Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

ĐỌC MỤC THẦN KÝ: MỘT ĐỈNH CAO CỦA HUYỀN HUYỄN MẠNG VÀ VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN TRUY ĐỌC

 

Tôi đọc Mục Thần Ký của Trạch Trư bằng bản convert, trong một thời gian dài và có giai đoạn theo nhịp ra chương hằng ngày. Trong số khá nhiều tiểu thuyết huyền huyễn mạng từng đọc, đây vẫn là tác phẩm tôi thích nhất. Nói nó là một đỉnh cao của thể loại tất nhiên trước hết chỉ là phán đoán của một người đọc. Nhưng nhìn lại sau khi truyện đã kết thúc, tôi nhận ra cảm giác ấy không chủ yếu đến từ việc Mục Thần Ký sáng tạo ra một yếu tố nào hoàn toàn chưa từng có.

Tu luyện, thăng cấp, môn phái, bí cảnh, thần ma, thế giới nhiều tầng, hệ thống cảnh giới, những nền văn minh đã mất, tranh đấu với thiên đình, nhân vật chính liên tục phá giới hạn... đều là vật liệu quen thuộc của huyền huyễn mạng Trung Quốc. Ngay cả việc đưa khoa học, toán học hay những vấn đề xã hội hiện đại vào thế giới huyền huyễn cũng không phải hoàn toàn chưa có tiền lệ.

Điều đặc sắc của Trạch Trư nằm ở năng lực tập đại thành. Ông gom rất nhiều nguồn lực vốn làm nên sức hấp dẫn của huyền huyễn mạng — truyền thống thần thoại và tôn giáo Trung Quốc, võ hiệp, tu tiên, game, lịch sử, chính trị, khoa học hiện đại, hài hước, nhiệt huyết tuổi trẻ và trí tưởng tượng về cải cách xã hội — rồi đặt chúng vào một cấu trúc có khả năng tự mở rộng rất lâu mà trong phần lớn hành trình vẫn giữ được một trung tâm tinh thần tương đối nhất quán.

Quan trọng hơn, thế giới ấy không chỉ rộng ra. Nó tự biến đổi trong khi người đọc đang sống cùng nó.

Đại Khư mà ta gặp lúc đầu không còn là Đại Khư của vài trăm chương sau. Những người già ở Tàn Lão Thôn ban đầu là những nhân vật kỳ quặc, rồi từng người mở ra một lịch sử. Duyên Khang ban đầu là một quốc gia trong bản đồ, sau đó trở thành một xã hội đang biến pháp. Thần thông ban đầu là bí truyền của môn phái, rồi dần trở thành đối tượng nghiên cứu, cải tiến và phổ cập. Thiên đạo tưởng là nền tảng vĩnh hằng cuối cùng cũng bị kéo xuống thành vấn đề có thể chất vấn. Đến cuối truyện, chính vũ trụ trở thành đối tượng nghiên cứu.

Những chuyển động ấy gợi ra điều mà tôi cho là đặc sắc nhất trong cách Trạch Trư tập đại thành các vật liệu của huyền huyễn: ông không chỉ xây một thế giới để nhân vật khám phá mà xây một thế giới có lịch sử, trong đó con người, tri thức và các trật tự đều có khả năng trở thành cái khác.

Đặc điểm ấy lại gặp đúng hình thức tồn tại của tiểu thuyết mạng dài kỳ. Khi tác giả viết trong lúc độc giả đang đọc, sự biến đổi bên trong thế giới hư cấu được trải nghiệm song song với thời gian truy đọc bên ngoài văn bản. Vì thế Mục Thần Ký trở thành một trường hợp đặc biệt thích hợp để suy nghĩ về quan hệ giữa thời gian, thế giới hư cấu và kinh nghiệm thẩm mỹ.

Đọc xuyên qua câu chữ

Nghịch lý đầu tiên nằm ngay ở văn bản tôi thực sự đã đọc: một bản convert.

Nếu đem nó đo bằng tiêu chuẩn thông thường của văn chương dịch, người đọc đáng lẽ phải bỏ cuộc khá sớm. Cú pháp lổn nhổn, nhiều câu mang nguyên cấu trúc tiếng Trung, từ Hán Việt dày đặc, không ít đoạn chỉ có thể gọi là tiếng Việt theo một nghĩa khá rộng. Vậy mà người ta vẫn đọc hàng nghìn chương. Không những hiểu mà còn nhớ nhân vật, suy đoán thế giới, chờ đợi tình tiết; có khi bật cười, có khi rơi lệ, có lúc để mình cuốn vào cảm giác bi hùng phẫn liệt.

Người đọc convert lâu năm dần hình thành một kỹ năng có thể tạm gọi là “đọc xuyên qua câu chữ”. Não gần như tự động bỏ qua những cấu trúc tiếng Việt vụng về để nhận trực tiếp những đơn vị lớn hơn nằm phía sau: nhân vật, quan hệ, tình tiết, thiết lập, ý niệm và cấu trúc thế giới.

Điều này không có nghĩa câu chữ không quan trọng. Nó chỉ cho thấy trong một chế độ tiếp nhận khác, trọng số giữa các đơn vị thẩm mỹ có thể thay đổi.

Bản convert Trung–Việt còn tạo ra một hiệu ứng riêng. Những khối từ Hán Việt như Đại Khư, U Đô, Huyền Đô, Thiên Đình, Khai Hoàng, Thượng Hoàng, Duyên Khang, Thần Tàng, Tạo Vật Chủ... giữ lại một độ nén văn hóa khá cao. Người Việt đứng ở vị trí lạ lùng: không hoàn toàn thuộc không gian văn hóa đã sinh ra những từ ấy nhưng cũng không xa lạ với chúng. Có những chữ ta hiểu mà không cần dịch hết, đồng thời vẫn cảm thấy phía sau chúng còn một lớp trầm tích chưa khai hết.

Đọc đủ lâu, “Khai Hoàng” không còn hoạt động như một danh từ cần được dịch từng lần. Nó đã mang theo một thời đại, một hệ giá trị và một mạng lưới quan hệ. “Đại Khư” cũng không chỉ chỉ định một địa điểm mà trở thành một đơn vị nghĩa có độ nén ngày càng lớn.

Điều đáng chú ý không phải bản convert bí mật trở thành một thứ văn chương đẹp. Nó vẫn xù xì. Nhưng người đọc đã học cách tiếp nhận tác phẩm bằng những đơn vị lớn hơn câu. Một số khối Hán Việt thậm chí hoạt động gần như ký hiệu nén, cho phép một lượng lớn thông tin văn hóa và tự sự đi qua một bề mặt ngôn ngữ không trơn tru.

Vì vậy mới xuất hiện nghịch lý: văn bản có thể yếu ở cấp độ câu nhưng kinh nghiệm văn học vẫn mạnh ở cấp độ cấu trúc.

Một thế giới biết giữ quá khứ của mình

Đây là nơi Mục Thần Ký bắt đầu khác nhiều truyện thăng cấp thông thường.

Một khó khăn kinh điển của huyền huyễn trường thiên là bản đồ bị tiêu hao. Nhân vật rời tân thủ thôn, lên thành phố, sang quốc gia khác, phi thăng lên tiên giới; mỗi lần nâng cấp thế giới lại gần như bỏ lại thế giới cũ. Nhân vật cũ mất ý nghĩa, địa điểm cũ trở thành quá khứ và truyện có nguy cơ biến thành chuỗi sân khấu ngày càng lớn nhưng ngày càng ít liên hệ với nhau.

Trạch Trư ý thức khá rõ vấn đề này. Cấu trúc “liên hoa địa đồ” đặt Đại Khư như nhụy sen, các thế giới và thời đại khác lần lượt mở ra như những cánh sen. Nhưng thủ pháp quan trọng không chỉ là mở rộng bản đồ. Tần Mục liên tục quay trở lại những nơi tưởng đã biết và mỗi lần trở lại lại phát hiện một tầng lịch sử khác.

Đại Khư vì thế không bị tiêu hao sau khi nhân vật đã vượt khỏi cấp độ ban đầu của nó. Nó liên tục được tái nghĩa hóa.

Quy tắc đầu tiên rất đơn giản: trời tối thì đừng ra ngoài. Nhưng càng đi, người đọc càng phát hiện những phế tích, thời đại và nền văn minh đã chôn xuống bên dưới hiện tại. Không gian trở thành một dạng địa tầng lịch sử.

Tàn Lão Thôn cũng vận hành theo cách ấy. Ban đầu đó là “nhà” và những ông bà già kỳ quặc. Sau đó từng người mở ra một lịch sử riêng; những lịch sử ấy nối sang Nhân Hoàng, Thiên Thánh Giáo, Phật môn, Đạo môn và những biến cố lớn hơn. Thông tin mới không đơn giản được xếp cạnh thông tin cũ mà thường buộc người đọc phải hiểu lại cái mình từng thấy.

Một phế tích hóa ra là kết quả của một lịch sử. Một nhân vật từng buồn cười hóa ra mang một bi kịch. Một thần thoại hóa ra che giấu một quan hệ quyền lực. Một thứ được gọi là thiên lý hóa ra cũng có điều kiện hình thành.

Đây là một trong những kỹ thuật thế giới quan hiệu quả nhất của Mục Thần Ký: mở rộng không đồng nghĩa với vứt bỏ. Thế giới lớn lên bằng cách làm sâu những gì đã có.

Từ đó mới sinh ra một phẩm chất có thể tạm gọi là khả năng cư trú. Người đọc có nơi để trở về, nhưng sự trở về không đồng nghĩa với lặp lại. Nơi cũ vẫn nhận ra được, đồng thời đã có thêm chiều sâu. Một thế giới như vậy vừa cung cấp sự quen thuộc cần thiết cho truyện trường thiên, vừa tránh được cảm giác đứng yên.

Thời gian truy đọc và “ký ức đồng hành”

Đặc điểm đăng theo kỳ bổ sung cho cấu trúc ấy một chiều mà người đọc đến sau khó tái tạo hoàn toàn.

Người đọc liền một tác phẩm đã hoàn tất luôn có khả năng đi tiếp. Người truy đọc từng sống trong trạng thái chương tiếp theo thực sự chưa tồn tại. Một bí mật từng chưa có lời giải; một nhân vật từng mất tích nhiều tháng; một biến cố từng mở ra nhiều khả năng mà chưa khả năng nào được xác nhận.

Khoảng thời gian ấy không nằm trong câu chữ của bản hoàn chỉnh, nhưng nó đã tham gia vào kinh nghiệm tiếp nhận.

Tôi tạm gọi phần tích lũy này là “ký ức đồng hành”: những gì người đọc mang theo từ lịch sử đã sống cùng tác phẩm và được huy động trở lại khi nhân vật, địa điểm hay vấn đề cũ xuất hiện.

Mục Thần Ký, hiệu ứng ấy đặc biệt mạnh vì cấu trúc của Trạch Trư thường xuyên quay lại những gì đã đặt ra từ trước. Khoảng cách hàng trăm chương không chỉ kéo dài sự chờ đợi; nó tạo điều kiện để một lần trở lại có trọng lượng mà đọc liền khó tái tạo nguyên vẹn.

Nhưng trường hợp Duyên Khang còn cho thấy một điều khác quan trọng hơn sự gắn bó với nhân vật. Người đọc được đặt vào vị trí chứng kiến một xã hội biến đổi.

Duyên Khang lúc đầu không phải Duyên Khang về sau. Học cung thay đổi, công pháp thay đổi, kỹ thuật thay đổi, cách tổ chức tri thức thay đổi. Một phát minh từng mới mẻ vài trăm chương sau trở thành điều kiện bình thường cho những phát minh khác. Những lý tưởng từng chỉ nằm trong lời nói dần được kiểm nghiệm bằng thể chế, sản xuất và chiến tranh.

Hiệu quả ở đây gần với kinh nghiệm lịch sử hơn là sự tích lũy thông tin về world-building: ta từng biết trạng thái trước của xã hội ấy nên nhận ra được khoảng cách mà nó đã đi qua.

Có lẽ chính vì vậy Duyên Khang có lúc tạo cho tôi một cảm giác rất lạ. Nó không chỉ được miêu tả đủ chi tiết để đáng tin. Tôi đã được đặt vào vị trí của một người chứng kiến nó trở thành cái mà lúc đầu nó chưa phải.

Có những lúc đọc, tôi gần như “tin rằng có” một Duyên Khang như thế.

Khi lý niệm có thân xác

Nếu chỉ có cấu trúc thế giới thông minh, Mục Thần Ký vẫn chưa trở thành tác phẩm khiến tôi nhớ nhất. Hơn nửa đầu truyện còn làm được một việc khó hơn: biến những lý niệm lớn thành kinh nghiệm của con người cụ thể.

“Thần vi nhân dụng”, “nhân mệnh đại vu thiên”, “thánh nhân chi đạo tại bách tính nhật dụng” không đứng lại ở những lời tuyên ngôn. Chúng trở thành học cung, công xưởng, thần thông mới, biến pháp, chiến tranh và lựa chọn của nhân vật. Duyên Khang biến pháp vì vậy không chỉ là một chủ đề chính trị mà là quá trình một xã hội đem những nguyên tắc của mình ra thử nghiệm trong đời sống.

Thiên Thánh Giáo là một trường hợp thú vị. Bề ngoài nó kế thừa mô hình “ma giáo” của võ hiệp, nhưng mạng lưới giáo chúng, quan niệm nhập thế, thái độ với lao động và dân chúng khiến người đọc hiện đại dễ nhận ra những cộng hưởng với trí tưởng tượng cách mạng Trung Quốc thế kỷ XX. Không cần giải mã nó thành một ám dụ một-đối-một. Điều đáng chú ý hơn là tác phẩm đặt lý tưởng của giáo cao hơn chính tổ chức: nếu Duyên Khang thực hiện được “bách tính nhật dụng”, Duyên Khang đã trở thành Thiên Thánh Giáo theo nghĩa quan trọng nhất.

Từ đây xuất hiện một hình thức phê bình nội tại. Những lý tưởng như phục vụ dân chúng, chống đặc quyền, phổ cập tri thức và phát triển sản xuất trở thành tiêu chuẩn quay lại chất vấn môn phái độc quyền tri thức, thế gia tích lũy tài nguyên, người tu luyện khinh thường dân thường và cả nguy cơ những người chiến thắng cuối cùng hình thành tầng lớp lợi ích mới. Niềm tự hào về sự tự cường của một xã hội và sự phê phán những gì đang cản trở lý tưởng ấy không nhất thiết mâu thuẫn nhau.

Trong hoàn cảnh xuất bản và kiểm duyệt Trung Quốc, những lời tự giải thích của Trạch Trư vì vậy có giá trị tham khảo nhưng không nhất thiết là chiếc khóa cuối cùng của văn bản. “Ý tại ngôn ngoại” không có nghĩa mọi khoảng trống đều là mật mã chính trị; nó chỉ nhắc rằng cấu trúc của một tác phẩm có thể sản sinh những hàm nghĩa rộng hơn cách tác giả lựa chọn giải thích nó trước công chúng.

Điều quan trọng hơn đối với kinh nghiệm đọc là những lý niệm ấy có thân xác.

Tôi từng có thể để cảm xúc cuốn theo hơn nửa đầu truyện, có khi rơi lệ, có khi cảm thấy bi hùng phẫn liệt. Cái bi đến từ sự mong manh của những con người cụ thể; cái hùng từ việc họ vẫn hành động trước những lực lượng lớn hơn mình; cái phẫn xuất hiện khi đau khổ không còn được coi là định mệnh mà gắn với một trật tự đáng lẽ có thể khác đi.

Bởi vậy, người anh hùng lớn nhất của phần này đôi khi dường như không phải Tần Mục mà là Duyên Khang: một xã hội đang học cách tự thay đổi. Một người nghĩ, người khác chế tạo, người khác truyền dạy, người khác đánh trận. Người này chết thì người khác tiếp tục. Tần Mục dẫn người đọc đi qua lịch sử ấy nhưng không độc chiếm lịch sử.

Kết cấu quần tượng giúp Trạch Trư giữ được điều này khá lâu. Duyên Khang Quốc sư, Hư Sinh Hoa, những người già Tàn Lão Thôn và nhiều nhân vật khác có quỹ đạo riêng. Sự hài hước lại giữ họ còn là người: một kẻ vừa bàn đại đạo có thể ngay sau đó tham ăn, sĩ diện hay làm chuyện ngớ ngẩn. Khi bi kịch đến, nó vì thế xảy ra với những con người ta từng thấy sống chứ không phải những tượng đài được dựng sẵn để hy sinh.

Có lẽ đây là một trong những thành tựu khó nhất của Mục Thần Ký: dùng quy mô sử thi mà vẫn giữ được nhiệt độ của đời sống.

“Muốn trường sinh ư — học toán đi”

Tinh thần biến pháp ấy còn đi vào một nơi ít trang trọng hơn nhưng rất đặc sắc: Trạch Trư đưa toán học và khoa học tự nhiên vào chính cơ chế của thần thông.

Muốn học Đạo kiếm phải giỏi thuật số. Những truyền thống toán học Trung Quốc như Toán kinh thập thư, Đại diễn tổng số thuật, Tứ nguyên ngọc giám xuất hiện trên con đường dẫn tới kiếm pháp; các phép tính dần chạm tới những vấn đề của vi phân và tích phân. Trạch Trư tiếp tục đẩy lối tưởng tượng ấy sang vật lý, sinh học và cuối cùng là vũ trụ học.

Với một học sinh hay sinh viên vừa vật lộn với toán ở trường, trò chơi ấy tạo ra một sự đảo ngược khá vui. Những thứ đang nằm trong sách giáo khoa bỗng trở thành bí kíp tu tiên. Dân mạng có thể đùa: học mệt quá lên mạng đọc truyện giải trí, cuối cùng vẫn bị tác giả bắt học bài.

Nhưng phía sau câu đùa là một nguyên tắc quan trọng của thế giới Mục Thần Ký: biết tạo ra quyền năng.

Một pháp thuật không còn chỉ là bí truyền được tổ sư để lại. Nó có cấu tạo, có nguyên lý, có thể tháo ra, so sánh, phát hiện hạn chế rồi cải tiến. Người sau không chỉ kế thừa người trước mà có thể sửa người trước. Một phương pháp mới sau khi được phổ biến lại trở thành điểm xuất phát cho thế hệ kế tiếp.

Vì thế khoa học trong Mục Thần Ký không đơn thuần là một lớp trang trí hiện đại phủ lên huyền huyễn. Nó nối trực tiếp với Duyên Khang biến pháp. Cái mà Duyên Khang làm với thể chế, những người tu luyện làm với tri thức: từ chối coi cái được truyền lại là giới hạn cuối cùng.

Ở đây “thần vi nhân dụng” có thêm một tầng nhận thức. Muốn thần dùng được cho người thì con người trước hết phải hiểu được thần. Thần thông, thần linh rồi thiên đạo lần lượt bị kéo xuống thành đối tượng nghiên cứu.

Thế giới không chỉ được nhân vật khám phá - Nó đang tự học về chính nó.

Bởi vậy câu đùa “Muốn trường sinh ư — học toán đi” lại chạm khá đúng tinh thần tác phẩm. Trạch Trư không biến tiểu thuyết thành sách giáo khoa; ông làm một việc thú vị hơn: tạm thời tái mê hoặc tri thức trong sách giáo khoa, biến cái phải học thành cái người đọc muốn biết vì nó mở được thế giới.

Trớ trêu ở chỗ, đọc tu tiên để trốn học một lúc, đi một vòng rồi vẫn bị Trạch Trư lão ta lôi về bàn học.

Những vết nứt trong thế giới tập đại thành

Khả năng hấp thu nhiều truyền thống của Mục Thần Ký cũng khiến tác phẩm mang theo những thiên kiến nằm sẵn trong kho vật liệu ấy.

Khi trực tiếp suy nghĩ về quyền lực, tri thức hay khác biệt chủng tộc, Trạch Trư nhiều lần tỏ ra khá cởi mở. Nhưng ở tầng tưởng tượng ít được phản tỉnh hơn, cấu trúc Hoa–Di đôi khi vẫn trở lại. Trung tâm thường gắn với học cung, kỹ thuật, cải cách và khả năng tự đổi mới; một số vùng ngoại vi dễ được nhận diện qua phong tục lạ, vu thuật, nghi lễ, huyết thống hay khác biệt thân thể.

Vấn đề vì vậy không nhất thiết phải đặt thành câu hỏi Trạch Trư có “phân biệt chủng tộc” hay không. Một câu hỏi hữu ích hơn là: ai được trao quyền định nghĩa cái phổ quát?

Tần Mục có thể học Đạo, Phật, ma pháp, kỹ thuật của Tạo Vật Chủ và nhiều hệ thống khác rồi tháo chúng ra, tái tổ hợp. Những nền văn hóa khác được tham gia vào cái phổ quát, nhưng quyền tổng hợp thường vẫn nằm ở trung tâm. Ngay trong những đoạn rất rộng mở về bình đẳng chúng sinh hay Phật tính, các hình thức tôn giáo ngoại vi và dị vực đôi khi vẫn dễ trở thành chất liệu của cái kỳ dị.

Đây là một mâu thuẫn đáng chú ý của tính “tập đại thành”: tác phẩm hấp thu sức mạnh của nhiều truyền thống, đồng thời cũng có thể hấp thu những phân cấp văn hóa mà chính các truyền thống ấy mang theo.

Hình thức sáng tác dài kỳ càng làm những vết nứt này dễ lộ. Một người viết hàng triệu chữ dưới áp lực cập nhật khó duy trì cùng một mức độ tự phản tỉnh ở mọi thời điểm. Khi viết theo quán tính, những mô thức văn hóa có sẵn trở thành con đường ngắn nhất. Và đôi khi chính những chỗ ít được suy nghĩ nhất lại để lộ những tiền giả định sâu nhất.

Khi cả vũ trụ trở thành bài toán

Phần sau Mục Thần Ký khiến tôi giảm dần khả năng để cảm xúc cuốn theo, mặc dù quy mô ý tưởng vẫn tiếp tục tăng.

Nếu chỉ gọi đó là sự xuống sức của một bộ truyện quá dài thì chưa đủ. Điều thú vị hơn là nhược điểm hậu kỳ dường như sinh ra từ chính nguyên tắc từng làm nên sức mạnh của tác phẩm.

Trạch Trư trung thành quá mức với logic đã đặt ra từ đầu.

Nếu một chiêu kiếm có thể nghiên cứu thì thần thông có thể nghiên cứu. Nếu thần thông có cấu tạo thì thiên đạo cũng phải có cấu tạo. Nếu thiên đạo có thể nhận thức thì sự sinh thành và hủy diệt của vũ trụ cuối cùng cũng phải trở thành một bài toán.

Mười sáu vũ trụ đã diệt và vũ trụ thứ mười bảy vì thế không đơn thuần là cách nâng cấp sân khấu. Phía sau chúng thấp thoáng những vấn đề của vật lý vũ trụ hiện đại: khởi sinh và suy biến, năng lượng, vật chất, không-thời gian, trạng thái cuối cùng và khả năng một vũ trụ tiếp nối sau sự hủy diệt của vũ trụ trước. Trạch Trư trộn những ý niệm ấy với hỗn độn, Quy Khư, thành–trụ–hoại–không và những nguồn vũ trụ luận truyền thống để dựng thành thần thoại riêng.

Con đường bắt đầu từ câu hỏi một chiêu kiếm vận hành thế nào, đi qua thuật số, phù văn, vật chất và sinh mệnh, cuối cùng dẫn tới câu hỏi cả vũ trụ vận hành thế nào. Xét về tính nhất quán, Trạch Trư lão ta gần như cứng nhắc.

Nhưng ở đây xuất hiện một nghịch lý thẩm mỹ. Trong phần đầu, thời gian làm thế giới sâu thêm. Một ngôi làng nhỏ chứa cả lịch sử. Một nhân vật già nua mở ra một thời đại. Một phát minh nhỏ thay đổi đời sống con người. Đến phần cuối, thời gian phình thành hàng tỷ năm và mười sáu vũ trụ. Quy mô tăng lên nhưng mật độ nhân sinh lại giảm xuống. Một người dân Duyên Khang chết trong hoàn cảnh ta hiểu có thể gây đau đớn hơn sự hủy diệt của cả một vũ trụ đã trở nên quá trừu tượng.

Cái “phẫn” biến mất trước tiên, bởi rất khó phẫn nộ với một định luật vũ trụ. Sau đó cái “bi” cũng giảm, bởi mô hình không có gương mặt để ta thương.

Có thể nói cơ chế từng làm Mục Thần Ký trở nên có thể cư trú, khi bị đẩy đến cực hạn, lại bắt đầu phá hủy chính khả năng cư trú ấy. Ở đầu truyện, thế giới được dùng để chứa con người. Cuối truyện, con người có lúc trở thành phương tiện để vận hành mô hình thế giới. Đó có lẽ là vết sẹo lớn nhất của cơ chế game hóa và hệ thống hóa trong tác phẩm.

Điều thú vị là kết thúc lại dừng ở giới hạn ấy. Tần Mục tiếp tục đi tìm lời giải cho bài toán cuối cùng nhưng Trạch Trư không nói hắn giải bằng cách nào.

Nếu đọc theo logic toàn tác phẩm, sự bỏ lửng này khá đẹp. Sau hàng triệu chữ khẳng định công pháp có thể sửa, thần thông có thể nghiên cứu, thiên đạo có thể nhận thức và vũ trụ có thể mô hình hóa, cuối cùng tác giả gặp một bài toán mà tri thức hiện có chưa cung cấp đáp án. Ông không cần bịa hộ khoa học tương lai, nhưng cũng không biến giới hạn tri thức hôm nay thành giới hạn vĩnh viễn của ngày mai.

Tần Mục kết thúc hành trình trong một tư thế rất Duyên Khang:

Chưa giải được thì tiếp tục nghiên cứu.

“Muốn trường sinh ư — học toán đi” đến đây hóa ra có một kết thúc khá nghiêm túc. Học đến tận vũ trụ học. Rồi phần còn lại chưa có công thức.

Một đỉnh cao không hoàn hảo

Nhìn lại, có lẽ tôi thích Mục Thần Ký không phải vì nó hoàn hảo. Nó có nhiều nhược điểm rất điển hình của văn chương mạng: quá dài, không đồng đều, nhân vật về sau bị bỏ quên, hệ thống sức mạnh lạm phát, một số thiên kiến văn hóa đáng ngờ và phần cuối mất đi khá nhiều nhiệt độ nhân sinh từng khiến phần đầu mạnh mẽ. Nhưng gọi nó là một thành tựu tập đại thành của huyền huyễn mạng cũng chính vì nó đã đẩy rất nhiều khả năng của thể loại tới mức cao.

Nó lấy kho thần thoại, Đạo giáo, Phật giáo và lịch sử Trung Quốc làm vật liệu nhưng không chỉ phục cổ. Nó lấy cơ chế thăng cấp của game nhưng dùng thăng cấp cho cả tri thức và xã hội. Nó dựng một nhân vật chính cực mạnh nhưng trong phần dài vẫn giữ được quần tượng. Nó tạo một thế giới rất lớn nhưng biết quay về những địa điểm cũ. Nó dùng khoa học hiện đại để giải thiêng thần thông mà vẫn giữ được khoái cảm huyền huyễn. Nó đưa những lý tưởng về cải cách, bình đẳng và đời sống dân chúng vào một thể loại vốn rất dễ trượt sang sùng bái sức mạnh cá nhân.

Quan trọng nhất, những vật liệu rất khác nhau ấy không nằm cạnh nhau như một kho tạp phẩm của huyền huyễn. Chúng được Trạch Trư kéo vào cùng một nguyên tắc: không có trật tự nào hoàn toàn đóng kín; mọi thứ đều có lịch sử, có thể được nhận thức và có khả năng biến đổi.

Đại Khư không chỉ là phế tích mà là lịch sử bị chôn xuống không gian. Duyên Khang không chỉ là bối cảnh mà là một xã hội đang tự cải tạo. Thần thông không chỉ dùng để chiến đấu mà trở thành tri thức có thể nghiên cứu và tiến bộ. Thiên đình không chỉ là phe phản diện mà đại diện cho một trật tự đã tự nhiên hóa quyền lực của mình. Đến cuối cùng, ngay cả vũ trụ cũng bị đặt dưới câu hỏi nó hình thành, vận hành và diệt vong như thế nào.

Đây có lẽ là điểm khiến Mục Thần Ký trở thành một tác phẩm tập đại thành đặc sắc hơn là một kho tổng hợp vật liệu thể loại. Trạch Trư không chỉ lấy rất nhiều thứ vào truyện; ông đặt chúng vào một thế giới quan của biến đổi.

Nhưng chính nguyên tắc ấy cũng tạo ra giới hạn của tác phẩm. Khi lịch sử còn mang gương mặt con người, nó tạo ra Duyên Khang và những đoạn văn có thể khiến người đọc rơi lệ. Khi biến đổi được đẩy đến quy mô mười sáu vũ trụ, lịch sử dần trở thành vũ trụ học, con người nhường chỗ cho mô hình và sức mạnh cảm xúc suy giảm. Thành công và thất bại hậu kỳ vì thế không hoàn toàn tách rời nhau: chúng mọc ra từ cùng một tham vọng muốn biến mọi tồn tại thành thứ có thể hiểu, tháo ra và làm lại.

Nhìn từ đó, hình thức truyện mạng dài kỳ không còn chỉ là điều kiện xuất bản bên ngoài. Nó tương ứng một cách kỳ lạ với chính thế giới quan của tác phẩm. Trạch Trư viết một thế giới luôn đang trở thành cái khác, còn người đọc tiếp nhận thế giới ấy khi bản thân tác phẩm cũng chưa ngừng trở thành. Ở đây thời gian truy đọc mới thực sự tham gia vào kinh nghiệm thẩm mỹ.

Một cái kết yếu có thể khiến tôi đánh giá lại toàn thể Mục Thần Ký. Những đoạn kéo dài, sự suy giảm sức mạnh nhân sinh ở phần sau hay các thiên kiến văn hóa vẫn là những khuyết điểm thật. Nhưng đánh giá tác phẩm sau khi hoàn tất và kinh nghiệm từng sống cùng nó khi nó còn đang hình thành không hoàn toàn trùng nhau.

Tôi từng chờ chương mới, từng bật cười với những con người ở Tàn Lão Thôn, từng bị cuốn vào Duyên Khang biến pháp, từng thấy những tri thức trong sách giáo khoa bỗng biến thành bí quyết để con người thách thức thần linh, và từng nhìn một xã hội nhỏ bé đứng trước một trật tự tưởng như vĩnh hằng.

Những kinh nghiệm ấy đã xảy ra.

Có lẽ vì vậy một tác phẩm không hoàn hảo vẫn có thể trở thành, đối với một người đọc, đỉnh cao của một thể loại. Và từ trường hợp ấy, mỹ học tiếp nhận văn chương mạng còn để lại một câu hỏi mà tôi thấy đáng suy nghĩ:

Phần đời sống tinh thần được hình thành trong những năm người đọc sống cùng một tác phẩm đang viết có còn thuộc về tác phẩm ấy hay không, khi văn bản cuối cùng đã hoàn tất?


Ghi chú: Bài viết được hình thành từ kinh nghiệm đọc cá nhân, trao đổi và phản biện nhiều lượt với AI, sau đó đối chiếu với một số nghiên cứu và bình luận đã có về văn học mạng Trung Quốc và Mục Thần Ký. Các cách gọi như “đọc xuyên qua câu chữ”, “ký ức đồng hành” và “khả năng cư trú” được sử dụng như những công cụ diễn đạt cho kinh nghiệm đọc trong bài, không nhằm tuyên bố quyền ưu tiên học thuật.

 

Không có nhận xét nào: