Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Giáng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Giáng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Tội mây viễn xứ, tội gió giang hà

Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
Long lanh giọt nước tình duyên
...Nơi đó sau này thành sông thành biển
Ai đã chèo thuyền vào cõi vô biên.

Ở chỗ mà hương thơm của làn hơi thở
Làm nở bừng tất cả những bông hoa
Chiều nay là mây viễn xứ
Một mai là gió giang hà.

Ở chỗ mà chiếc chìa khóa vàng
Rơi từ đỉnh tháp xuống mù tăm
Tôi một mình cúi xuống
Từ vực sâu lời gọi âm thầm.

Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
Long lanh giọt nước tình duyên
Nơi này thành sông thành biển...

Nơi này anh đã yêu em.


(Dạo khúc 27 - Nguyễn Quang Tấn)

Nếu thơ mà có thể tóm tắt thì bài thơ này chỉ cần tóm tắt bằng 2 câu mở đầu và kết thúc: Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình; nơi này anh đã yêu em. Thấy ngay là ĐÃ có một tình yêu tan vỡ, bài thơ về một nội tâm ĐANG trong di âm tan vỡ của một tình yêu. Nhưng thơ là để bày tỏ những chỗ tinh tế mơ hồ của tình cảm, vượt lên trên hình thức của bề ngoài ngôn ngữ. Là để khơi dẫn đến những chỗ không thể nghĩ bàn; có đồng điệu hay không mà thôi.

Tổng thể bài thơ là một thứ nhịp điệu man mác, khoáng đạt mà dìu dặt của âm điệu và hình ảnh tương đồng. Một phong thái đã từng tiêu sái đang trầm sa trong di âm của dang dở. Thứ tình cảm chỉ đàn ông mới có, chỉ đàn ông mới hiểu thấm thía.

Hình tượng hai người buông tay rơi vỡ chiếc bình là một ẩn dụ đẹp về sự rời xa nhau của đôi lứa trong một tình yêu không thành. Tình yêu đã không còn giữ được hình hài mà cả hai cùng kì vọng và vun đắp. Nhưng sự tan vỡ đấy vốn không phải vì những điều rõ ràng, cụ thể. Cũng như khi chiếc bình tan vỡ thì không phải cái còn lại là những mảnh vỡ, mà là những giọt nước long lanh của tình duyên, như hương như mật xưa, bây giờ thành khói sương về đâu. Một giấc mộng đẹp tan rã hình hài sẽ không mất đi mà chuyển di vào vô vàn giấc mộng khác. Sau khi khởi đi từ câu thơ đầu thì từ đó tất cả là những mộng cảnh ước lệ để ẩn dụ về tâm tình của người_đang_biết_kể_lể_cùng_ai.

Em có định sẽ cùng ai kể lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao
Vừng hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ
Một mùi hương nồng tụ ở nơi nào
Câu chuyện ấy một lần em đã rõ
Để bây giờ không thể lại phanh phơi


Tưởng như ngay tại khoảnh khắc chiếc bình tan vỡ đó, trên kẽ tay vương lại giọt nước long lanh của tình duyên đang nhòa đi; thì lúc đó trong thăm thẳm cõi linh hồn cũng vọng ra tiếng tách mơ hồ của một vũ trụ tinh thần mà pháp tắc bắt đầu suy biến. Sông biển biến dời...

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Không chắc ai là người cô đơn hơn giữa hai kẻ đó; người chèo thuyền vào cõi vô biên, hay kẻ đứng đó, mắc kẹt giữa một thời-không vĩnh cửu rõi mắt theo: Ở_Chỗ chiếc bình tan vỡ, Ở_Lúc nhập vào một cõi linh hồn điêu đứng, ngại ngùng. Lúc đó là ngay tại thời điểm đó, mà cũng là vô cùng vô tận tháng năm sau trong bề chiều của ngộ nhận và xa lìa tinh thần. Cái nỗi lòng của kẻ_tự_mình ngay lập tức và vô điều kiện, ươm nỗi đau mơ hồ ấy bằng một thời gian vĩnh hằng: Nơi ấy SAU NÀY thành sông thành biển; ai ĐÃ chèo thuyền vào cõi vô biên. Cũng vội vàng và bất lực như khép kẽ tay có giữ được giọt nước rơi. Luống cuống vội vàng thất thố là để cánh hoa có rơi cũng còn dáng vẻ. Để những kỷ niệm được chập chờn trong êm đềm của ngộ nhận mà không thành chao chát đắng cay.

Màu phương cảo pha mờ trên nét ngọc
Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai


Từ đó nói không gian là để tưởng niệm thời gian đã qua. Tả thời gian là để vọng tưởng xa cách vô cùng của không gian đôi lứa.

Ở chỗ mà hương thơm của làn hơi thở
Làm nở bừng tất cả những bông hoa
Chiều nay là mây viễn xứ
Một mai là gió giang hà.

Tình yêu hương mật tựa khói sương đã tan. Gió không hình tướng, mây tụ mây tan vô thường. Ở chỗ là một vũ trụ lứa đôi của hơi thở kề mắt môi, nơi mà TẤT CẢ những bông hoa đều nở bừng, cũng đã từ thuở đó dự cảm đến một mai phiêu bạt. Cội nguồn có lẽ cũng không phải vì những điều cụ thể, mà chỉ vì như gió như mây, cõi tinh thần này không_phải_theo_lối_như_thế mà nắm bắt thôi. Cũng như thể tưởng chừng cùng nhau leo vạn bậc thang trời lên đỉnh tháp, cách một lần khung cửa là tới cõi khung trời mộng tưởng; chiếc chìa khóa vàng vì đâu buông bỏ, ai người một mình nấn ná trông ngóng lời gọi mời của vực sâu cho thêm một lần nữa cố gắng. Có cách nào cố được đâu. Biết vậy mà không đành lòng.

Sau tất cả, dừng ở đó là vừa độ, như  chạm nhẹ vào bông hoa. Dầu gì, nơi này anh đã yêu em

Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc
Mây trên trời xuống phủ ở trên vai
Màu phương cảo pha mờ trên nét ngọc
Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai.
Em có định sẽ cùng ai kể lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao
Vừng hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ
Một mùi hương nồng tụ ở nơi nào
Câu chuyện ấy một lần em đã rõ
Để bây giờ không thể lại phanh phơi
Đường đi xuống khung trời sương lổ đổ
Hờn dung nhan em có sợ bên người?
Con mắt ấy vì sao em khép lại
Làn mi kia em thử ghé lên nhìn
Vòng tay đẹp như cành xuân thơ dại
Ngón la đà sao chẳng chịu đưa tin
Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc
Lùa chân mây về ở dưới chân trời
Bước vội vã một lần nghe gót ngọc
Giẫm trang đời lá rụng uá thu phai.


(Một buổi trưa - Bùi Giáng)

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Văn chương vs Cuộc đời. 2

1.
Thực ra đây chỉ là một trò chơi. Những ý nghĩ thoáng qua đầu thường sẽ có một nguyên cớ nhất định. Hoặc ta sẽ tư lường thận trọng dò trước dò sau để nói cái gì đó hợp lệ. (Nhưng tôi nghi ngờ tính rốt ráo của nó). Hoặc ta chơi trò "song thủ hỗ bác", cho các ý niệm phản chiếu nhau. Dần dần ta sẽ nhận thấy các khái niệm luôn luôn bị xáo trộn nội hàm. Trong tương tác nó bị lưu chuyển. Chuyện có thể dài mãi mãi.

2.
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả

Văn chương với tôi mà nói, điều ý nghĩa nhất chính là nhờ hình thức của nó, ta có cơ hội coi vài ba người xưa như bạn, như thầy - như Kim Thánh Thán từng nói, như Nhượng Tống từng dịch. Và cũng là cơ hội để ta thấy tuy thiên địa du du nhưng trăm năm nhân sinh là chơi được - được chơi.

3.
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Ta đi gởi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

những mảnh tâm thái

1.
Những khi được lựa chọn, không bao giờ tôi muốn ngồi ở một nhà hàng có "nhạc sống", kể cả dẫu chỉ là một nhạc cụ độc tấu. Một cách chủ quan tôi muốn mọi thứ hãy đơn thuần là chính nó, trong chính nó. Ăn thì hãy ăn, nghe thì hãy nghe nhưng phải toàn vẹn. Do vậy, trình diễn là trong chính mình và vì chính mình trước hết.

Nhưng rồi tôi nhận ra nếu cuộc đời là những mảnh vụn thì điều đó không đúng lắm. Hay sát nghĩa hơn là không có đúng sai ở đây. Hoàn cảnh bây giờ là vậy, không còn niềm tin lớn và ý nghĩa lớn, chúng ta tìm cách hài hòa với những mảnh vụn; trong từng mảnh và trong chính sự vụn vặt chồng lớp ngổn ngang này. Trong khoảnh khắc, người hát lãng quên mình và người nghe lãng quên mình. Lãng quên mà vẫn biết chuyện trước chuyện sau. Trước là ăn uống. Sau là thưởng tiền. Khác biệt bây giờ có lẽ là ta ít còn nhìn vào mắt nhau.

2.
Luc Estang, tôi cũng chẳng biết ông này là ai, nhưng hẳn là một fan của Saint-Exupéry vì đã viết cuốn sách "S.E cuộc đời và tác phẩm". Đó chỉ là những ghi chép với nhiều mảnh vụn. Một bản dịch không tốt lắm thì phải. Nhưng tôi kịp nhớ một hai nhận xét quan trọng: "Tôi có cảm tưởng ông ta muốn mời gọi sự tin cậy nhưng đồng thời tự hỏi chính mình có thể tin cậy được hay không"; và " (về sức quyến dụ do "khả năng chi phối con người" và nhờ vào "tài chiêm đoán" từ trực giác tâm lý) Nó cho phép ta sống chân thực với từng người theo sự thật của người đó". Tôi nghĩ là mình biết về điều mà L.E đã nói đến là như thế nào.

3.
A.Camus, Carnets: "Gã không ngủ với cô gái giang hồ nọ đã tới bên gã mà gùn ghè, và làm cho gã thèm muốn, ấy bởi vì trong túi gã chỉ có độc nhất một tấm giấy bạc một ngàn phật lăng, và gã biết rằng mình sẽ không dám và không nỡ bảo cô gái giang hồ thối lại bạc nhỏ cho mình" (B.G dịch).

4.
Bùi Giáng có một diễn đạt rất hay rằng đọc Truyện Kiều là đọc giọng kể lể chuyện nhân gian của Nguyễn Du chứ không phải chuyện cô Kiều đúng hay sai ra sao. Không phải lời văn mà là giọng nói của một tấm lòng. Đọc "Long thành cầm giả ca" cũng là nên đọc bằng tấm lòng ấy. Chuyện cô Cầm chẳng có gì hay. Chuyện đời Tố Như cũng vầy vậy. Chỉ có tâm thái ấy là thật. Cứ ở trong sách mà tư lường mà chiêm nghiệm. Đời rốt ra chỉ như những mảnh vụn mà thôi.

5.
Cháu biết những chén rượu không hạn kỳ của bác. Cũng biết chuyện khôn dại ở đời. Biết chuyện ngậm ngùi khôn nỗi thưa thốt. Biết có bản nhạc sẽ mãi mãi là dang dở. Thôi, chẳng thà cứ say như thế, chẳng cần gì thì sẽ chẳng mất gì. Cái tình của Cầm nương, nếu có thì cũng đành khi phụ mà thôi. Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Cũng là một nòi, một giọng. Chuyện khắc cây đặt cỏ đâu chỉ là chuyện ngày xưa.

Thứ Tư, 14 tháng 4, 2010

Sa mạc và viễn tượng

1.
Khi bàn về tôn giáo hay triết lý, ngôn từ thể hiện tính hai mặt rất rõ rệt. Bây giờ tôi sẽ thử nói lại, nói ngắn gọn một_cái_ý xem nó có lặp lại được cái gì đó không. (Nhì nhằng, u uẩn, quanh quẩn và nghiệt ngã, oái oăm - chúng ta còn gặp nó còn nhiều).

- Tiền đề của cảm thức tôn giáo là kinh nghiệm. Kinh nghiệm vượt ra khỏi cái ngã mạn nhỏ bé cá nhân. Nhưng ngay sau đó sẽ là thăm thẳm chông gai của lựa chọn thái độ và điều tiết. Không biết tới, không hiểu gì về cái kinh nghiệm đó thì đừng vội bàn về tôn giáo. Nó chệch hướng và không thiết cốt. Nếu định lấy đạo đức để biện minh cho tôn giáo, đó là 1 ý tưởng tốt nhưng cũ rích. Trò chơi chữ này khởi đi tự lâu rồi. Một cuốn sách gần đây nhất, có bản dịch tiếng Việt nói về điều này là "Xác lập cơ sở cho đạo đức-F.Jullien".

- Triết lý tự khởi nguồn từ một nỗi thúc bách tinh thần. Nó không phải sở thích hay ý muốn. Nó PHẢI được thu xếp-một cuộc tàn phá và gầy dựng lại sơn hà đại địa. Mỗi người đều có triết lý nhưng để trở thành triết gia-người suy tưởng-thì cần nhiều hơn là những ý tưởng sơ khởi. Đó cũng là chỗ phân biệt kẻ điên và triết gia. Mỗi tư tưởng có một hệ sinh thái ngôn từ riêng của nó. (Về điều này Phan Huy Đường có một bài đề tựa rất hay cho cuốn "Tư-duy tự_do" của mình). Bàn nghiêm túc về bất cứ chủ đề triết lý nào không khỏi phải tái tạo lại ngôn ngữ, kết quả là phải viết thành 1 cuốn sách! Nên trao đổi chỉ có thể là bàn tán loạn.

2.
Một người điên trong mắt nhà tâm phân học thường khi lại "bình thường" hơn rất nhiều người bình thường chúng ta. Ông BG là một người điên, thường rất nỗ lực diễn giải Albert Camus trên bình diện một người nỗ lực vượt qua cả hư vô chủ nghĩa và nhân bản thuyết.

"Nhân-bản-thuyết không làm phiền bực tôi: trái lại tôi khoan khoái. Nhưng có điều là tôi thấy nó nông cạn-A.C: Carnets".

BG trích M.H (M.H&Vấn đề Hữu Thể):

- Nhưng đâu là chốn hoành hoành của hư vô chủ nghĩa? - Quên lãng Hữu-Thể-Tồn-Lưu và ru rú ở mép rìa hiện sinh động náo - vâng, chính đó là hư vô chủ nghĩa.

- Ngược lại, quyết tâm hướng về Hữu Thể, dấn mình đi cho đến giới hạn của Hư Vô, và tóm thâu luôn cả Hư Vô vào trong vấn đề của Hữu Thể, đó là cái dấn bước đầu tiên, cái bước duy nhất rạt rào, để vượt thoát hư vô thuyết.

- Nhưng cái gì tồn lưu liễu tại, thì thi nhân thiết lập nó ở giữa dòng...

3.
“Tôi muốn thiên hạ phải coi trọng những hoạn nạn của tôi”.

Luôn luôn là như vậy, con người ít khi biết mình là như thế nào lắm. Rớt từ trên trời xuống với một cái máy bay thì chẳng xa xôi gì so với từ một tinh cầu. Phải, hẳn là từ một lần nọ rơi máy bay xuống hoang mạc kia anh mới nhận ra tình trạng của mình, mới ý thức về tinh cầu nội tâm của anh.Sự vụ kia đã thay đổi nhãn giới của anh, khiến anh cao lên một tầng nữa, xa thêm một tầm nữa. Phải, có phải từ đó, anh đã biết, đã gặp một “Hoàng tử bé” - một nhân vị mong manh mà duy nhất không? Cái vụ rớt máy bay trong hoang mạc thì anh đã trở về rồi. Nhưng còn tinh cầu của anh, bây giờ đây, làm sao anh trở lại? Giờ đây anh đã mang đã biết tới một nỗi buồn thật da diết, thật riêng tư-Bây giờ riêng đối diện tôi, còn hai con mắt khóc người một con.


(Sa mạc và viễn tượng - trong một bài viết cũ)


"Bệnh tật là một tu viện có luật tắc riêng, tâm thuật khổ hạnh riêng, những im vắng và những cảm hứng riêng-A.C: Carnets".

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Nguyệt cầm - Xuân Diệu

1.
Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Ta đi còn gửi đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù?

2.
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng trời trong đêm thủy tinh

Lung linh bóng sáng bỗng run mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,

Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi …
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người …

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê

Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề …
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

3.
Thơ XD tôi thích và nhớ mỗi bài này. Nhiều người xếp nó vào các thể loại khác nhau như khẩu vị, phân tích theo lý thuyết này kia tuỳ sở trường. Với tôi bài thơ này đơn giản là một chuỗi các hình ảnh và liên tưởng đa nghĩa, gợi suy tưởng được lồng ghép trong chuỗi âm sắc, vần luật, bằng trắc rất thành công và tương đồng giữa nhạc điệu của chúng với chuỗi liên tưởng. Nó gợi ra không gian, thời gian, phông văn hoá xưa rồi nay. Ngôn từ chỉ là cái cớ, hình ảnh nhiều phen sáo nhưng chuỗi ấn tượng, cảm xúc thì độc đáo và liền lạc, rền vang trong tâm trí như một lượt dồn rải của tiếng đàn tỳ bà giữa đêm.

4.
Có điều, thơ XD ấn tượng cảm xúc thì mãnh liệt mà di âm lại chẳng được bao lăm. Đọc xong là hết. Lại phải đi tìm kiếm một cảm xúc khác, một bài thơ khác. Không tự đầy đủ được.

Nhưng mỗi lần nghĩ đến bài Nguyệt Cầm, tôi lại nhớ đến cảm giác đứng giữa đêm sương bạc ngửa cổ rõi miết trăng xưa trong veo như đĩa bạc khảm giữa nền trời men ngọc biếc với những tơ mây li ti vân vi dăng mãi đến mấy ngàn dặm phía chân trời. Trong khoảnh khắc, cả hào khí lẫn lòng cảm khái đều thấm đẫm toàn thân như sương cuối thu năm nọ. Việc ngửa cổ ngó chơi hẳn ai trong đời cũng từng có lần trải qua; cũng từng có lúc nghĩ lại mà cười nhẹ. Nghìn năm nay vẫn thế mà thôi ư?

5.
Em sẽ khóc khi nhìn trong khóe mắt
Có một người đi lại lang thang
Còn ghi giữ ân tình trong cỏ nhặt
Mưa vi vu vì hẹn với truông ngàn...
(BG)

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2009

Phông văn hoá - cái còn lại từ đằng xa.

1.
Hôm trước nói chuyện phiếm với bạn có nhắc đến các nhà thơ và do vậy, dù vô tình, phải bình luận về họ. Cũng là trả nợ comment của bác GM nên muốn viết gì đó về một vài tác giả, tác phẩm đã để lại dấu ấn trong ký ức và vốn sống của tôi cũng như là để minh giải những mối liên hệ mơ hồ. Vậy sẽ có màu kể lể :P

2.
Câu thơ đầu tiên mà tôi cảm được là từ cuốn Tập đọc lớp 1 "Sáo ai như tiếng quê hương/Êm như lời mẹ yêu thương dặn dò" trong 1 lần đọc lại. Không còn nhớ chắc là ngay từ lớp 1 hay phải đến lớp 2, 3 tôi mới cảm thấy điều gì đó vấn vít lơ mơ trong tâm trí. Niềm hoài cảm còn gắn liền với cả trang giấy ngả màu có in hình minh hoạ nét màu đỏ nhạt. Cuốn sách cũ thuê của nhà trường và được bọc lại bằng giấy dầu.

Chừng đâu năm lớp 7, một người bạn hẳn thấy tôi thích đọc ba vạ nên tự cho mượn cuốn "Thơ Nguyễn Bính". Tập thơ mỏng, in giấy thường và bị mất trang bìa. Lập tức cái tâm thế tiền chiến u hoài mộng mị, tha thiết mà ngây thơ, vơ vẩn lãng đãng...đã loang thấm tâm trí tôi tuổi mới lớn ngày đó. Bây giờ nhìn lại, chính là cái tâm thế chân thành tuy kiểu cách, vẻ bạt mạng lãng đãng đã đồng điệu với giấc mộng thoát ly và khẳng định mình của tuổi vị thành niên. Những câu thơ đã nâng đỡ những hoài vọng, khích lệ tính khoát đạt và an ủi sự chân thành; rồi tuổi nhỏ đã lướt qua dịu nhẹ và thoáng đãng không ngờ.

Nhưng cũng chính từ khởi sự đó, trong những bước lấp vấp tuổi đôi mươi, lòng chân thành trở nên ngượng nghịu và những tình cảm u hoài bắt đầu nhuốm màu rời rã. Tuổi trẻ tôi thấy mình như bị vứt ra xã hội - một khung cảnh bơ thờ, lủng củng và hầu như chẳng còn gì để tha thiết. Lòng kiêu hãnh không ngăn được cảm giác gần giống như sự tủi hổ với những hoài vọng mơ hồ nhưng mãnh liệt còn đó. Nó chỉ còn vừa vặn để phung phí tinh thành cho những di chuyển hoang mang. Một lần ngẫu nhĩ trong hiệu sách nhỏ, lật giở tập thơ của Lưu Quang Vũ, thoảng qua những dòng chữ cô độc đen tối nhưng giọng thơ vẫn tha thiết đến đau đớn là một cảm giác an lòng.

Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ
Thằng bé lẻ loi giữa lớp học đông người
Bàn chân hồ nghi trên đường phố xôn xao
Vứt sách xuống gầm bàn đi ra mặt trận
Tôi là người lính cô đơn ở giữa trung đoàn
Nỗi cô đơn hoàn toàn nỗi cô đơn khủng khiếp
Trước và sau, trong và ngoài cuộc đời và trang sách.

Chính ở giọng thơ chân thành tự sự độc thoại đó mà tuổi trẻ tôi tìm thấy chốn nương tựa cho lòng tự trọng của tinh thần. Nỗi cô đơn không đến từ chỗ không ai hiểu mà đến từ tâm thế xa lạ dưng không đi trong cuộc đời. Dẫu hồ nghi tất cả thì ta vẫn còn chính ta làm chứng cứ cho một lẽ sống cần phải được thiết lập-cho chính mình.

Lần đầu đọc Bùi Giáng với tôi là cuốn "M.H và Tư tưởng hiện đại". Ngang qua sự bối rối loang lổ là một cảm hứng rộng rãi ngậm ngùi. Giống như với thơ của LQV, tôi không thuộc và không chủ ý thuộc hay nhớ được bao nhiêu tác phẩm viết lách của BG. Nhưng tôi nhớ và thấy đồng điệu với khí chất và tâm tính của những giọng thơ này. Nó có gì đó giống tâm tình bạn bầy hàn huyên hơn là cảm giác say mê hào hứng. Cũng không một mảy quyến luyến.

Tần hô tiểu ngọc nguyên vô sự
Chỉ yêu đàn lang nhận đắc thanh

"Y không biết lời nhưng nhận ra tiếng". Có lẽ là như vậy được chăng?

3.
Bỗng nhiên một lúc, tôi nhận thấy là mình nghe được và thích những giai điệu jazz. Luôn liên tưởng đến tâm thế của những người bạn tựa lưng vào nhau và tung hứng. Mỗi người một thế giới. Nhưng tất cả là một tổng thể hài hoà thanh thản. Không chờ đợi. Không tưởng tượng thiên kiến. Tâm trí gần như mặt nước hồ thản thản đãng đãng hứng những giọt âm thanh rơi rắc.

Tôi bắt đầu tìm thấy sức nặng và chiều sâu cũng như lòng thanh thản ở những bức vẽ của Điềm Phùng Thị. Trong sự tiết chế của ngôn ngữ tạo hình vẫn còn đó phong thái rộng rãi tiêu sái mà đa đoan của chất liệu. Tôi thấy tôi, thấy trăng sao thuở trước, trời đất sương bụi trong mấy hình khối giản phác đang cuộn mình trên khung hình bức hoạ "Nội tâm". Tôi thấy cả sự trở về và ra đi của tinh thần. Trong vết loang tàng đâu đó của những mảnh giấy xé gián, những vệt bột màu còn hằn xơ bút là một nỗi mang mang tịch tĩnh. Tôi thấy thế và nhớ như thế.

Nhưng tất cả cứ đi ngang qua nhau với niềm hoài vọng và thương mến. Một nỗi ngậm ngùi. Một vẻ thản nhiên. Một màu day dứt. Như gió cát lùa qua kẽ tay, như thời gian không khốc trong lòng giếng cạn, chỉ có chút tình hoài trăng gió ghi phẩm giá, còn cái khí cốt giang hồ làm vẻ phong lưu. Buồn hay vui, đến rồi đi, còn rồi mất, đời người cứ thế mà thôi, như vệt cỏ trên cánh đồng hoang, mùa xuân sang năm lại tươi tốt.

Một khi anh có sáng tác viết lách được ra cái gì đó - với anh rất có thể nó là ngẫu phát - ra với cộng đồng nó sẽ vang vọng xô dạt như là những ngẫu phát khác, sai biệt vô chừng. Sợ tơ, làn khói mỏng manh của tượng trưng phổ biến, cái vốn chung của cộng đồng 100tỷ vượn-người này nhập nhằng, nhòe nhoẹt gạch xóa đâu đó ở anh ở tôi. Có một điều an ủi: tượng trưng ngẫu phát giúp ta giải thích được vì sao đôi khi giá trị của tác phẩm lại không phụ thuộc vào tác giả của nó. Nếu không thế giới hiện thực nhân văn thật đáng buồn nản vô cùng...


Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

Ghi chép dọc đường - Sài Gòn. Mộc Châu: phía sau núi lại có chân trời.

by Stephane

1.
Sau khi xác định là không còn công việc nào phải làm nữa là tự nhiên người chùng ra, mệt nhũn. Cả đêm hôm qua vật vờ lơ mơ nửa thức nửa ngủ. Không yên lòng. Ba đêm ở trong này thì một đêm ngủ trên xe, một đêm ngủ trên ghế văn phòng và chỉ một đêm được ngủ trên giường. Đáng được an ủi thì là vì đó là một đêm trăng muộn, ngủ trên nhà sàn giữa thảo nguyên.

Ba ngày chạy xe ngót nghìn cây số. Nhưng thà như thế còn hơn mấy chục phút tắc đường làm quà của SG. Sao người dân ở đây có thể chấp nhận những cái lô cốt lâu đến như vậy. Tư cách lãnh đạo quản lý thành phố kiểu gì cà chớn quá dzậy ^^

Nhưng SG thật đông vui và năng động. Lần sau sẽ cố gắng thu xếp để có thể la cà được chút chút. Tối bay về HN. Tạm biệt SG.

2.
Thêm 1 mẩu chuyện về thảo nguyên. Những đồi chè san sát của cao nguyên Mộc Châu cũng có thể tính là một cảnh đẹp sững người cho những tay nhà quê đồng bằng như tôi. Kỷ niệm và ấn tượng về Mộc Châu hơi nhạt nhoà. Có lẽ vì đã đến đây nhiều lần. Cũng có thể vì những dãy đồi bát úp chưa đủ bát ngát và đường chân trời lại bị vây bởi những rặng núi cao. Không nhìn thấy chân trời thì còn có thể nuôi dưỡng vài ba ảo vọng để sống qua ngày. Nhưng nếu chân trời rốt cuộc cũng chỉ là một ảo tưởng hư hao thì đời nhiều khi cũng là một gánh nặng khôn kham.

Tôi khóc những người bay không có chân trời
Và khóc những chân trời không có người bay
(TD)

Bạn ạ, lỗi không phải tại những chân trời, chân trời chỉ là nơi mặt đất nhẫn nại cho ta biết đâu đâu cũng thể quê xưa chốn cũ. Hãy để bàn chân trần lấm đất và rong chơi. Ta lại có thể đùa vui về những chân trời mê mải. Sống không phải là hoặc thế này hoặc thế kia. Sống hình như là vừa thế này vừa thế kia mà thôi.

3.
(...) Cả một cảnh đời băng giá dưới ánh trăng huyền diệu của văn chương đã được Tố Như giăng giăng phơi trải…Và mọi chúng ta, bước trên con đường bon chen của cuộc sống, dừng lại, đưa mắt bâng khuâng. Thanh thản chợt về lại tâm hồn. Ta soi lại bóng mình. Và thấy lòng yên dạ: cuộc sống vẫn là xô bồ, nhưng bên kia cái xô bồ còn lung linh một bóng hình diễm ảo: cứu cánh của đời thì ra không phải chỉ có lợi, danh, tình…nhưng của phù phiếm ấy có nghĩa gì giữa cuộc sống phù du? Nếu người không biết để lòng mình dạt dào trong một nỗi cảm thông nào cùng trời đất, mà nghìn năm cây lá vẫn ngân vang:

Con là sáo, mẹ là ngàn vạn gió,
Mẹ là trời, con là hạt sương rung
…”
(XD)

Kiều đã sống một cuộc sống giống chúng ta. Nàng đã đau khổ. Như mọi chúng ta thôi. Nhiều hơn một số, và ít hơn một số. Nàng tỏ ra có thiện chí ít nhiều, và nhiều lần tội lỗi. Đời nàng tầm thường là hình ảnh kiếp người tầm thường. Nhưng khi kể lại đời nàng cho ta nghe, Nguyễn Du đã có một giọng điệu nhặt, khoan, trầm, bổng thế nào, và đã làm sáng ngời bài học luân lý. Chúng ta cảm động. Khi lặng nghe Nguyễn Du chậm rãi giọng lời, chúng ta thấy bên kia tối tăm, một kiếp người đang vùng vẫy. Trong tâm khảm ta, từ nay hình ảnh ấy sẽ in sâu, rõ nét, đậm màu. Vì bên tai ta luôn luôn văng vẳng giọng Nguyễn Du. Con người nhỏ bé trong tác phẩm đã cho ta một bài học lớn. Chúng ta thầm tạ ơn tác giả. Giá trị luân lý của Đoạn trường tân thanh không do những hành động vụn vặt của Kiều, mà do lời thuật chuyện của thi nhân, lời đây không phải là lời văn, mà là giọng nói của một tấm lòng. Lời nói mang nặng biết mấy tâm tư: tâm linh của người dân Việt hội tụ lại ở đây, một lần duy nhất: trong sáng hơn ca dao, thâm thuý hơn tôn gíao, diễm tuyệt hơn văn chương, vì cái giọng não nùng của một kiếp sống dở dang trong dòng đau thương của thế kỉ. Dở dang mà không gì nguyên vẹn cho bằng.

(Bùi Giáng tuổi trẻ bình Nguyễn Du - "Giá trị luân lí của Đoạn trường tân thanh hay là Tiếng nói của Nguyễn Du". Ai muốn hiểu BG một cách đơn sơ hơn nên tìm đọc tập sách mỏng này. Lạ là mãi chưa được tái bản)

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2007

Đếm là Diệu Tưởng/Đo là Nghi Tâm


Trần gian nay có lối
Đi về chẳng nguồn cơn



2 câu trên tự nhiên hiện ra trong óc khi nghĩ về BG sáng nay. Vốn dự định tìm đọc những kiến giải của ông về Thơ Ca 1 chút và làm rõ cái hiểu của mình về Thơ rồi mới khởi sự viết đôi dòng nhưng như vậy thì cứ lần khân mãi không bắt đầu được. Về Thơ mình có 1 liên hệ với cơ chế của tâm trí và vấn đề nhịp điệu-nhịp điệu chứ không phải là nhạc điệu hay vần điệu. Nghĩ đến đây mình nhớ đến câu chuyện trong "Một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan" của BG kể lúc còn trẻ. Chàng tuổi trẻ trong buổi chiều đang xuống, đi một mình trên con đường sơn cước về phía xóm nghèo đang lên khói lam chiều. Dừng chân trước cổng nhà người chị gái, lắng nghe con trẻ đang vang giọng ngân nga đọc thơ BHTQ. Chàng hốt nhiên tỉnh mộng chợt nhận ra được cái hay của Thơ Ca. Trước chàng vẫn nghĩ rằng Thơ của BHTQ rằng hay thì thật là hay nhưng nghe ra trau chuốt quá không thật, không cận nhân tình. Nhưng ngay khi giọng trẻ đọc vang lên Lời thơ thì chàng hiểu-Thơ vốn dĩ phải được đọc lên...Mình lại nhớ đến lời bình của Hoài Thanh về bài "Hương Thời Gian" của Đoàn Phú Tứ-tưởng chừng thi nhân có thể đọc bài thơ của mình trước 1 đám đông mà không hề mất đi vẻ thanh tao duyên dáng ý nhị riêng tư của bài thơ. Và mình liên tưởng rất buồn cười rằng những bạn "làm thơ" cách tân mới đây đem những "bắc cặc, bú dái" vào thơ rất có thể các bạn chưa nghĩ ra sự tình này: rằng thơ vốn cần phải đọc to lên chứ không phải để nhìn. Các bạn trẻ, các bạn hãy đọc to lên nhé, trước đám đông càng tốt, như vậy dễ cảm thụ hơn.


Thường thì mọi người thích viết kiểu lập ngôn, trung tính phi bỉ phi ngã và coi đó như là một tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của những gì mình phát biểu. Mình thì không được thế, mình luôn ý thức và thích kể lể cà kê rằng "tôi vốn thế này, nhân sự nhân việc này mà tôi thấy thế này thế kia". Nghĩ về BG mình cũng sẽ viết như thế thôi. Hôm nay chỉ ghi mấy dòng khỏi quên.

Có 2 đoạn thơ ngắn của BG mà rất nhiều người thích. Một là 2 câu

"Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau"

và 2 là bài"

"Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên. Rằng một, hai, ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm"

Người nào nhiều tình cảm thì thường thích 2 câu trên, người nào thiên về suy tưởng thì thích đoạn dưới. Ở đây mình nói trước về 2 câu đầu trên kia.

Nguyên lai đây là 2 câu thơ trong 1 bài thơ hoàn chỉnh trong tập Mưa nguồn thì phải. Nhưng mọi người thường chỉ nhớ 2 câu này và lặp lại hồn nhiên mà nhiều khi chỉ vì nó bắt đầu bằng "xin chào" và "con đường". Có người còn bẻ "miên trường" thì có nghĩa gì đâu? Và cái bắt bẻ này chia rẽ mọi sự theo 2 ngả. Nếu bảo "miên trường" là Hán hay Hán Việt thì nó đều vô nghĩa, có thể nó là từ mới của BG tạo ra-vậy thì không phải là điều hay trong Thơ ca.

Ngả kia thì không kể đến điều này. Họ chỉ cần mang máng rằng "miên trường" là cái miên man dằng dặc mà thôi. Tư tưởng, hình ảnh và cảm xúc lướt đi không dấu vết, không định kiến. Và 2 câu thơ như 1 con nước mát vừa chảy qua kẽ tay-trọn vẹn mà không đầy đủ. Liên tưởng của mình cũng đơn giản: chỉ là 2 người đi ngược chiều nhau trên con đường độc đạo thăm thẳm; trong 1 ngõ hẹp họ gặp nhau. Họ đi ngang qua nhau và mỉm cười hồ hởi thân tình. Cái cười dìu dịu như đã gạn lọc đi nhiều đầy vơi. Ngang qua rồi đi tiếp. Mang mang. Cái hàm ý rằng nhân sinh thì mang mang thiên cổ sầu, miên man dằng dặc không biết đầu cuối ra răng, níu kéo ra răng; rằng sống như là bước đi, phải đi trên con đường rằng ngay cả cái chết cũng không đáng kể thì nhiều người cảm nhận được. Nhưng cái oái oăm của hiện tồn khi nhảy qua dòng suối thì ít người cảm nhận đủ. Đó là khi người ta đã ngậm cười mà lựa chọn mà nuôi dưỡng cái màu mắt môi Mùa Xuân ở phía trước như là cái cũng đang ngang qua-ngang qua chứ không phải là cái ảo ảnh mơ hồ giả dối của Hy Vọng (xin bạn coi thêm tiểu luận về khổ ải của Sisyphus của Anbe Camuy-về cái lẽ sống của người không Hy Vọng và không Chết). Đây không phải là hoán đổi hay đối lập. Ở đây là sự đồng nhất và đồng thời trong lúc đó-bây giờ và ở đây.

Nhưng lẽ đời thăm thẳm khôn khuây. 1 ông Sisyphus hì hục lăn đá dưới Âm Ti thì còn đẹp, vậy chứ 2 ông, 3 ông Syphus-Phusys thì phải ăn nói ra răng, chào hỏi ra răng???















Thưa rằng nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào

Chuyện có thể dài mãi mãi...

"Anh thương em như thương một bà trời
Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ..."


Tớ rất mến Bùi Giáng nhé, cứ như là tớ hiểu ổng lắm ấy. Ví dụ như hai câu thơ vừa rồi của ổng chẳng hạn. Thú thật với các bạn, tớ càng thích tác giả nào là y như rằng tớ không thuộc được đến 1 bài trọn vẹn :( Bạn bè với nhau khách sáo làm gì! Đọc đến đâu ký ức, cảm xúc ùa về đến đấy-người ta còn bận hàn huyên, hơi đâu mà ghi nhớ. Thấy khoẻ là mừng rồi. Nên đừng bắt tớ chứng minh bằng khả năng đọc thuộc. Cả bao nhiêu thơ của ổng, tớ thuộc có mỗi 2 câu này. Còn hai câu nữa nhưng mà tớ không thích. Tớ lấy 2 câu này bình chơi.


Đọc lần đầu đến chữ "một bà trời" là tớ cứ mê đi. Thật bạn nào yêu rồi khắc biết. Yêu thực sự là không còn cảm giác níu kéo hay chiếm giữ nữa. Cứ là mê đi! Nâng niu như đồ cổ-nhẹ tay sợ rơi, cầm chặt lại e vỡ. Dân trong Nam dùng từ "thương" hay cực! Thương chứ không chỉ là yêu nhé-thương là yêu, yêu, ...yêu...nâng niu, săn sóc, hết ruột hết gan...bala ...bala...Mà nghe dân Nam nói kiểu "Anh thương em" thật nhẹ hết biết, ngọt hết biết. Thoảng qua cái mà như u hương cứ lưu luyến hoài, cứ thương nhớ hoài...


Mà các bạn có biết "trời" không? Ai chả biết-hình như còn thân lắm ấy! Bằng chứng là thoảng có việc gì phiền lòng lại kêu..."Trời, có ai như cổ không kìa", "Trời, anh phải làm sao bi giờ...?" Kêu như kêu cha kêu mẹ còn như có oán có hờn, kêu chị kêu em còn như kêu không gọi...chớ kêu trời là có ngay cảm giác tức thì, vạn lý truyền âm, kêu trời là trời ở bên cạnh ngay à nha. Với tớ, trời là cái gì hết sức gần gũi, bao la, vô điều kiện. Không nói ngoa, tớ cũng là dạng "Anh thương em như thương một bà trời". Kêu chi mà ngọt lẹ. Chưa bao giờ từ bà đắt đến như vậy! Từ đầu đến cuối chữ "bà", thì gió còn mơn man, hương còn thoang thoảng...vậy mà thoắt cái chữ "trời" dzọt lẹ lên tận...trời xanh luôn. Thực "em gần sao em xa quá vậy?". Ờ, mà ở hiền gặp lành. Người như thế, tình như thế, chân thành như thế, thiết tha như thế...mà trời hổng thương thì trời cũng...kỳ!


Chờ hoài, chờ dài cổ, miệng tủm tỉm mím chi, chân đung đưa nhè nhẹ sang câu bát nào..."Em thương anh..." Phải rồi. Ê cò, dừng cái đồng hồ lại cái bây! Nghe mà nhẹ, mà thanh, xao xuyến ngập...trời....


"Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ"


Phải rồi, sao mà đối cho đặng. Trời mà! Bao la rộng lớn hết sức-Vô điều kiện hết sức. Nhưng. Nhưng em cho mình làm ông trời sao nghe hụt hẫng quá đi. Mình đâu có muốn làm ông trời. Thà em bảo em thương anh như cái thằng chăn trâu thổi sáo dưới kia kìa. Nó đang ngửa bụng ngắm trời mê đắm đấy! Hay cho anh làm mây trắng vật vờ, thỉnh thoảng trời bực trời xua đi khoe xanh ngắt ngắt với nắng hây hây và sâu thăm thẳm có phải cam lòng không. Cho anh làm ông trời mà chi...Tớ cực thích chữ "bơ vơ". Bơ vơ giữa xanh ngăn ngắt, nắng hây hây, và sâu thăm thẳm nhé! Bạn nào biết yêu đến tận cùng, yêu đến không biết nhấc chân nhấc tay thế nào, luýnh qua luýnh quýnh, mờ mờ mịt mịt, đến tan rã cả nghìn năm tu luyện tinh thành...thì có biết "bơ vơ" chưa? Ngày trước đọc xong 2 câu thơ này tớ phải lọ mọ đọc lại "Ngộ nhận" của Albert Camus đấy. Đố các bạn ai là người ngộ nhận đấy? Ngộ cực. Biết rồi là lặng thinh luôn. Hổng phải bắt chước tạo dáng. Mà là "mịch mịch mãn thái không". Nói vậy chứ ai quen thân người ta hỏi mình chả lẽ bẩu không hỉu. Nói đại này:


"Anh thương em như thương một bà trời
Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ
Kể ra từ bấy đến giờ
Tình yêu mỏng mảnh như tờ giấy rung"


Mệt rùi, giấy này, bút này. Nắng quá. Nhoè cả mắt. Thật. Hết biết. Đi chơi đi!!!

Xin chào nhau giữa con đường

Ông ơi cháu nhớ quê nhà
Quê ngày xưa đó sống là vì nhau
Ngó màu xanh nhớ bể dâu
Đêm hư hao thức cũng mầu chiêm bao
Thế nhân là thế nhân sầu
Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê
U minh diễn một trò hề
Đầu non bóng nhạn tìm về cõi xa
Cũng hồn cũng máu cũng da
Cũng tình cũng nghĩa vẫn là người dưng
Dở hay thì cũng đã từng
Mỗi hồn là mỗi rưng rưng nỗi đời
Cơn gió giật, tiếng ông cười
Cháu nay biết học làm người lặng im
Ngược dòng nước mắt vào tim
Nghe lòng sâu thẳm lặng im đêm trường.
............

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau. (*)

Ngó màu xanh nhớ bể dâu

Trăm năm ngưỡng vọng một câu tương phùng

Mịt mùng một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi. (**)
----------------
(*): Thơ Bùi Giáng
(**): Của Huy Cận hay của Bùi Giáng nhỉ???

Viết vào lúc khuya 2

Câu chuyện là một ẩn dụ thơ mộng kêu gọi sự đồng cảm chứ không rao giảng. Nhẹ nhàng, day dứt và khơi gợi. Mọi phân tích chi li sẽ làm tan biến hết những ân tình trong đó. Nên chăng chỉ là hoạ lại đôi lời lan man về những đồng vọng xa xăm…

* Sa mạc và viễn tượng.

-Sa mạc là một cái gì đó quá đỗi xa cách với người châu Âu kia. Xét cho cùng, cả Tây Âu chỉ là một mom nhỏ chật hẹp của Đại lục. Có ở trên cánh bay mới nhận rõ điều ấy. Sa mạc làm con người ý thức thật rõ ràng sự nhỏ bé, hữu hạn, mong manh của mình. Trong sa mạc, thường khi anh đối diện với mênh mông, cũng chính là lúc anh nhận ra chính mình. Sự khắc nghiệt của sa mạc, những hiểm nguy rình rập, sự sinh tồn của mình đây, nhỏ bé, phập phồng, phiêu hốt, hơn bao giờ được mình ý thức đến vậy. Không còn là lối ý thức ơ hờ làm dáng mà là ý thức toàn thể, đòi hỏi những hành động thích đáng. Một cơn khát kịch liệt, một lần lạc lối, là những nét vẽ lên chính sự tồn tại của ta.

- Người sống ở sa mạc sẽ phải học giản đơn: mọi thứ đều tối thiểu. Không cần màu mè-nước sạch là quý nhất. Hành trang tối thiểu và thiết thân. Luôn luôn hành động xác đáng, không làm những việc thừa thãi. Luôn luôn đứng trước bất trắc, nghi ngẫu khiến người ta luôn quả quyết. Giá trị cuộc sống ở sự vĩnh hằng trong khoảnh khắc và trong hành động. Cái chết luôn cụ thể và hiển hiện. Con người có được cái khoái cảm của sự run sợ pha trộn trong sự rung động toàn thân trong sự hiện hữu của mình.

- Sa mạc có những ảo ảnh. Những ảo ảnh làm người ta chết phi lý. Chỉ phút chót mới nhận ra được. Người trong sa mạc phải tự vấn mình để tự chọn lấy một quyết định. Quyết định ấy là sống hoặc là chết.

- Chính tất cả những điều ấy tạo lên sự quyến rũ của sa mạc. “Hy vọng” là tất cả những gì người ta có được ở đây. Nó làm con người ta hướng tới sự sống tha thiết hơn. Sau mỗi đụn cát vô tận luôn ẩn chứa những giếng nước ngọt. Không ở nơi đâu, con người đi giữa hiểm nguy lại xen lẫn nhiều hy vọng đến như vậy.

- Và, ở sa mạc, cuối cùng, nếu phải gục ngã, anh phải học cách mỉm cười và ra đi một mình-giữa mênh mông. Trong giờ phút ấy-những điều gì sẽ quay lại với ta?

- Chính con người, với tình yêu, trí tưởng tượng đã làm sa mạc trở thành khả dĩ với sự sống. Nếu bạn ở giữa sa mạc, bạn không còn hy vọng, không còn tin vào một nguồn nước-nghĩa là bạn đã chết ngay khi còn bước đi. Con người hãy sống với một tâm thế khác-ta sẽ hưởng được nhiều hơn trong cùng một ngày của một cuộc đời. Sự đời vốn có nhiều lối để nhìn. Và niềm tin, sự tương giao là hạnh phúc của ta.

* Kiến thức, hiểu biết và trải nghiệm sống.

- Những kiến thức, lý giải xa lạ với sự sống sinh động. Khi chúng xuất hiện, sự sống đã “đi qua” rồi.

- “Chúng ta có thể đi xa được mấy đâu?”

- Chúng ta xa lạ với những điều thực mà hời hợt trong những ước lệ sáo rỗng. Cái hay của câu chuyện một mặt ở chỗ khơi gợi mọi điều man mác về cuộc sống trong một dòng chảy thơ mộng trong trẻo đa tầng…

- Có một lần, người phi công lạc đường giữa không trung, trong một đêm tăm tối, không trăng. Vẫn là những bao la kia nhưng sự vật đã thay đổi rất nhiều với anh. Chưa bao giờ con người cô đơn làm vậy. Không một chút ánh sáng le lói, không một cách nào cho ta biết là “ta đang ở đâu?” Không lẽ, ta sẽ chết giữa chơi vơi như thế này? Anh mải miết đi tìm những ngôi sao lẻ loi-với hy vọng tìm lại phương hướng. Mỗi đốm sáng nơi chân trời kia là một lần anh hy vọng. Trớ trêu thay, quả địa cầu tròn-ánh sáng ngôi sao kia rốt cuộc chỉ là ngọn đèn ai đó giữa khuya thôi-hay ngọn lửa đốt lên giữa đêm trên cánh đồng của người chăn gia súc? Linh hồn ta, ai chả đôi lần hoang mang như vậy? Ai chả từng mong có một tinh cầu dẫn đường, còn có một nơi chốn để hướng về?

- Ta có thể đọc như đọc lần đầu, ngỡ ngàng, yên ả, xuôi mình đi trong cảm xúc. Rồi ta mới lắng nghe dư âm trong lòng ta xem bao nhiêu là hội ngộ, bao nhiêu là sẻ chia. Mỗi lần sống thêm một kinh nghiệm đời ta, ta đọc thêm được chút gì đó, từ câu chuyện-hay là từ chính ta?

- Trong một lần tưởng như sẽ chết khát trong tuyệt vọng giữa sa mạc, anh vẫn còn la bàn, vẫn còn biết phương hướng-nhưng lại không biết mình đang bị rơi ở đâu, giữa hoang mạc. Người phi công nhớ lại những gì đã qua trong cuộc đời mình. Mọi thứ từ xa cách hiện qua như một cuốn phim. Những lẻ tẻ, rơi rụng. Chưa bao giờ anh thấy lòng rộng lượng như vậy với mọi điều. “Hoàng tử bé” là nỗi lòng mơ màng ấy. Một nỗi nhớ lại giữa hoang mang chơi vơi..



*Ta đã làm gì đời ta?


- Trong tâm hồn mỗi người, cũng như là một khu vườn có nhiều hoa trái vậy. Có những hạt giống. Có hạt giống lành, có hạt giống dữ. Mới đầu chúng từa tựa như nhau. Chỉ khi đã lớn rồi thì ôi thôi-việc dọn dẹp đã là một kỷ luật cho chính mình. Nếu anh lơ đãng, cả tinh cầu của anh, cả tâm hồn của anh sẽ bị những quái dạng ấy nuốt chửng. Hãy chăm sóc bông hoa của chính mình-anh sẽ được hưởng niềm vui nhỏ bé mà ấm áp vô ngần. Vì tinh cầu của anh là duy nhất. Anh đã “tuần dưỡng” con người anh. Hạnh phúc là ở nơi đâu con người đem tình yêu và sự săn sóc tới-kể cả với chính mình.



-“Tôi muốn thiên hạ phải coi trọng những hoạn nạn của tôi”. Luôn luôn là như vậy, con người ít khi biết mình là như thế nào lắm. Rớt từ trên trời xuống với một cái máy bay thì chẳng xa xôi gì so với từ một tinh cầu. Phải, hẳn là từ một lần nọ rơi máy bay xuống hoang mạc kia anh mới nhận ra tình trạng của mình, mới ý thức về tinh cấu nội tâm của anh.Sự vụ kia đã thay đổi nhãn giới của anh, khiến anh cao lên một tầng nữa, xa thêm một tầm nữa. Phải, có phải từ đó, anh đã biết, đã gặp một “Hoàng tử bé” - một nhân vị mong manh mà duy nhất không? Cái vụ rớt máy bay trong hoang mạc thì anh đã trở về rồi. Nhưng còn tinh cầu của anh, bây giờ đây, làm sao anh trở lại? Giờ đây anh đã mang đã biết tới một nỗi buồn thật da diết, thật riêng tư-Bây giờ riêng đối diện tôi, còn hai con mắt khóc người một con.




- Tôi không muốn vén lên một cách sỗ sàng nỗi mơ màng nọ. Tôi không muốn bảo là không có Hoàng tử bé đâu, chỉ có một người phi công nọ đang bồi hồi giữa tâm hồn. Không muốn bạn cũng quá đột ngột nhận ra tình huống xa xăm của tinh cầu mình. Vì như thế là ép uổng, là không đúng đâu. Một ngày nào gặp Hoàng tử bé chứ không phải do ai chỉ cho, ngày ấy bạn sẽ vui lắm, dù rằng cũng có một nỗi buồn dìu dịu.



*Về một tình yêu đúng.

- Tại sao lại đi lắng nghe một bông hoa? Đáng lẽ chỉ nên nhìn và hít ngửi mùi hương thôi. Nàng ta lắm lời quá đỗi.



Khi ta đem lòng yêu thương một ai đó, thì ta sẽ luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho họ. Chỉ như vậy thôi thì ta cũng đã hưởng một niềm vui kỳ bí rồi. Vui thật nhẹ nhàng.



Nhưng một tình yêu tốt, một tình yêu đúng là khi hai kẻ yêu nhau vun đắp xây dựng cho nhau một sự độc lập. Xa nhau, cả Hoàng tử bé, cả bông hoa sẽ hiểu biết bao là tình yêu. Ngày hội ngộ sẽ là tất cả. Sá gì tấm thân nhỏ bé mong manh?


Tình yêu là vun trồng nuôi dưỡng, tuyệt không thể là sự sở hữu, hít ngửi được.



*Thật rất đơn sơ: người ta chỉ nhìn rõ với trái tim.


*Chẳng bao giờ người ta vừa lòng với nơi chốn mình đang ở.


- Nhưng nếu không từng ra đi, làm sao Hoàng tử bé biết mình yêu cái nơi chốn của mình đến vậy? “Lỡ từ lạc bước bước ra/Bước đi đi nữa đi là đi luôn”



*Tôi khát thứ nước nọ-nó tốt cho thân thể và tốt cho trái tim. Và tôi hiểu, chàng đã tìm kiếm cái gì.



- Con người ta trồng hàng ngàn đoá hồng mà chẳng tìm được cho mình một bông hồng, một hạt nước. Con mắt nó mù. Phải tìm kiếm bừng trái tim.




Làm sao để nói với mọi người đây, rằng có thứ nước tốt cho trái tim. Rằng hãy vun trồng, hãy đi tìm thứ nước tốt cho trái tim. Đừng hằn gắt với cuộc đời dù rằng đời đang hằn gắt với ta. Tôi nghe kể chuyện ở những vùng người ta trồng rau bán. Họ trồng 5 miếng đất cho riêng mình ăn, còn lại 50 miếng kia để phun thuốc hoá học. Làm sao để con người hiểu rằng 50 thửa vườn tinh sạch, đem lại xiết bao sự bổ dưỡng cho trái tim. Sao họ biết được đâu là cái mình cần tìm kiếm? Con mắt nó mù-phải tìm kiếm bằng trái tim cơ!



*Ngộ nhận và đối thoại nội tâm.

- Hoàng tử tí hon, vốn chất vấn tôi rất nhiều, lại chẳng bao giờ có vẻ nghe những câu tôi hỏi. Chỉ nhân những tiếng tình cờ, những lời ngẫu nhiên, mà dần dà tôi rõ hết mọi sự.


- Phải, chỉ những suy tư, những trao đổi, cảm thông và sự tuần dưỡng nhau mới có thể rõ được hết mọi sự. Phải kiên nhẫn. Hãy lắng nghe, tin tưởng và chia sẻ cùng nhau. Rộng lòng rồi ra anh sẽ rõ hết mọi sự!


Câu chuyện là lời kể mơ màng về một viễn tượng xa xăm, nơi tâm hồn có thể đối diện và chất vấn chính mình. Nơi trái tim được xao động yên lành. Phải, là tôi hỏi đó, là tôi đáp đó. Nực cười xiết bao khi anh đứng về bên này mà bỏ qua bên kia. Sinh tồn là liên tồn. Hãy lắng nghe những thao thức rung động từ muôn ngàn tơ nhịp quan hệ, giữa ta và hiện hữu. đừng tự lừa dối mình, đừng cho phép những cây cẩm quỳ nho nhỏ mọc lên rậm rạp. Sự trì hoãn bê trễ sẽ làm lên thảm kịch cho tinh cầu nhỏ nhoi của anh đấy.


Ai đã gặp Hoàng tử bé sẽ tránh được ngộ nhận. Kẻ ngộ nhận, sỗ sàng vơ vét ngôn từ, mà chẳng nắm được gì. Lý luận cò ke, biện giải lằng nhằng chẳng bằng một gàu nước mát tốt cho trái tim. Hoàng tử bé đi mất, để từ đây hoang mang ta tìm Hoàng tử bé trong mỗi người, mỗi nơi chốn ta qua. Từ đây, đâu đâu cũng phảng phất, cũng rưng rưng kỷ niệm. Quê nhà ta sẽ rộng rãi xiết bao!


(Hoàng tử không phải là ông vua. Vua thì có quyền với mọi sự. Còn hoàng tử thì luôn được mọi sự ưu ái, hoàng tử liên hệ tự nhiên với mọi sự, sinh ra đã là như thế. Hoàng tử bé vì khi người ta còn bé người ta luôn biết mình tìm kiếm cái gì-bằng trái tim. Bé chứ không nhỏ.)


Mịt mùng một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi…

(Người bạn thân thiết hỏi tôi “Làm sao để hiểu rõ hơn những cảm nhận mơ màng từ Hoàng tử bé?” “Không thể” Nói vậy nhưng một lần mất ngủ tôi đã hồ đồ viết những dòng này. Hôm nay, cũng một lần mất ngủ, tôi lại hồ đồ gõ lại và gửi lên đây. Sáng mai, nghĩ kỹ có khi tôi lại ngần ngừ rồi lại thôi. Đây chỉ là những lời nói tuỳ hứng vì vậy điều duy nhất gửi đến bạn là lời giới thiệu về vài ba tác giả, tác phẩm. Ngoài ra xin coi như lời nói vui vẻ giữa bạn bè-để vui chuyện, một kiểu lý sự cùn).

Viết vào lúc khuya 1


Chúng ta sống trong 1 thế giới vô thường. Mọi sự đều thay đổi và ngẫu nhiên-ngẫu nhiên tới dửng dưng vô tình. Nhưng phần lớn chúng ta không nhận ra được sự thực đó. Và vì vậy, xét một cách nào đó-một đại dịch trên toàn thế giới cũng có một khía cạnh tích cực là làm cho chúng ta nhận rõ hơn sự phù du của kiếp sống làm người. Khi mà dịch bệnh tai quái luôn rình rập và vặt những sinh mệnh-hệt như vặt cỏ-chẳng phân biệt tốt xấu, sang hèn; chẳng có lý gì cả. Thần chết chẳng thèm kiêng dè gì mà không thu gom cả một số đông con người vốn nhỏ bé yếu ớt. Cuộc sống hiện đại què quặt làm chúng tai ít đi những kinh nghiệm sống động trực tiếp. Chúng ta không biết và không muốn tin là lại có thể có rất nhiều người chết một lúc, dửng dưng vô nghĩa lý. Hãy xem, đã từng như thế rồi, nhưng con người không ghi nhớ và học hỏi được gì nhiều từ lịch sử cả. Đây không phải là vấn đề nhận thức đơn giản mà nó có một chiều sâu như thế này: đó là chúng ta rút được những kinh nghiệm chỉ từ những vấp váp-mọi lý thuyết, lời khuyên, sự giáo dục, cảnh tỉnh đều chẳng thể là yếu tố quyết định. Một vài cá nhân nhạy cảm, tinh tế hơn sẽ có cơ may nắm được phần mong manh dự kiến hơn số còn lại.

Nhưng không phải chuyện đại dịch là một vấn đề - nó là một sự kiện, một sự kiện trọng đại làm khơi dậy những vấn đề muôn thuở của kiếp người, một cách tha thiết, nóng cháy nhất. Những vấn đề nhân sinh thường man mác, lẩn khuất trong tâm trí ta. Đôi khi tụ hội thành nỗi buồn vơ vẩn lúc ta bơ vơ, nhàn rỗi. Ta chưa bao giờ có đủ khả năng để đối diện với nó. Thậm chí ta chẳng còn biết là phải làm gì nữa. Tâm trí con người tự nhiên trôi chảy, hỗn độn, chớp nhoáng, vụt chạc như con khỉ chuyền cành-từ lúc nào ta lớn lên đã như vậy rồi. Trách sao ta mong tâm ta tĩnh lặng mà chẳng bao giờ ta thực sự làm lặng yên dòng tâm thức kia..

Bây giờ thì có vẻ đã đôi chút thay đổi. Chưa bao giờ ta cảm thấy được sống là đáng quý như lúc này. Nhưng được sống mới khó khăn làm sao! Mọi giá trị đều đảo lộn hết thảy. Cuộc sống quá ngắn ngủi, quá xao động để cho ta quyết định tiêu pha thế nào? Mà thực ra, giờ mới là lần đầu ta nghĩ tới chuyện (mới biết tới chuyện) ta có trách nhiệm thế nào đây với sự tồn tại của chính ta? Câu hỏi không mới, nhưng nó không còn ơ hờ, điềm tĩnh trong xa lông phòng khách nữa rồi. Nó đã tha thiết, day dứt và thúc bách như đang trôi giữa dòng lũ xiết. Hơn bao giờ hết, hình ảnh con chó đứng trước chảo dầu sôi mới thật xác đáng: bỏ đi không đành, liếm thì bỏng lưỡi. Đúng là tiến lên không được, lùi lại không xong.

Bâng khuâng, ta mới lần mò lại coi xem, trên con đường miên viễn này, ta đang có gì? Hành trang của ta có gì là đáng giá? Mang theo cái gì đây? Đường dài vô tận, sức người có hạn-ta phải chọn một con đường, mang tối thiểu hành trang thôi. Mà, ta đã bao giờ sẵn sàng chưa?

Ngẫu nhiên ta sẽ lật giở từng món một. Xem trong đó bao nhiêu là dan díu, chằng chịt những liên hệ qua lại. Món nào ta cũng trân trọng cả. Cũng rộng lượng, cũng tha thiết. Và cởi mở ngó coi. Để chung cuộc, ta mới biết được, đâu là cái ta cần.

Chúng ta đến với thế giới này bằng kinh nghiệm. Chính kinh nghiệm của ta dẫn ta tới với ngôn ngữ chung của mọi người. Mưa-cơn mưa ngày xưa của anh làm sao giống cơn mưa ngày xưa của em? Và dưới cơn mưa này-anh và em-chúng ta có chia sẻ được điều gì thực sự liên thông không?

Vậy đấy, ngôn ngữ luôn luôn là phiến diện. Nói luôn là nói với ai đó. Đọc luôn luôn là đặt mình vào một trạng huống kỳ lạ mà vận dụng mà liên tưởng tới mọi ngõ ngách tâm linh mình xem các kinh nghiệm có đồng vọng không? Và hạnh phúc chân chính là khi thực sự ta biết, ta với người cùng chia sẻ một tương giao sâu xa, bền chặt.



* Con người, cá tính Saint – Exupéry và lựa chọn của Bùi Giáng.



Có một đặc điểm quan trọng của Bùi Giáng mà hình như chưa ai đề cập đúng mức cần thiết-mà đây lại là điểm mấu chốt cho ta hiểu ông-đó là sự nhấn mạnh, lời nhắc nhở thường xuyên rất tha thiết rằng: nói là nói_với_ai. Đọc phần hiển ngôn phải đọc được cả phần bất suy tư nữa. Phải tương giao tinh thần với người nói, người viết-thì còn xá gì ngôn lời nữa…Khi cái Tôi bệ vệ, trưởng giả, thiển cận tan biến đi cho một tấm lòng hồ hởi tha thiết tìm tòi học hỏi thì chân lý mới hiển lộ-hiển lộ chỉ riêng với kẻ ấy mà thôi.

Những tác giả ông (BG) chọn dịch đều là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu cả. Saint Exupery, Albert Camus, Heidegger, Nietzche…đều có một điểm chung là tấm lòng giản dị, trong sáng. Lời nói đơn sơ mà âm vang. Tinh thần họ sâu xa mà huyền nhiệm. Biểu hiện họ thì tha thiết với cuộc đời này, sự tồn tại này-mặc dầu lời nói đôi khi tàn ngược oái oăm.

Đáng sợ nhất là ngộ nhận. Những kẻ vin vào ngôn từ thường làm rơi rụng những ân tình sâu xa, những hàm ẩn mênh mang sau lời nói đơn sơ. Thực ra thì cũng giản dị thôi-Hãy để tấm lòng đơn sơ, hãy để xúc cảm chân thành và…luôn bâng khuâng về sự tồn tại của chính mình là ta sẽ có lối vào. Tức là tâm tư sẽ tương giao. Cuộc sống sẽ tươi mát hơn. Bước chân sẽ vững vàng hơn. Nụ cười sẽ dịu lại mà dư vang…
Từ thời Phục Hưng ở Châu Âu vào thế kỷ 15 trở đi thế giới Phương tây đã có những biến chuyển dữ dội. (Ta phải luôn nhớ rằng, có hai mạch ngầm chính của tư tưởng nhân loại là Đông và Tây, đã rất xa lạ với nhau và cùng hướng tới những mục tiêu nhân sinh như nhau-để tới nay đang có những gặp gỡ nhất định). Phải biết rằng, người Tây phương khởi đầu nền văn minh của mình với Hy lạp ra sao? Những đêm dài tăm tối Trung cổ ra sao..Phải biết ít nhất hậu cảnh ấy mới cảm nhận sâu xa được bối cảnh xã hội Tây Âu những năm đầu thế kỷ 20, con người ta đang ý thức thế nào về thân phận mình. Ít ra ta phải biết những triết gia Hy lạp cổ đại, biết Socrate, Platon, Aristote..biết thời đại khai sáng từ Phục Hưng tới đầu TK19 với những tư tưởng hăm hở của một thời đại con người vừa mới cởi bỏ ách tù túng của Nhà thờ La mã, nhận thức và lý giải thế giới. Khi mà bỗng nhiên chúng ta tin tưởng tuyệt đối rằng: thế giới này giải thích được bằng các đinh luật, rằng con người cần chinh phục, chế ngự thiên nhiên…Lần đầu tiên con người là trung tâm. Con người là toàn năng…Lại có những Newton, Marx.. đưa hoạt động tinh thần con người lên tầm hùng tráng nhất…Con người thế kỷ 18, 19 có cái hạnh phúc ảo ảnh này là họ hiểu biết mọi sự, hay ít ra họ tin họ sẽ hiểu hết mọi sự!

Nhưng cuối thế kỷ 19 trở đi, những phát kiến mới, những tiến bộ mới, những quan niệm mới và nhất là những vấp váp, khủng hoảng đã đưa đời sống con người sang nẻo khác. Loài người rơi vào mâu thuẫn nan giải:

- Một đàng, khoa học kỹ thuật và nền công nghiệp phát triển như vũ bão. Trí tuệ con người được cụ thể thành các công cụ vật chất, làm biến đổi mọi thứ trên mặt đất, kể cả chính con người cũng bị rơi vào vùng xoáy ấy.

- Một đàng, con người ngày càng thất vọng về khả năng hiểu biết chính mình, thân phận mình. Với chính thân phận mình thì con người không có được sự tự tin hống hách của nó như trước thiên nhiên.

Kết quả là loài người như đang cưỡi trên một con ngựa tốt mà chẳng biết phi về đâu, để mặc nó lôi đi vậy thôi.. Cái mặt KHKT và CN đã làm biến dạng xã hội, chia cắt xã hội và xô đẩy các cuộc chiến tranh. Tất cả đổ vỡ, đau thương, bế tắc càng làm lên một Âu châu hỗn loạn. Nhưng mọi thứ mới chớm nở thôi và chỉ đôi ba tâm hồn cảm nhận thấy nó. Huống chi người ta vẫn sẵn còn đó những tình yêu, những cảm xúc trong sáng. Cái thời đại ấy, con người chán đời mà vẫn yêu đời. Cái sự vụ ấy rất nan giải! Châu Âu những năm đầu thế kỷ 20 đã bộn bề ba bốn phía. Vẫn còn là châu Âu thực dân. Các thuộc địa đang trỗi mình dậy sau những cưỡng ép từ một nền văn minh thực dân. Nhưng một sự tươi trẻ, một cơ hội tái tạo mới đang hứa hẹn. Tựa như một người qua bao vấp váp nay có cơ hội làm lại mọi sự.

S.E chọn nghề phi công-đưa thư từ châu Âu đi khắp nơi, chủ yếu là những lục địa mới, những miền xa xăm. Đáng kể nhất là châu Phi của những hoang mạc. Chỉ riêng việc máy bay chở thư thì chỉ đơn độc có đội bay mà không có hành khách là đã mang lại hương vị quyến rũ đặc biệt của một chuyến lữ hành lãng mạn rồi. Về những vấn đề này, ông đã nói tới nhiều trong “Cõi người ta” và các tác phẩm tương tự. Sự đối lập của cái xác máy móc nặng nề với sự nhẹ nhàng phiêu lãng của cánh bay. Đã hàng nghìn năm, chúng ta đi trên những con đường nhất định. Cách chúng ta đi, cách chúng ta nhìn thế giới đã ăn sâu vào tư tưởng và ngôn ngữ ta như một điều hiển nhiên. Nay một chân trời mới đang mở ra: cách nhìn mới sẽ gọi biết bao điều suy tư mới. Sẽ phải có một chương riêng để phân tích về mối liên hệ giữa tốc độ và suy tư (như Milan Kundera đã làm). Nhưng nói tóm lại, đó, khi ở trên máy bay, một mình, nhìn xuống-con người có cơ hội nhìn mọi sự theo cách khác hẳn. Và có lẽ, bao quát hơn, thoáng đạt hơn.

Kỹ thuật máy bay thời đó còn sơ khai, người phi công vẫn phải dựa vào mắt mình, tay mình mà điều khiển như khi còn trên mặt đất. Tầm bay thấp, vẫn luồn lách trong các ngọn núi, vẫn những cánh đồng, vẫn những trận mưa, cơn lốc…Nghĩa là anh vẫn gắn bó lắm (theo một cách khác) với mặt đất. Những đường bay còn mới mẻ, đầy rẫy bất ngờ, nguy hiểm. Tất cả tạo nên một thế giới vừa rộng lớn, vừa quyến rũ ta. Thử hỏi điều đó đã mang lại trong tâm hồn người phi công những gì?

Phải bay đêm mới biết hết những ý vị sâu xa huyền diệu. Ta-một mình băng cánh giữa thinh không. Bên dưới là làng mạc, là thảo nguyên, là khu rừng, đầm lầy…Ai đó còn thức, ai ngủ? Bao nỗi đời đang diễn ra. Họ chỉ là những đốm sáng trên một nền đen-hệt như những tinh cầu cô đơn. Quả thực-con người vốn rất cô đơn. Họ sống quẩn quanh quá, tầm nhìn họ eo hẹp quá nên chi những mối tương giao là hoạ hiếm. Và nữa, chính người phi công đang bay giữa một trời sao thực sự. Vậy là bốn phía đều là những ngôi sao-chính anh cũng là một ngôi sao. Ai đâu, hãy thử đem những mối lo lắng bận tâm về công việc ngày thường lên trên cánh bay này một lần xem nó còn bao nhiêu phân lượng? Và thật bất hạnh cho ai kia không sao hiểu được điều này!

Nhưng điều này khó chia sẻ quá. Nó huyền diệu và đòi hỏi người ta phải được trải qua kia. Vậy nên người phi công cũng thật đơn độc làm sao giữa cuộc đời này! Một tấm lòng rộng mở hồn nhiên, một sự hiểu biết và do hiểu biết mà thông cảm, một trí tưởng tượng phong phú nuôi dưỡng những cảm xúc đẹp đẽ-Một tâm hồn như thế sẽ luôn nhìn cuộc sống, nhìn vũ trụ như là tất cả trong một ngày-hân hoan vui sướng-không lo âu, không toan tính và rất chi là hào phóng chia sẻ. Xuống đất, ta chỉ may chăng chỉ còn tìm thấy chút gì đó trong những tấm lòng con trẻ. Con trẻ chứ không phải trẻ con!

Nhưng những tha thiết này sao mà cần được chia sẻ đến vậy! San sẻ cho đầy thêm chứ chẳng hề vơi đi. Nhưng mặt đất châu Âu đang tràn đầy những huỷ hoại, nọc độc chiến tranh thế giới đang đến, nền KT tư bản đang ở thời kỳ thô bạo nhất, con người đang lãng quên mọi sự. S.E đã ở tuổi 40 rồi, đã sống sang mé bên kia của cuộc đời, có sự mỏi mệt, có thất vọng, có tin yêu và có cả cô độc. Danh vọng hão huyền cũng đủ rồi. Và còn nhiều nhiều nữa những tâm sự u uẩn. Sự cô độc của một tâm hồn già dặn. Và ông đã viết “Hoàng tử bé”.