh sáng mặt trời buổi sớm - một thứ Đông Phương Hồng (xem thêm về Đại học Phương Đông ). Nên giáo chủ là Đông Phương Bất Bại thì cũng dễ hiểu. Dù đổi thành Nhật Nguyệt Thần Giáo thì cũng không khó để nhận ra phiên bản của Minh Giáo (chữ Minh bao gồm 2 chữ Nhật Nguyệt cạnh nhau). Kim Dung không giải thích nhưng cũng không phủ nhận ám chỉ này (ví dụ như khi ông cho Nhậm Ngã Hành kể về lai lịch của môn võ công Hấp Tinh Đại Pháp có nguồn gốc truyền từ phái Tiêu Dao đời Bắc Tống - vốn là chi tiết trong truyện Thiên Long Bát Bộ).

Minh Giáo vốn là Ma Giáo, được truyền từ nước ngoài của mấy ông Ba Tư rậm râu vào, tuy đứng chân trong giang hồ một mình một thế ở trên Quang Minh đỉnh thuộc Hoàng Sơn (Ngũ nhạc quy lai bất khán sơn, Hoàng sơn quy lai bất khán Nhạc” - Từ Hà Khách), đối chọi uy quyền với Ngũ Nhạc kiếm phái nhưng riêng nó là vẫn khác biệt vì nó là một giáo phái sinh hoạt theo thể thức của một tổ chức tôn giáo! (Thiếu Lâm Tự hay Võ Đang ở đây thật mờ nhạt và khác biệt đầy dụng ý). Người khác có thể không thừa nhận nó nhưng nó vốn dĩ không coi người khác ra gì, mục hạ vô nhân, như cỏ rác. Nhận thức bình nhật của chúng ta thực tế rất dễ thao túng, coi nhiều chuyện là hiển nhiên cho đến khi được dịch sang một bình diện khác thì sẽ thấy những chuyện đó hóa ra rất lố bịch, rất buồn cười. Lệnh Hồ Xung năm xưa coi cảnh giáo chúng Ma Giáo đỏ choe choét, xếp hàng hùng vĩ mấy ngàn người thi nhau tung hô "anh minh thần vũ","muôn năm trường trị" thấy rất tức cười, ngán ngẩm nhưng mấy trăm năm sau có đến hơn một tỷ người cho là bình thường hiển nhiên.

(còn tiếp)

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Khoảnh khắc


Hồi lâu, có lần chợt nghe thấy bài "Khoảnh khắc" thời Làn Sóng Xanh tự nhiên nổi cơn nhớ ghê gớm thời sinh viên những năm đầu đi học đại học. Mùa thu mù mù, cái làng ven đô, cánh đồng chiều, vườn cây rậm lá. Những tập bài hát LSX có sẵn gam để tập guitar, những tờ tranh bột màu trên giấy báo. Những ngày tháng đạp xe lang thang khắp chốn. Bờ sông Hồng một chiều mùa đông, quán rượu cóc ven sông mùa đông, cuộc rượu cuối năm trong làng với những người thợ xây ở Kẻ Gỗ. Một khúc ca xưa nhiều khi giống lớp bụi trên giá sách, vô tình dính vào là hắt xì ầm ĩ, kỷ niệm văng tóe loe, gai góc sởn dựng từng lỗ chân lông.

Tối. Tôi tìm dọc phố, tìm một chỗ ngồi vỉa hè có thể đốt vài điếu thuốc. Một chỗ nhập nhoạng không quá sáng. Một chỗ không đông người nhưng đừng vắng thảm. Tốt nhất chủ quán có vẻ dửng dưng đơn giản chờ ngày qua. Bàn ghế thấp và những dáng ngồi chùng gập. Mùa thu đấy, ông LQV ạ.

Muộn. Trong quán chuyển mấy bài nhạc vàng xưa lắc. Thế là nhớ lại về tóe loe như hắt xì hơi. Tôi nhớ những ngày học lớp 9 đi trọ học xa nhà. Một ngõ nhỏ, khuất khúc, nép mình bên kiến trúc nhà thờ cũ đã được chuyển thành chỗ cho mấy trường học. Thành phố nhỏ những năm đầu 90s. Nhà đối diện suốt ngày mở nhạc vàng, chính là mấy bản đang nghe. Tiếng cassette đều đều văng vẳng cả ngày trùm lấy một góc không gian, họ đánh bạc cả ngày trong đấy nên ít nói chuyện, tiếng người khẽ, thảng hoặc. Điệu nhạc như một thứ mùi hương len lỏi từng ngóc ngách, dù tận gác xép buồng trong thì vẫn nghe rõ. Giờ thì nó đã trở thành một biểu trưng của một đoạn ký ức.

Chếch ở góc bên, một nhà hàng xóm khác suốt ngày mở video, phim chưởng Hồng Kông các thể loại. Một gia đình đông người dễ mến. Bà cụ già bán dưa chua và những thứ tạp hóa lặt vặt ngay hiên nhà. Bác gái nhận dệt len tại nhà, cái máy dệt nhỏ cá nhân chạy cả ngày; thỉnh thoảng cả bác trai cũng làm. Vừa làm vừa xem băng video. Mấy người con đều lành và dễ mến. Cả người anh lớn đi học xa nhà nữa là năm. Quý nhất là thằng bé út lúc ấy chừng lớp 3 lớp 4 gì đấy: trắng trẻo, bầu bĩnh và lanh lẹ. Nhiều năm sau thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm gia đình họ, cho đến khi tự thấy đã quá lâu để vẫn thấy tự nhiên như những ngày trước. Những người hàng xóm cũ cũng dần chuyển nhà đi hết.

Tôi vẫn nhớ rõ hầu như từng người từng nhà một: nhà ông bác sỹ thấp người béo ị có hai cô con gái, tuy kỹ tính nhưng thỉnh thoảng vẫn có thể sang vay ít mỡ hay nước mắm (cho món cơm trộn những ngày cuối tháng hết nhẵn tiền); một nhà khác giàu nhất vì có cửa hàng đồng hồ ngoài phố lớn; một anh cựu võ sỹ quyền anh không nghề nghiệp ổn định, một bác hưu thích đi bộ việt dã và hay bình luận thế sự có thằng con cùng tuổi hay đứng nói chuyện với tôi ngoài cửa...

Tôi ở trọ (thực ra là ở nhờ và góp tiền ăn chung) cùng mấy người anh lớn đang học tại chức. Nhịp sống trộn lộn đời học sinh mới lớn với đời sinh viên nghiệp dư. Quãng thời gian nửa năm đó chừng như đã dài hơn, dày dặn hơn bằng những trải nghiệm xê dịch của tuổi thiếu niên. Đá cầu buổi chiều, đánh bài, chạy bộ trong công viên, đi (theo) cưa gái ở KTX...Những lúc hết tiền đến bữa, đứng một mình đầu ngõ, cay đắng không biết phải làm gì. Những lần khẩn trương leo lên gác xép cho anh tiếp bạn gái nửa đêm. Chiều mưa ngồi tán dóc và tranh luận kịch liệt về chuyện liệu có thể sống một cuộc đời với những chuyến đi bất định liên miên được không? Một buổi chiều tự nhiên xách ba lô lên và đi luôn một mạch. Cái thằng hay đứng ngoài cửa nói chuyện phiếm với tôi chở tôi ra bến xe. Hình như là tôi có sang chia tay với nhà bác hay chiếu video - tôi đã bỏ dở một bộ về Võ Đang Thất Hiệp.

Khi đã quá lâu mình không quay lại thăm mọi người, rồi mình và mọi người cũng khác xưa, thì việc đi vào một ngõ cụt hóa ra có gì bất tiện như kẻ không được mời - trong ngõ nhỏ anh phải là khách của một nhà ai đó. Dù không vào nhưng vẫn biết là đang đi qua ngõ cũ năm nào mỗi bất chợt ghé thăm thành phố. Trong khoảnh khắc, sẩy ra lại tòe loe tèm nhem ký ức ở đầu mũi.