Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

Hình thức phim (tiếp)

Khái niệm hình thức phim:

- Hình thức là một hệ thống đặc thù của các mối quan hệ mang tính khuôn mẫu mà chúng ta nhận thấy trong tác phẩm nghệ thuật.
- Kinh nghiệm của chúng ta về tác phẩm nghệ thuật cũng rất cụ thể. Lựa chọn những gợi ý trong những tác phẩm, chúng ta tạo ra những mong đợi đặc trưng, những mong đợi này có thể nổi lên, hướng dẫn, trì hoãn, sai lầm, thỏa mãn hay xáo trộn. Chúng ta phải trải qua những tâm trạng hiếu kỳ, hồi hộp chờ đợi và ngạc nhiên. Chúng ta so sánh những mặt đặc thù của tác phẩm nghệ thuật với các quy ước chung mà chúng ta được biết từ cuộc sống và nghệ thuật. Bối cảnh cụ thể của tác phẩm nghệ thuật biểu hiện và khơi dậy cảm xúc và làm cho ta có thể tạo dựng một số dạng ý nghĩa khác nhau. Và thậm chí khi chúng ta áp dụng tiêu chí chung để đánh giá tác phẩm nghệ thuật, chúng ta nên sử dụng những tiêu chí giúp chúng ta phân biệt rõ hơn, và hiểu sâu hơn nữa về các mặt đặc thù của tác phẩm nghệ thuật.

(Phim tự sự như một hệ thống hình thức)
Nguyên tắc cấu trúc phim tự sự:

- Bao quanh chúng ta là những câu chuyện.
- Thậm chí khi yêu cầu giải thích một điều gì đó ta có thể nói "Có chuyện gì vậy?"
- Ngay cả khi mơ, ta thường trải qua giấc mơ như các câu chuyện ngắn, và ta thường nhớ và kể lại những giấc mơ dưới dạng các câu chuyện.
- Tự sự chính là một phương thức căn bản để con người hiểu thế giới.

- Khán giả luôn tiếp cận với một bộ phim tự sự với một sự mong chờ nhất định:
+ Ta giả sử rằng sẽ có một số nhân vật và một số hành động có thể làm cho nhân vật đó liên quan đến nhân vật và hành động khác.
+ Ta chờ đợi một loạt các biến cố mà chúng có thể gắn kết với nhau theo một cách nào đó.
+ Ta cũng có thể chờ đợi rằng các vấn đề hay các xung đột trong quá trình hành động sẽ đạt được trạng thái cuối cùng - hoặc chúng được giải quyết, hoặc ít nhất một tia sáng mới sẽ rọi vào chúng. Khán giả sẵn sàng để hiểu được một phim tự sự.

Thế nào là tự sự?

- Tự sự là một chuỗi những sự kiện trong một mối liên hệ nhân quả xảy ra trong không gian và thời gian.
- Một tự sự thường bắt đầu với một hoàn cảnh: một loạt các biến đổi xảy ra theo mô hình nguyên nhân và kết quả; cuối cùng một hoản cảnh mới lại nổi lên dẫn tới kết cục của tự sự.

Cốt truyện/kịch bản và câu chuyện (Plot and Story)

- Ta hiểu tự sự bằng cách xác định các sự kiện và liên kết chúng bằng nguyên nhân và kết quả, thời gian và không gian.
- Ta thường giả thiết và phán đoán về các sự kiện trong một tự sự.
- Một tổ hợp của tất cả các sự kiện trong một tự sự, cả những sự kiện được biểu hiện ra bên ngoài và những sự kiện mà người xem phán đoán đều tạo nên câu chuyện.
- Toàn bộ thế giới của hành động trong chuyện đôi khi gọi là ranh giới chuyện kể (diegesis - từ Hy Lạp có nghĩa là thuật lại câu chuyện).
- Thuật ngữ cốt truyện được sử dụng để mô tả bất cứ sự hiện diện một cách có thể nhìn thấy hoặc nghe thấy trên phim trước chúng ta:
+ Thứ nhất, tất cả các sự kiện của câu chuyện được mô tả trực tiếp.
+ Thứ hai, cốt truyện của phim có thể bao hàm các tư liệu nằm ngoài thế giới câu chuyện: danh sách người tham gia, tiếng nhạc...Những yếu tố không phải là ranh giới truyện kể, bởi chúng được mang tới từ bên ngoài thế giới câu chuyện. (Các nhân vật không thể đọc danh sách hay nghe bản nhạc đó)

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

Lược ghi từ Phân tâm học và Tình yêu (hết)

- Điều kiện chủ yếu để tựu thành tình yêu là vượt qua óc tự tôn. Đối cực của óc tự tôn là khách quan tính; đó là khả năng nhìn mọi người và mọi vật được xem xét nó như là nó, một cách khách quan, và có thể phân tách khuôn hình khách quan này khỏi khuôn hình do ham muốn và sợ hãi tạo ra.

- Cái khả năng để suy tưởng một cách khách quan là lý tính; thái độ cảm xúc đằng sau lý tính là thái độ khiêm tốn. Chỉ khi nào ta thành tựu thái độ khiêm tốn, chỉ khi nào ta vươn ra khỏi những giấc mộng toàn trí và toàn năng ta có như một đứa trẻ, ta mới khách quan được, mới sử dụng được lý tính của mình.

- Khả năng yêu thương dựa trên năng tính theo đó, ta vươn ra khỏi óc tự tôn; (...) năng tính khai triển một chiều hướng phong phú trong mối quan hệ của chúng ta nhắm vào thế giới và chính mình. Tiến trình thoát vượt, sinh thành, tỉnh thức này đòi hỏi một phẩm cách coi như là điều kiện tất yếu: đức tin.

- Ta cần phân biệt tin hữu lý và tin phi lý. Tin phi lý là đức tin y cứ trên sự phục tùng của mình đối với thẩm quyền phi lý. Trái lạ, đức tin hữu lý là một xác tín bắt rễ trong chiính kinh nghiệm suy tư và cảm thức của mình. Đức tin hữu lý thực ra không phải là niềm tin ở một cái gì đó, nhưng là phẩm cách xác thực và xác quyết mà những xác tín của chúng ta có. Tin là một nét đặc trưng thấm nhuần toàn thể nhân cách, chứ không phải là một niềm tin riêng biệt.

- Đức tin hữu lý bắt rễ trong hoạt động trí năng và xúc cảm phong phú.

- Chúng ta có đức tin ở chính mình. Chúng ta ý thức về hiện hữu của một bản ngã, của một tâm điểm trong nhân cách chúng ta, nó bất biến và tồn tại suốt cả đời sống chúng ta dù có những biến đổi nào đó trong quan điểm và cảm thức. Chính tâm điểm ấy là thực tại đằng sau thế giới "Cái Tôi", và sự xác tín của chúng ta về đồng nhất tính của chính ta được đặt trên đó.

- Chỉ kẻ nào tin ở chính mình mới thành thực với những kẻ khác. Tin ở chính mình là điều kiện để ta có thể hứa hẹn, và vì, như Nietzsche đã nói, con người có thể xác định bằng khả năng hứa hẹn của nó, đức tin là một trong những điều kiện hiện hữu của con người.

- Có đức tin cần phải có dũng cảm, cái khả năng nhận lãnh mộ hiểm nghèo, sự sẵn sàng chấp nhận cả đến đau khổ và thất vọng. Ai mà chú trọng trên sự an toàn và bảo đảm, coi như là điều kiện chủ yếu của đời sống thì không thể có đức tin; ai mà khép trong một hệ thống bảo thủ, ở đó sự lánh xa và chiếm hữu là phương tiện cầu an của mình, thì kẻ đó biến mình thành một tù nhân.

- Tích cực trong tư tưởng, cảm thức, với đôi mắt và đôi tai của mình, trọn cả ngày, tránh sự biếng nhác bên trong, tích cực trong hình thức tiếp nhận, tàng trữ, hay tiêu phí sòng phẳng thời gian của mình, là một điều kiện bất ly cho sự thực hành của nghệ thuật về tình yêu.

- Không có sự ''phân công'' giữa tình yêu đối với chính mình và đối với những kẻ lạ.

- Tin ở khả tính của tình yêu, xét như một hiện tượng xã hội chứ không chỉ như một hiện tượng cá biệt ngoại lệ, là một đức tin hữu lý dựa trên cái nhìn nhắm vào bản chất đích thực của con người.

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Tội mây viễn xứ, tội gió giang hà

Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
Long lanh giọt nước tình duyên
...Nơi đó sau này thành sông thành biển
Ai đã chèo thuyền vào cõi vô biên.

Ở chỗ mà hương thơm của làn hơi thở
Làm nở bừng tất cả những bông hoa
Chiều nay là mây viễn xứ
Một mai là gió giang hà.

Ở chỗ mà chiếc chìa khóa vàng
Rơi từ đỉnh tháp xuống mù tăm
Tôi một mình cúi xuống
Từ vực sâu lời gọi âm thầm.

Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
Long lanh giọt nước tình duyên
Nơi này thành sông thành biển...

Nơi này anh đã yêu em.


(Dạo khúc 27 - Nguyễn Quang Tấn)

Nếu thơ mà có thể tóm tắt thì bài thơ này chỉ cần tóm tắt bằng 2 câu mở đầu và kết thúc: Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình; nơi này anh đã yêu em. Thấy ngay là ĐÃ có một tình yêu tan vỡ, bài thơ về một nội tâm ĐANG trong di âm tan vỡ của một tình yêu. Nhưng thơ là để bày tỏ những chỗ tinh tế mơ hồ của tình cảm, vượt lên trên hình thức của bề ngoài ngôn ngữ. Là để khơi dẫn đến những chỗ không thể nghĩ bàn; có đồng điệu hay không mà thôi.

Tổng thể bài thơ là một thứ nhịp điệu man mác, khoáng đạt mà dìu dặt của âm điệu và hình ảnh tương đồng. Một phong thái đã từng tiêu sái đang trầm sa trong di âm của dang dở. Thứ tình cảm chỉ đàn ông mới có, chỉ đàn ông mới hiểu thấm thía.

Hình tượng hai người buông tay rơi vỡ chiếc bình là một ẩn dụ đẹp về sự rời xa nhau của đôi lứa trong một tình yêu không thành. Tình yêu đã không còn giữ được hình hài mà cả hai cùng kì vọng và vun đắp. Nhưng sự tan vỡ đấy vốn không phải vì những điều rõ ràng, cụ thể. Cũng như khi chiếc bình tan vỡ thì không phải cái còn lại là những mảnh vỡ, mà là những giọt nước long lanh của tình duyên, như hương như mật xưa, bây giờ thành khói sương về đâu. Một giấc mộng đẹp tan rã hình hài sẽ không mất đi mà chuyển di vào vô vàn giấc mộng khác. Sau khi khởi đi từ câu thơ đầu thì từ đó tất cả là những mộng cảnh ước lệ để ẩn dụ về tâm tình của người_đang_biết_kể_lể_cùng_ai.

Em có định sẽ cùng ai kể lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao
Vừng hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ
Một mùi hương nồng tụ ở nơi nào
Câu chuyện ấy một lần em đã rõ
Để bây giờ không thể lại phanh phơi


Tưởng như ngay tại khoảnh khắc chiếc bình tan vỡ đó, trên kẽ tay vương lại giọt nước long lanh của tình duyên đang nhòa đi; thì lúc đó trong thăm thẳm cõi linh hồn cũng vọng ra tiếng tách mơ hồ của một vũ trụ tinh thần mà pháp tắc bắt đầu suy biến. Sông biển biến dời...

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Không chắc ai là người cô đơn hơn giữa hai kẻ đó; người chèo thuyền vào cõi vô biên, hay kẻ đứng đó, mắc kẹt giữa một thời-không vĩnh cửu rõi mắt theo: Ở_Chỗ chiếc bình tan vỡ, Ở_Lúc nhập vào một cõi linh hồn điêu đứng, ngại ngùng. Lúc đó là ngay tại thời điểm đó, mà cũng là vô cùng vô tận tháng năm sau trong bề chiều của ngộ nhận và xa lìa tinh thần. Cái nỗi lòng của kẻ_tự_mình ngay lập tức và vô điều kiện, ươm nỗi đau mơ hồ ấy bằng một thời gian vĩnh hằng: Nơi ấy SAU NÀY thành sông thành biển; ai ĐÃ chèo thuyền vào cõi vô biên. Cũng vội vàng và bất lực như khép kẽ tay có giữ được giọt nước rơi. Luống cuống vội vàng thất thố là để cánh hoa có rơi cũng còn dáng vẻ. Để những kỷ niệm được chập chờn trong êm đềm của ngộ nhận mà không thành chao chát đắng cay.

Màu phương cảo pha mờ trên nét ngọc
Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai


Từ đó nói không gian là để tưởng niệm thời gian đã qua. Tả thời gian là để vọng tưởng xa cách vô cùng của không gian đôi lứa.

Ở chỗ mà hương thơm của làn hơi thở
Làm nở bừng tất cả những bông hoa
Chiều nay là mây viễn xứ
Một mai là gió giang hà.

Tình yêu hương mật tựa khói sương đã tan. Gió không hình tướng, mây tụ mây tan vô thường. Ở chỗ là một vũ trụ lứa đôi của hơi thở kề mắt môi, nơi mà TẤT CẢ những bông hoa đều nở bừng, cũng đã từ thuở đó dự cảm đến một mai phiêu bạt. Cội nguồn có lẽ cũng không phải vì những điều cụ thể, mà chỉ vì như gió như mây, cõi tinh thần này không_phải_theo_lối_như_thế mà nắm bắt thôi. Cũng như thể tưởng chừng cùng nhau leo vạn bậc thang trời lên đỉnh tháp, cách một lần khung cửa là tới cõi khung trời mộng tưởng; chiếc chìa khóa vàng vì đâu buông bỏ, ai người một mình nấn ná trông ngóng lời gọi mời của vực sâu cho thêm một lần nữa cố gắng. Có cách nào cố được đâu. Biết vậy mà không đành lòng.

Sau tất cả, dừng ở đó là vừa độ, như  chạm nhẹ vào bông hoa. Dầu gì, nơi này anh đã yêu em

Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc
Mây trên trời xuống phủ ở trên vai
Màu phương cảo pha mờ trên nét ngọc
Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai.
Em có định sẽ cùng ai kể lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao
Vừng hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ
Một mùi hương nồng tụ ở nơi nào
Câu chuyện ấy một lần em đã rõ
Để bây giờ không thể lại phanh phơi
Đường đi xuống khung trời sương lổ đổ
Hờn dung nhan em có sợ bên người?
Con mắt ấy vì sao em khép lại
Làn mi kia em thử ghé lên nhìn
Vòng tay đẹp như cành xuân thơ dại
Ngón la đà sao chẳng chịu đưa tin
Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc
Lùa chân mây về ở dưới chân trời
Bước vội vã một lần nghe gót ngọc
Giẫm trang đời lá rụng uá thu phai.


(Một buổi trưa - Bùi Giáng)

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

Lược ghi từ Phân tâm học và tình yêu (tiếp)

- Được tập trung trong tương quan với những kẻ khác chính yếu có nghĩa là có thể nghe. Hầu hết người ta nghe theo những kẻ khác, hay còn đưa ra cả khuyến dụ nữa, nhưng không đang nghe thực sự. Họ không nói chuyện nghiêm chỉnh với kẻ khác, họ cũng không trả lời nghiêm chỉnh. Do đó câu chuyện làm cho họ mệt mỏi.
- Bất cứ một hoạt động nào, nếu được thực hiện trong một tư thái tập trung, khiến người ta tỉnh táo hơn, dù sau đó thường có sự mệt mỏi tự nhiên nhưng thoải mái, trong khi mọi hoạt động tán tâm khiến người ta buồn ngủ - và đồng thời nó cũng làm cho người ta khó ngủ vào lúc chấm dứt một ngày.
- Được tập trung có nghĩa là sống trọn vẹn trong hiện tại, trong cái bây giờ và ở đây, và không suy nghĩ về sự thể sắp được thực hiện, trong khi tôi đang làm một điều gì chân chính lúc bấy giờ (...) Điều gì mà người lớn chẳng hoàn thành được nếu người ta có sự kiên nhẫn của đứa bé và sự tập trung của nó trong những mục đích quan trọng đối với mình!
- Người ta không thể học cách tập trung mà không tự cảm. (Giống khi người lái xe cảm nhận tình trạng chiếc xe đang lái của mình; giống bà mẹ đối với đứa con của bà: bà đang đảm nhận tất cả những biểu lộ về sự sống của trẻ; bà không lo lắng hay buồn phiền, mà trong một trạng thái quân bình cảnh giác, bà nhận bất cứ một cảm thông có ý nghĩa nào nảy ra từ con trẻ.). Người ta xúc cảm về chính mình cũng như thế. Điều quan trọng là ý thức về chúng (cảm giác tiêu cực), chứ không phải lý sự chúng theo hàng nghìn lối.
- Người bình thường có một xúc cảm về diễn tiến thân xác của mình. Nhưng khi hướng đến diễn tiến của tâm lý thì khó khăn hơn. Có nhiều người chưa từng thấy một kẻ yêu thương, hoặc một kẻ có đức liêm khiết, dũng cảm, hay sự tập trung.  Để có xúc cảm về chính mình, người ta phải có một hình ảnh về hoạt động toàn vẹn, đầy chất người - và làm thế nào để một người thâu nhận được một cảm nghiệm như thế nếu người ta đã không có nó từ tuổi ấu thơ của mình, hay về sau này trong đời sống?

Vấn đề nền giáo dục của chúng ta:
- Trong khi giảng dạy kiến thức, chúng ta đang đánh mất cái điều giảng dạy quan trọng đối với các sự phát triển của con người, cái điều giảng dạy chỉ có thể thi hành được do một người trưởng thành, hay yêu thương.
- Trong thời trước, con người có giá trị cao nhất là những kẻ có phẩm cách tinh thần lỗi lạc. Ông thầy không những là, mà còn chính là, một nguồn suối truyền thông; nhiệm vụ của ông là truyền trao những thái độ nào đó của con người.
- Nếu chúng ta mà không thể giữ nổi tính cách sống động của một quan điểm về đời sống trưởng thành thì quả thực chúng ta phải đứng trước điều có thể xảy ra là toàn thể truyền thống văn hóa của chúng ta sẽ sụp đổ.

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

Lược ghi từ Phân tâm học và tình yêu

- Yêu thương là một kinh nghiệm riêng tư mà mỗi người chỉ có thể có bởi và cho chính mình.
- Sự thực hành của bất cứ một nghệ thuật nào đều có một vài nhu yếu tổng quát, bất kể dù là chúng ta bàn đến nghệ thuật đồ gỗ, y dược, hay nghệ thuật về tình yêu.
- Trước hết, sự thực hành của nghệ thuật đòi hỏi KỶ LUẬT. Tôi sẽ không bao giờ giỏi về một thứ gì cả nếu tôi không thực hiện điều đó trong một đường lối có quy củ; bất cứ điều gì mà tôi chỉ làm vì cái ý dục của tôi có thể là một sự đắc ý thích thú hay thưởng ngoạn, nhưng tôi sẽ không bao giờ trở thành một tay lão luyện về nghệ thuật ấy. Nhưng vấn đề không phải là vấn đề kỷ luật trong sự thực hành nghệ thuật chuyên biệt mà là vấn đề kỷ luật trong sự sống toàn diện của mình.
Sự thực là con người ngày nay, bên ngoài lĩnh vực làm việc, thì việc ghép mình vào quy củ quá ít. Khi người ta không làm việc, người ta cần được ''ngồi lê ở rỗi'' một cách biếng nhác, nói cho dễ nghe hơn là muốn buông trôi.
- SỰ TẬP TRUNG là một điều kiện tất yếu để tinh thông một nghệ thuật.
Trái lại nền văn hóa chúng ta dẫn đến một cách sống phân tâm và li tán. Bạn làm nhiều việc ngay một lúc; bạn đọc sách, nghe truyền thanh, nói chuyện, hút thuốc, ăn uống. Bạn là kẻ tiêu thụ với lỗ miệng há rộng, hăng hái và sẵn sàng nuốt chửng mọi thứ - tranh ảnh, rượu trà, kiến thức. Sự thiếu sót về tập trung này được thấy rõ trong khó khăn của chúng ta khi chúng ta ở một mình. Ngồi yên lặng, không nói chuyện, hút thuốc, đọc, uống rượu, là điều không thể được đối với hầu hết mọi người. Họ trở thành bứt rứt khó chịu, và chắc chắn phải làm một việc gì với lỗ miệng hay đôi tay của họ. (Hút thuốc là một trong những triệu chứng thiếu tập trung ấy; nó làm bận đến tay, miệng, mắt và mũi).
- Yếu tố thứ ba là KIÊN NHẪN. Nếu người ta vội vã với những kết quả, người ta không bao giờ học hỏi một nghệ thuật. Đối với con người hiện đại, kiên nhẫn cũng khó thực hành như kỷ luật và tập trung. Toàn thể hệ thống kỹ nghệ của chúng ta dung dưỡng điều ngược lại: sự nhanh chóng. Dĩ nhiên có những lý do kinh tế quan trọng đối với điều này. Nhưng như trong rất nhiều khía cạnh khác, những giá trị nhân bản đã trở nên hạn định bởi những giá trị kinh tế. Điều gì tốt đối với máy móc chắc chắn là tốt đối với con người - luận lý cứ thế mà diễn tiến. Con người hiện đại nghĩ là mình đánh mất điều gì đó - thời gian - khi nó không làm các sự việc mau chóng; nhưng nó không biết phải làm gì với thời gian.
- Sau hết, điều kiện để học hỏi một nghệ thuật là mối QUAN TÂM RẤT MỰC với việc tinh thông về một nghệ thuật. Nếu nghệ thuật là cái gì không có tầm quan trọng rất mực, người học sẽ không bao giờ học nó. Cùng lắm người ta sẽ là một tài tử giỏi nhưng sẽ không bao giờ là một bậc thầy.
- Ta phải kể thêm một điểm nữa đối với những điều kiện tổng quát để học hỏi một nghệ thuật. Người ta KHÔNG bắt đầu học hỏi trực tiếp một nghệ thuật, mà GẦN NHƯ LÀ GIÁN TIẾP. Người ta phải học hỏi một số lớn những cái khác - và hình như những cái không thích ý - trước khi khởi sự với chính nghệ thuật ấy. Một người học về thợ gỗ bắt đầu bằng cách bào chuốt gỗ; người học nghệ thuật chơi dương cầm bắt đầu bằng thực hành những âm giai; một người học về nghệ thuật bắn cung trong thiền tông bắt đầu bằng những thực tập hơi thở. Nếu người ta muốn trở thành một tay lão luyện trong bất cứ một nghệ thuật nào, toàn bộ đời sống của mình phải được cống hiến cho nó, hay ít ra có liên hệ với nó. Nhân cách riêng của chính mình trở thành một trang bị trong sự thực hành về nghệ thuật, và phải được giữ cho thích ứng, phù hợp với những nhiệm vụ đặc biệt mà nó phải làm tròn.
- Để trở thành một tay lão luyện trong nghệ thuật đều phải bắt đầu bằng cách THỰC HÀNH kỷ luật, tập trung và kiên nhẫn suốt trong mọi giai đoạn của đời sống mình.
Người ta thực hành kỷ luật như thế nào?
- Thức giấc vào một giờ khắc đều đặn, để dành một số giờ đều đặn suốt ngày cho những hoạt động như suy tư, đọc sách, nghe nhạc, đi dạo; không phóng túng, ít ra không vượt ngoài một mức độ tối thiểu nào đó, trong những hoạt động lẩn tránh như những mẩu chuyện huyền bí và điện ảnh, không ăn uống quá độ là một vài quy luật hiển nhiên và sơ đẳng.
Tuy nhiên, điều chính yếu là không nên thực hành kỷ luật giống như một quy luật đều đặn trên chính mình từ bên ngoài, mà là, nó trở thành một biểu lộ của ý chí riêng mình: nó được cảm thức như là xứng ý, và dần dần người ta làm quen với một lối cư xử mà cuối cùng người ta sẽ đánh mất nếu không thực hành nó nữa. Đông Phương từ lâu đã nhận ra rằng cái tốt đối với con người - đối với thân xác và thể phách của nó - cũng phải dễ chịu, ngay dù từ khởi đầu người ta phải vượt qua một vài đề kháng nào đó.
Sự tập trung lại càng rất khó thực hành hơn trong nền văn hóa chúng ta.
- Bước quan trọng nhất trong việc học hỏi sự tập trung là PHẢI HỌC SỐNG ĐƠN ĐỘC VỚI CHÍNH MÌNH mà không đọc sách, không nghe truyền thanh, hút thuốc hay uống rượu. Thực vậy, có thể tập trung có nghĩa là có thể sống đơn độc với chính mình - và năng tính này rõ ràng là một điều kiện cho năng tính yêu thương. Nếu tôi quyến luyến một người khác bởi vì tôi không thể đứng bằng đôi chân của chính tôi, người ấy có thể là một cứu tinh sự sống, nhưng mối quan hệ không phải là một quan hệ của tình yêu.
Nói ngược lại, năng tính sống một mình là điều kiện cho năng tính yêu thương. Ai cố gắng sống đơn độc với chính mình sẽ thấy rõ là khó khăn như thế nào. Người ấy sẽ bắt đầu cảm thấy xốn xang không yên, hay cảm giác cả đến mối ưu tư quan trọng. Người ấy sẽ hay cố tình biện lý việc mình không thích tiếp tục sự thực hành này bằng cách nghĩ rằng nó không có giá trị, nó thực là hồ đồ, rằng nó chiếm quá nhiều thì giờ...Người ấy cũng sẽ nhận định rằng mọi thứ tư tưởng xảy ra trong tâm trí mình đều thuộc sở hữu của mình. Người ấy sẽ tự tìm cách suy nghĩ về những kế hoạch cho ngày sắp tới, hay về khó khăn nào đó trong công việc mà mình phải làm, hay ngày mai sẽ đi đâu, hay về một số sự việc nào đó sẽ làm đầy tâm trí mình - hơn là để cho nó tự trống không. (lược 1 đoạn về thiền định)
Ngoài những thực tập như thế, người ta phải học tập trung trong mọi sự việc mà mình làm, khi nghe nhạc, khi đọc một quyển sách, khi nói chuyện với một người, khi nhìn một phong cảnh. Hoạt động ngay lúc này phải là một sự việc duy nhất có quan hệ mà người ta hoàn toàn để tâm vào. Nếu người ta được tập trung, nó ít hệ trọng đến cái gì mà người ta đang làm; những sự thể quan trọng, cũng như những sự thể không quan trọng, đều giả định một chiều kích mới của thực tại, bởi vì chúng có sự chuyên nhất toàn vẹn của người ta.
Học hỏi về sự tập trung đòi hỏi xa lánh, nếu như có thể, những luận đàm phù phiếm, nghĩa là sự luận đàm không thực chất. Nếu hai người nói chuyện về sự sinh trưởng của một cái cây mà cả hai đều hiểu biết, hoặc về mùi vị của bánh mì, mà họ đã cùng ăn, hoặc về một kinh nghiệm chung trong công việc của họ, luận đàm như thế có thể là hào hứng, nếu như họ kinh nghiệm về cái mà họ đang đàm luận, và không đề cập đến nó trong một đường lối trừu tượng hóa; đằng khác, một luận đàm có thể đề cập đến những chủ đề chính trị hay tôn giáo, nhưng lại là phù phiếm; điều này xảy ra khi hai người nói theo sáo ngữ, khi trái tim họ không ở trong điều mà họ đang nói.
Tôi phải nói thêm ở đây rằng, cũng như điều quan trọng là xa lánh sự luận đàm phù phiếm, điều quan trọng là xa lánh bạn xấu. Với bạn xấu, tôi không chỉ nói đến những người có thói xấu hay tác hại; người ta phải xa lánh bạn bè của họ vì ở con mắt của họ có chất độc và hay áp chế.
Tôi cũng nói đến bằng hữu sống dở, những người mà tâm hồn họ đã chết, mặc dù thể xác của họ đang sống; những người mà những tư tưởng và luận đàm của họ đều phù phiếm; những người bàn suông thay vì thảo luận, và những người thừa nhận những ý kiến nhai lại thay vì suy tư.

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

Hình thức phim

Bình giải là một trong các thao tác thưởng thức nghệ thuật cơ bản. Thực ra thưởng ngoạn thì vừa có phép vừa vô chừng. Tuy nhiên khi nghiệm lại, mình thấy mình bị ảnh hưởng của cách tiếp cận khuôn mẫu và cấu trúc. Lược ghi lại mấy ý chính hồi đọc về Nghệ thuật điện ảnh (David Bordwell&Kristin Thompson):
 
- Trong kinh nghiệm của ta một tác phẩm nghệ thuật luôn có khuôn mẫu và cấu trúc. Trí tuệ con người luôn khao khát hình thức.
- Hình thức là một hệ thống.
- Nhận thức, trong mọi giai đoạn của cuộc sống, là một hoạt động. Dường như tác phẩm nghệ thuật gợi cho ta thực hiện những hoạt động đặc thù. Thiếu sự gợi cảm hứng của tác phẩm nghệ thuật, chúng ta không thể bắt đầu hay tiếp tục hoạt động đó. Nói chung, bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào cũng đều trình diễn những gợi ý có thể khơi dậy một hoạt động đặc thù từ người nhận thức. Mỗi tác phẩm có một hình thức. Qua hình thức trong cách hiểu rộng nhất của nó, nghĩa là một hệ thống tổng thể các mối quan hệ mà ta nhận thức được giữa các yếu tố thành phần, ta có thể hiểu được tác phẩm.
- Mọi người thường cho rằng "hình thức" là một khái niệm đối nghĩa  với "nội dung". Giả thiết này ám chỉ rằng tác phẩm như là một cái bình. Bên trong nó chứa những thứ mà có thể dễ dàng nắm giữ theo lượng như một chiếc ly hay chiếc cốc. Chúng tôi không chấp nhận giả thiết này. Nếu hình thức là một hệ thống tổng thể mà khán giả tham gia vào bộ phim thì không có cái bên trong hay bên ngoài. Mọi yếu tố đều có chức năng như là một phần của toàn bộ khuôn mẫu mà người xem nhận thức.
Đề xuất những tiêu chí để đánh giá phim như một chỉnh thể nghệ thuật:
- Tính chặt chẽ
- Cảm xúc mạnh mẽ
- Sự phức hợp
- Tính độc đáo: độc đáo cho chính mục đích của riêng mình thì tất nhiên là chẳng có nghĩa gì. Không phải điều gì khác biệt cũng có nghĩa là tốt. Nhưng nếu một nghệ sỹ nhập vai theo quy ước quen thuộc và sử dụng chúng theo cách sáng tạo, làm cho nó sinh động hơn hay tạo ra những khả năng hình thức mới, như có thể được xem là rất tốt từ quan điểm thẩm mỹ.
Các nguyên tắc của hình thức phim:
- Chức năng: Nếu hình thức là một tổng thể mối tương quan giữa các hệ thống những yếu tố khác nhau, mỗi một yếu tố trong toàn bộ tổng thể này có một hay nhiều chức năng. Cân nhắc động cơ thúc đẩy của yếu tố.
- Tương đồng và lặp lại - mô típ: tạo ra và thỏa mãn những mong đợi hình thức.
- Khác biệt và biến dị
- Sự phát triển: nguyên tắc tiến trình
- Sự thống nhất và không thống nhất: Sự không đồng nhất nhất thời góp phần vào việc mở rộng các nguyên mẫu và ý nghĩa chủ đề.
(Nghệ thuật điện ảnh, Ý nghĩa của hình thức)

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2020

Ghi chép nhân đọc Mật ngữ Thủy Hử

- Thủy Hử và Trung Nguyên là cặp đối lập. Thủy Hử là cái bến nước, theo nghĩa đen là địa thế của Lương Sơn Bạc. Nhưng theo tính biểu trưng của tâm tính Trung Nguyên, nơi rìa xa nhất của đất liền cũng là nơi biên lề của vương pháp. Phàm ở ngoài vương pháp thì là theo một luân lý khác, trật tự khác mà cách nhìn từ phía vương quyền thì là loại trật tự vô pháp vô thiên. Nhưng không, dưới bề ngoài đạo tặc vô pháp lại là những chuyện tranh giành quyền lực rất tinh vi. Ở đây nên thấy Thủy Hử là một loại hình chiếu ảnh của cơ cấu Trung Nguyên - như mặt phải với mặt trái. Tuy hai mà một, tuy rất xa mà rất gần. Chính Kim Thánh Thán chỉ ra ý này nhưng lại không nhận ra mô tuýp cung đấu, quan trường của Thủy Hử mới là sợi dây chính của tiểu thuyết. Bề ngoài, truyện Thủy Hử là truyện ở rất xa địa giới vương pháp. Bề sâu, chính là cái bóng của cung đấu rọi xuống đấy thôi. Tô Như tử trỏ ra rằng ngay phần Tiết tử của Thủy hử truyện đã dùng bài thơ "Họa Giả xá nhân Tảo triều Đại Minh cung" của Vương Duy đời Đường, dẫn vào cảnh lên triều sớm đầu truyện, để ám chỉ câu truyện này lấy cung đấu Đại Minh làm bối cảnh, chủ đề sâu xa ẩn giấu.

- Theo Tô Như dẫn trong sách mà không chỉ rõ nguồn (*), Thi Nại Am thân với bộ tướng của Trương Sĩ Thành, sau theo làm quân sư cho Trần Hữu Lượng cho đến khi Lượng giết chủ tướng Từ Thọ Huy xưng vương mới thất vọng bỏ đi. Theo nguồn khác thì thậm chí Thi Nại Am đỗ đạt và từng làm quan trong triều Nguyên. Vậy có thể đặt sự quan tâm vào việc tâm chí, thái độ của Thi Nại Am về TRUNG NGHĨA trong cuộc đời ông? Ông từng trung với nhà Nguyên rồi bỏ đi. Ông đi tìm minh chủ đề thờ nhưng không đặt được lòng trung vào bất cứ ông vua nào từ Trương Sĩ Thành, Trần Hữu Lượng hay Chu Nguyên Chương. Thủy hử truyện mở đầu đến cuối đều có ý Trung Nghĩa là một ý tứ rất hay để tìm tòi thêm. Nhưng Tô Như tử chỉ thấy mới bàn Trung Nghĩa Đường là ám chỉ Trung Nghĩa Sảnh của triều đình mà thôi.

- Ngay từ khởi đầu, Kim Thánh Thán cũng đặt ra câu hỏi về mục đích nghệ thuật chủ yếu của Thi Nại Am khi viết Thủy Hử. Ông cũng dùng cái ý "Thủy Hử, tức là ghét bỏ một cách quá quẫn và không cho là cùng ở với Trung Quốc vậy". Ghét là ghét chung cả bọn Thủy Hử, nhưng chỉ nói chí của Thi Nại Am đến chỗ thấy bọn Thủy Hử sao mà sống sót được nổi với búa rìu triều nhà Tống mà "lấy thế làm lo, trong ý hình như cho là 108 người đó, tuy tránh được cái họa chém giết lúc sinh thời, nhưng cũng không thể nào tránh được cái tội phóng trục sau khi đã chết."(1). Ông cố tìm cách biện minh cho thể loại và chủ đề của truyện bằng cái lý phân biệt giữa hình tích và thần lý, cố đi tìm cái thần lý của tác phẩm mà ở đó nó phù hợp với đạo lý Nho gia cũng như tài hoa của văn chương Thi Nại Am. Như vậy Kim vẫn trong khuôn khổ truyền thống nhận rằng Thi Nại Am biên soạn cấu tứ lại các truyện giang hồ dân gian mà ra 108 nhân vật sinh động đặc sắc. Tô Như cho rằng, việc lựa chọn và xây dựng lớp lang 108 nhân vật là các thành phần chặt chẽ phục vụ tết dệt bức tranh chung một tiểu triều đình mà trong đó ẩn chứa các ám chỉ lịch sử cụ thể, qua đó minh định lập trường "mắng Chu Nguyên Chương và để chửi nhà Minh". Tôi cho rằng có thể mở rộng logic của Tô Như đến chỗ Thủy hử truyện không chỉ là thái độ của Thi Nại Am về Minh triều mà còn là tâm sự chán ghét chính trị cung đình nói chung; không hẳn vì cảm tình với Trần Hữu Lượng mà ghét Chu Nguyên Chương như Tô Như nhận định.

Câu hỏi lớn của Thi Nại Am chính là câu hỏi về Trung Nghĩa với ai. Cả Thủy hử truyện là thách đố lớn về thiên mệnh, cụ thể hơn là về mệnh và nghĩa. Thoạt nhìn thì là chủ đề chung "quan bức dân phản", "hoàng thượng bị gian thần che lấp" và tuy làm thảo khấu nhưng lòng vẫn còn trung nghĩa. Như ngay từ Kim Thánh Thán đã chỉ ra, truyện nào có đơn giản như thế. Phần lớn câu chuyện, nhân vật cũng không phải như thế. Câu hỏi lớn nhất với bất cứ ai dù ở trình độ nào khi đọc Thủy hử truyện luôn là cái thắc mắc sao không phải làm điều thiện thì được phúc, làm điều ác thì gặp họa? Truyện đầy rẫy cái ngẫu nhiên của cái tao mạng-kẻ ác sống lâu. Mạng người vô tội thì như cỏ rác. Chính vì không nhận ra được lẽ nhất quán sâu xa nên suốt 500 năm của Thủy hử truyện luôn tồn tại sự tranh cãi về giá trị giáo dục, giá trị phản kháng thực sự của tác phẩm - nó không thuyết phục. Vậy mới có câu răn "già không đọc Tam quốc, trẻ chẳng xem Thủy hử" - đều là ngừa mầm loạn cả.

-----
(1): Nếu đã có ý này không tránh khỏi phải xem xét khung tư tưởng của Kim Thánh Thán và thời đại của ông về mệnh/mạng, thiên mệnh. (Lược ghi theo Đại cương triết học Trung Quốc, Giản Chi&Nguyễn Hiến Lê, q2).
Trước Hán nho phân biệt thọ mạng, tùy mạng và tao mạng: người ta sinh ra, thọ yểu đã định, nên gọi thọ mạng; nếu làm việc thiện thì trời cho sống lâu, sung sướng, ngược lại thì chết yểu, khổ sở, như vậy là tùy mạng; còn như gặp thời tao loạn mà bị nạn, chết yểu, khổ sở thì là tao mạng.
Qua đời Tống, Trương Hoành Cừ phân biệt mạng và ngộ rồi hợp nhất nghĩa và mạng. Ông cho việc ngẫu nhiên xảy ra thì gọi là ngộ, cái lẽ tự nhiên thì gọi là mạng, còn cái lẽ đương nhiên thì gọi là nghĩa. Làm điều thiện thì được phúc, làm điều ác thì gặp họa; làm điều ác mà gặp phúc là điều ngẫu nhiên, là ngộ chứ không phải là mạng. (ngộ của ông giống tao mạng của Hán nho).
Sau Trình Minh Đạo trở lại ý của Khổng tử không bàn tới ngộ, cho nghĩa là chính, mạng là phụ, cứ tận lực hành đạo nếu không thành mới có thể nói là tại mạng được. Trình Y Xuyên nói "hiền giả chỉ nói đến nghĩa mà thôi, trong nghĩa có mạng rồi (...) cứ theo đạo mà cầu, dùng nghĩa mà được, bất tất phải nói tới mạng.". "Người ta gặp hoàn cảnh hoạn nạn, mà chỉ có một lối xử trí, là tận nhân lực rồi cứ vui vẻ mà nhận cảnh ngộ. Có kẻ gặp một việc chẳng may, thì lòng đau đớn không thể quên được, như vậy ích gì?". Tống nho phân biệt rõ ràng cho công lợi là nghĩa, tư lợi là lợi.
Triết gia Vương Phu Chi sống cùng thời với Kim Thánh Thán cũng chủ trương giống Vương Tâm Trai tuy tin có mạng nhưng lại cho rằng chỉ hạng thường nhân mới bị số mạng chi phối còn hàng thánh nhân tạo được mạng. Ông nói rõ thêm rằng bậc anh tuấn có thể tạo mạng cho thiên hạ chứ không tạo được mạng cho mình.
-----

- Khi bàn về phép đọc sách, họ Kim có phần hơi tự mâu thuẫn khi xem tâm địa người viết Thủy Hử lại nói "Nhưng Thủy Hử thì lại không thế (không uất hận như Sử ký), Thi Nại Am nguyên không có bụng oán giận mà phát huy ra, chẳng qua chỉ no ấm không việc, gặp lúc trong lòng rỗi rãi, ừ thì vuốt giấy cầm bút, tìm một đề mục tả ra, bao nhiêu tú khẩu cẩm tâm của mình...". Chính vì thế nên Kim Thánh Thán xem nhẹ các chi tiết tượng số, diễn tiến "thành-trụ-hoại-không" của tiểu triều đình nơi bến nước. Nên chỉ còn tán về văn, về nhân vật này nhân vật nọ, phân chia xếp loại thứ...nhưng không có một cấu trúc ổn định lớn thật chặt chẽ. Mới thành ra cần san định, bỏ cái này, thêm cái kia...cho hợp ý mình, theo kiểu đẽo chân cho vừa giày. Thật đáng tiếc!

Trái lại Tô Như có lý khi chỉ ra rằng sách là bức tranh một tiểu triều đình nơi bến nước mà ở đó 108 nhân vật là những bộ phận thiết yếu cấu trúc lên bức tranh này, không ai là thừa thãi cả.

- Giang hồ giảng nghĩa khí, lấy nghĩa khí làm trọng. Triều đình giảng trung nghĩa. Cả hai đều có một chữ "Nghĩa" nhưng hàm ý thì khác nhau đến thế nào? Cái nghĩa khí của giang hồ nằm ở nghĩa hẹp của nó là "làm theo sự đòi hỏi của tình thế", mà chủ yếu là cái tình thế biến báo gắn với tư lợi của nhân vật thảo khấu. Nghĩa của Nho gia là ở chỗ tận nhân lực tri thiên mệnh; là cái thái độ vui nhận cảnh ngộ, tận tâm cầu đạo, không màng lợi hại bản thân.

- Thi Nại Am gom nhặt truyện trong dân gian biên soạn tu chỉnh thành kỳ thư. Vậy độc giả trung tâm của Thi Nại Am hẳn là giới sĩ phu nho lâm. Nhưng Thủy hử truyện lại lưu truyền mạnh mẽ trong đại chúng vì tính đa nghĩa và đặc điểm văn chương của nó. Gắn với một lịch sử cụ thể của các giai đoạn phát triển của tầng lớp thị dân, tâm lí thị dân từ Minh, Thanh đến cận đại. Nó người hơn, gần gũi bạch thoại hơn. Nhưng ngoài ra phải tính đến thời điểm lịch sử của tác phẩm trong bối cảnh giao thời thay triều đổi đại, nên mỗi pha thay đổi như từ Minh sang Thanh, từ Thanh sang hiện đại, đều lại chiếm vị trí trung tâm chú ý, bàn luận, giảng thuyết của các diễn ngôn chủ lưu.
--------
(*): các tác giả mới ngày nay có điều kiện học thức, tư liệu và môi trường giao lưu hơn hẳn ngày xưa. Ra được rất nhiều sách hay, góc nhìn mới mẻ, sắc nét, bóc vị nhiều lỗi mù mờ của thế hệ trước. Tuy nhiên tôi thấy rất tiếc khi họ thường không theo phép biên khảo cũ, chịu khó nói rõ các nguồn tư liệu, lịch sử biên khảo của chủ đề qua các tác giả, tác phẩm khác trên thế giới, so sánh, đối chiếu cũ mới...để làm rõ luận điểm nghiên cứu của mình. Ví dụ đọc xong Mật ngữ Thủy hử, tôi luôn muốn biết đại thể về truyền thống giải mật, lý luận của nó nói chung và đối với riêng Thủy hử truyện nói chung. Tuy nói là ghi chép, nhưng đã thấy lấp ló cái tung tích thì nên lôi phéng nó ra mới phải. Nên đọc thấy hay mà cũng vẫn tiêng tiếc.

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019

Về chợ (1)

- Theo tìm hiểu tại địa phương, chợ Hàng Tếch có lịch sử lâu đời. Tại khu vực gần chợ trước đây có một (01) công trình tâm linh - không xác định rõ được loại hình. Công trình này có thể nằm tại khu vực lòng đường trước chợ và cơ quan cs phòng cháy - khi làm đường đã mất dấu tích. Xem đoạn phim tư liệu lịch sử "Tỉnh lỵ Sơn La 1950" có thấy thấp thoáng nét mái đao của công trình cổ.


- Về mặt văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra đời sống tâm linh ở chợ có lịch sử lâu đời với nhiều hình thức phong phú. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến trong cuốn biên khảo "Sống đời của chợ" NXB Hội Nhà Văn, 2017 - thuộc chương trình dự án Hiểu Việt Nam, Phần II, Chợ trong cấu trúc chức năng làng; Mục 7 - Chợ - Ma thuật thương mại của người dân quê, thì:

+ Đầu tiên là tục thờ thần chủ đất của chợ (Thổ Địa/Công, Thổ Kỳ);

+ Rõ nét hơn, vị thần được thờ ở chợ như thần bảo hộ chợ búa và hoạt động buôn bán đó chính là các nhân thần. Lớp tín ngưỡng này muộn hơn. Thông thường đấy là nhân vật lịch sử có công lập chợ cho dân bán buôn, nhà nước ghi công, hay dân nhớ tới ơn mà thờ ngài như thần bảo hộ.

+ Trong sự phát triển (nhất là sau thế kỷ XIV), chợ liên kết với các không gian thiêng liêng của làng để tạo thành các tổ hợp chợ-chùa; chợ-đình; hay chợ-đền. Ngược lại, đình và nhất là chùa lại nhờ sự tháp đôi với chợ mà có tiềm lực kinh tế để hoạt động tồn tại theo thời gian.


- Lịch sử phát triển hình thức Tổ hợp Chợ-Chùa: ra đời từ nhu cầu ghép đôi lợi ích của làng và của đạo Phật. Chùa duy trì được sự tự trị kinh tế và Chợ dựa vào chùa để hoạt động mua bán dễ dàng hơn, tránh sưu thuế và sự ức hiếp của kẻ có quyền lực muốn thâu tóm chợ.


Theo Đỗ Thị Bích Tuyển có tới 50 thác bản văn bia về chợ chùa hay còn gọi "Tam Bảo thị bi'' hoặc ''Tự thị bi ký'' còn lại đến nay chủ yếu được Trường Viễn Đông Bác Cổ sư tầm trước năm 1954.


Theo Trịnh Khắc Mạnh và cộng sự cho biết trong khoảng 100 thác bản văn bia ghi chép về chợ truyền thống lưu ở kho tư liệu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì chủ yếu có hai loại hình chợ chính là: 1/Chợ do chính quyền địa phương quản lý để thu lợi phục vụ địa phương và 2/ chợ do nhà chùa quản lý để thu lợi phục vụ nhà chùa (chợ Tam Bảo).


- Xuất phát từ nhu cầu đời sống tâm linh của nhân dân địa phương tại khu vực chợ Hàng Tếch; phù hợp với truyền thống văn hóa lịch sử sẵn có; việc xây dựng điểm tâm linh tại khu vực chợ Hàng Tếch là cần thiết. Tuy nhiên cần lưu ý đảm bảo các yêu cầu sau: 1/ giữ quy mô chợ Hàng Tếch không bị thay đổi quá nhiều ảnh hưởng đến mô hình kinh doanh của chợ (quan điểm tư vấn giữ tối thiểu 80% quy mô cũ) - cũng là nét đặc trưng của chợ; và 2/ đảm bảo quy mô công trình tâm linh nhỏ vừa phải, có thể kết hợp thờ Thổ Kỳ với thờ Phật và như vậy có thể giao cho Hội Phật giáo tỉnh quản lý về mặt tâm linh. Không gian của 02 chức năng có thể giao thoa với nhau.

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2019


Hết tác dụng của thuốc mê, tôi tỉnh dậy nhìn trần nhà màu trắng tinh tươm và nhận ra có lẽ rất lâu rồi tôi mới có một giấc ngủ sâu, nhẹ nhõm đến như vậy. Cần điều chỉnh nhịp sống sao cho mỗi lần thức giấc phải được an lành như thế mới phải.
Có một xác suất rất rất nhỏ là khi ai đó được gây mê chỉ với ý định cắt amidan chẳng hạn nhưng rất rất không may là họ sẽ chẳng bao giờ tỉnh lại nữa. Tai biến y khoa luôn là một khả năng để ngỏ, mà chẳng may là năm trước đã xảy ra liền 2 vụ ở HN nên bây giờ mỗi khi không thực sự quá cần thiết mà lựa chọn gây mê thì mọi người đều có chút chần chừ. Tôi thì lựa chọn cũng nhanh thôi nhưng không phải không thoáng nghĩ đến những khả năng tồi. Tất nhiên tôi không thể hiện điều đó với người thân nhưng tự nhủ khi nào tỉnh dậy sẽ viết mấy dòng về điều này (chứ viết trước sái bỏ mẹ, nhỡ đâu lại thành chủ đề cho cộng đồng mạng chiêm nghiệm với điệu gật gù là tôi thấy không chịu được).
Đến một thời điểm nào đó trong đời, chúng ta cơ bản sẽ bớt hồ nghi và chấp nhận được cuộc đời. Kiểu tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc. Nếu điều gì đó tồi tệ đến với ta, cơ bản là rồi thì cuộc đời cũng sẽ qua. Điều kinh dị và lớn lao của cuộc sống là ở đấy: khi mà dù khổ đau cỡ nào rồi cũng sẽ qua đi như bọt nước như bào ảnh. Nếu điều gì tốt đẹp đang đến thì ta nên hân hưởng chúng nhưng trong tâm thì cũng chỉ nên ghi nhận nó như đã ghi nhận những điều tồi tệ khác - một ghi chép buồn tẻ nhàn nhạt không dính chấp. Bằng tất cả những gì mình biết, tôi chỉ có thể nói năng với người thân về một thái độ bình thường tâm mà sống - rồi thì mới thấy được một thế gian khác. Phần tôi, từ lâu tôi thấy cơ bản cuộc sống là thế, một cuộc dạo chơi trong rừng xanh. Cơ bản là có mây trắng nắng vàng và cỏ xanh như trong sách. Ngủ thì ngủ, thức thì thức. Hoặc băm bổ như ông bố của Justin Halpern (Shit my dad says): Tập trung mà sống, chết là chuyện nhỏ. Nhưng vấn đề ở đây lại là: chúng ta có thể hiểu được nhau hay không? Chúng ta hiểu nhau bằng cách nào? Sẽ bỏ lỡ điều gì không? Trong cuốn sách kia, ông bố thú vị cũng từng nói với con giai là "Mày chả biết đếch gì về bố cả". Thực tế chúng ta biết rất ít về nhau, dù chúng ta là người thân trong một gia đình. Bởi biết mình đến đâu mới biết người khác đến đó được. Hiểu là thông hiểu. Sinh tồn là liên tồn như Bùi Giáng tiên sinh ưa nói lái hay chỉ trỏ. Vì vậy, chúng ta cần facebook, cần mạng xã hội để biên nhật chí, để chỉ trỏ ra dấu hiệu về cuộc tồn sinh của chúng ta. Nhưng đó chỉ nên coi là khởi đầu mà thôi.
Không gian mạng cho ta cơ hội để kết nối, nhưng những kết nối thực sự giúp khai triển các khả thể nhân sinh hay ho thì phải được hoàn thành bằng giao tiếp tương giao toàn vẹn, phần lớn cần cỏ xanh mây trắng làm nền. Quan tâm xã hội cũng thế, có thể bắt đầu nhờ internet nhưng phải như Noam Chomsky đề xuất, đại ý quan tâm xã hội là làm sao để thay đổi nó, thông qua người khác, cộng đồng và cam kết. (Internet: từ quan điểm quyền lực nó quá dân chủ. Mặt khác: nó làm người dân chệch hướng và phân tán: các bạn ngồi trước màn hình máy tính một mình/đẩy tình cảm con người ra khỏi con người. Họ gửi cho các bạn bất kỳ ý tưởng nào mà họ thậm chí chưa nghĩ kỹ, bất kỳ lúc nào họ bị thôi thúc). Vậy nên mình vẫn cần dùng mạng xã hội, mình lên facebook để chỉ trỏ cho nhau những dấu hiệu, những con đường, những cơ hội để thông giao trong đời. Nhưng đời là một toàn vẹn không lệch lạc, giàu sang hơn giao diện trên mạng rất nhiều.
P/s: vài dòng cảm khái về thông diễn, giao tiếp tương liên, thông giao với người khác nhân dịp vừa có một đóa hoa cúc đã bị con ong nó tỏ đường đi lối về. Bác sỹ Hiền xinh đẹp ạ, tôi nhớ tên cô rồi đấy ^^

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

vài tưởng tượng về cộng đồng

(Xét tương quan "Họa sỹ - Bức tranh - Người xem" thì) Sự_thấy bị quy định bởi nhiều yếu tố: (1) trong sự định vị với bản thân người nhìn, (2) ý thức có thể bị thấy, (3) thấy đã là lựa chọn bị chi phối bởi nhiều tiên kiến, xu thế giáo dục, cá nhân tính...(4) hình ảnh là sự tái sản (cả với họa sỹ lẫn người xem). Đặc trưng của thời kỳ xuất hiện camera (tái sản): có thể tái sản hàng loạt dưới nhiều dạng thức, đa điểm nhìn, đa ngữ cảnh...có tính chất của thông tin (ngôn ngữ hình ảnh). Tức là có thể áp dụng nó trong đời sống của mỗi cá nhân, nghĩa có thể bị biến cải hay xuyên tạc. "Nghĩa của 1 hình ảnh bị thay đổi theo những gì người ta nhìn thấy đồng thời bên cạnh hỉnh ảnh đó, hay những liên tưởng mà hình ảnh đó tạo ra". Do vậy nó từ chối thẩm quyền truyền thống, mở ra nhiều cách_thấy. Hồi trước đọc cuốn "Những cách thấy" của John Berger thấy mình có tóm tắt lại mấy ý trên. Nay nhìn thử vào hiện tượng chụp mấy cái ảnh check-in đi ăn cuối tuần thấy có mấy liên hệ khá gắt nhân đang đọc lại cuốn "Cộng đồng tưởng tượng-nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc" (Benedict Anderson). - Check-in là một kiểu nghi thức quần chúng gắn với cảm thức về định vị: (1) trong một lịch biểu xuyên qua thời gian đồng_nhất, trống_rỗng; (2) trong một khung cảnh xã hội. Nó vừa riêng tư trên smartphone mỗi người lại vừa ngay lập tức (được coi là) đồng hiện trên dòng tin của mọi người (trong cộng đồng của họ - của người post). - Lớp thông tin đầu tiên thì nó ở ngay bề mặt đấy: ví dụ như cái ảnh đi ăn cuối tuần hôm trước. À thì đại khái kiểu nhà này khá bảnh, gia đình yên ấm, vợ đẹp con ngoan, yêu sách, biết ăn đồ tây...bala bala. Nhưng cũng giống như chụp ảnh cưới ở Bờ Hồ (tình cờ ăn cũng ở Bờ Hồ), thông điệp có thể thể đọc được thì không hẳn chỉ như thế. Ngay cả trong điểm nhìn và cách nhìn đầu tiên này nó cũng không hẳn đã hiển nhiên như thế. Đầu tiên là việc khoe mình đang ăn gì ở đâu ngay_lúc_này mới chỉ trở nên được xem là bình thường, không phải bàn trong thời kỳ mạng xã hội và trên giao diện mạng. Hãy thử hình dung như ngày xưa, kể cả thời ở trong các dãy nhà tập thể là nơi tính riêng tư bị xói mòn nhất thì cũng chỉ có bọn nhi đồng thối tai mới cả gan sang nhà hàng xóm khoe là nhà cháu hôm nay ăn gì. Tại sao lại khoe ăn, và làm sao mà nó lại có thể trông bình thường như thế được chứ? Chụp ảnh đăng facebook trước khi ăn còn hay được mọi người gọi là "cúng facebook". Thật tình cờ, nó - hành động có tính chất nghi thức này - rất dễ làm liên tưởng đến cách nói về hành vi đọc báo hàng ngày trong CĐTT: "Ý nghĩa của nghi thức quần chúng này - Hegel cho rằng báo chí phục vụ con người hiện đại thay cho lễ cầu nguyện buổi sáng - có tính hai mặt." Tính hai mặt này là ở chỗ nó được thực hiện trong sự riêng tư âm thầm nhưng mỗi người chịu lễ đều ý thức rất rõ rằng nghi thức này đang được sao nhân đồng thời bởi hàng nghìn triệu người khác, những người mà anh ta tin vào sự tồn tại của họ, dù không hề có ý niệm về căn cước họ mang. Hơn nữa nghi thức này cứ liên tục lặp lại một hoặc nửa ngày xuyên suốt thời gian lịch biểu. Tức là một minh họa sống động về một cộng đồng tưởng tượng thế tục. (đoạn này tóm lược). Đến đây có thể nói rõ là giả thiết của mình là việc check-in, cúng facebook có tính chất nghi thức, đáp ứng nhu cầu nghi thức trong hình hài mới để thấy mình thuộc về một cộng đồng (tưởng tượng), qua đó chống lại sự bất an và cả sự tự do ý chí. (cont)

carnet - về đọc sách

Làm sao để trẻ ham đọc sách, có thói quen đọc sách? Nhân mình được bạn hỏi đến vài lần. Không chắc lắm nhưng mình nghĩ đến những điều này đầu tiên:
- Đầu tiên đừng quá kỳ vọng vào việc đọc sách mà không suy nghĩ cặn kẽ về chủ đề này. Người ta nói quá nhiều về sách vở nhưng đó là một biểu tượng mà họ hướng tới - nhiều khi khô cằn, sáo rỗng - hơn là những trải nghiệm đáng giá cần chia sẻ.
- Nhìn nhận việc hình thành thói quen đọc sách như là một trong các phương pháp đa dạng, linh hoạt để tự học, suy tư và bộc lộ, biểu hiện bản thân trong đời sống. Học cách dùng từ điển, học cách bắt chước diễn đạt, làm giàu các tưởng tượng. Nuôi dưỡng những cuộc phiêu lưu tinh thần. Hình thành dần một gu về lối sống, một thiên hướng đạo đức...
- Trẻ thích cái gì thì tạo điều kiện cho nó tự tìm hiểu, để tự mình có được quan điểm và kiến thức cần thiết mà lựa chọn.
- Cuối cùng thì nên coi trọng tính hên xui vì đứa trẻ là một cá nhân độc lập. Mình sống đời mình cho vui, cho hay, truyền cảm hứng cho nó là vừa đẹp.

Bài trên fb lưu lại đây để nhớ. Mình có thói quen vừa viết vừa nghĩ. Chỉ lúc viết kiểu blog mới có động lực sắp xếp ý tưởng nên nhiều lộn xộn. Đôi lúc nói cho xong một mạch, một phía, chứ không cố kết đến cùng.

Còm của a NNH:
Về bản chất, đọc sách là 1 dạng suy tư. Song sự suy tư này có tính chất thoái ẩn khỏi thế giới, giống như khi làm thơ hay làm nghệ thuật. Có nghĩa là nó không tạo ra tri thức thực tế mà tạo ra năng lực phán đoán thẩm mỹ (đẹp xấu hay dở) và đạo đức (đúng sai) về chiều sâu--tức năng lực theo Heidegger, -gặp gỡ với Tồn tại. Hiện nay nhiều nhà xuất bản hoặc cha mẹ hiểu sai việc đọc sách-cho rằng đọc sách là để thu nhận tri thức đời sống trực tiếp theo mẫu ăn ngô ị ra phân vàng ăn cơm ị ra phân trắng, từ đó xuất bản sách hoặc mua sách về cho con cái theo tinh thần này. Đây là nguyên nhân chính làm trẻ chán đọc sách. Tệ hơn. Làm sự đọc sách bị băng hoại.

Stt: Suy tư/Đọc sách là gì (fb a NNH)


1.Vì mải suy tư, ngửa mặt lên giời, ông già Hy lạp tên là Thales đã ngã lộn cổ xuống giếng-làm nên tràng cười cho bà con cô bác đang đứng xung quanh đó. Nhưng có thật là ông này đáng cười không? Hay chính những kẻ đang cười khoái trá trước cú ngã lộn cổ của ông mới đáng cười? Điều này còn tuỳ vào quan điểm.
2.Suy tư là gì? Heidegger từng bảo "suy tư xét như một việc làm bằng tay"-có nghĩa rằng, suy tư, ở đây, được hiểu như một tiến trình dò dẫm tìm đường trong sương mù mờ ảo, chứ không phải là tiến trình khái niệm hoá-cắt nghĩa minh bạch. Ông bảo
Không giống khoa học, suy tư không mang lại tri thức
Suy tư không sản xuất ra các kiến thức thực dụng
Suy tư không giải quyết các nan đề của vũ trụ
Suy tư không ban tặng trực tiếp cho chúng ta năng lực hành động
3. Sao lại thế, và vì sao lại thế?
Đơn giản thôi-đó là vì, suy tư ở đây, y như nặn tượng, vẽ tranh hay đặc biệt làm thơ-là năng lực riêng có của loài người giúp họ đến gần với Tồn tại để tìm ý nghĩa cho sự hiện hữu. Có nghĩa rằng, suy tư là năng lực đặc biệt của hữu thể người khiến họ có thể phân biệt đúng sai, đẹp xấu, linh thiêng, phàm tục, nhục, vinh, vân vân. Suy tư là khả năng khiến con người trở nên một tâm hồn-theo nghĩa có năng lực phán đoán thẩm mỹ và đạo đức. Nói nôm na, suy tư giúp ta biết cuốn sách hay bộ phim nào đó là hay là dở, chứ không phải chỉ giúp ta hiểu cốt truyện của chúng. Suy tư giúp ta biết ai là tốt ai là xấu chứ không cho ta biết nên đứng về phía ai sẽ có lợi hơn
4. Suy tư, y như cách hiểu của Socrates, Plato, Đức Phật, Aristotle, Kant...đều là sự thoái ẩn khỏi thế giới thực dụng. Xenophon từng kể là Socrates, khi còn ở trong trại lính, đã có lúc, đang tập hành quân ngon trớn, bỗng đứng im bất động suy tư suốt 24 giờ.
5. Nhưng sự thoái ẩn này không phải là sự quy ẩn-theo nghĩa chìm trong cô độc bất động. Con người suy tư là con người hành động-bởi, xét như là một hành động (Hannah Adrent cho rằng suy tư đã chính là hành động chính trị)-khi suy tư- kẻ suy tư không cô độc vì vào lúc suy tư-hắn ta đang đối thoại, tức là vào lúc đó, trong hắn có hai người. Suy tư chính là hiện thể của tình trạng nhị tồn trong một tồn tại. Nó trái với cô đơn, vì cô đơn là sự quy ẩn biến bản thân thành nhất phiến.
6. Như vậy là, suy tư, vừa không phải là sự sản xuất ra tri thức thực hành, nhưng vẫn là hành động.
Như vậy là, suy tư, dù luôn là một sự thoái ẩn, lại không phải là sự quy ẩn-vì thoái ẩn thuộc về thể điệu tồn tại, còn quy ẩn, chính là ngưng tồn tại.
Thể điệu tồn tại của thoái ẩn, đó là sự tiến gần tới Tồn tại để hiểu ra ý nghĩa của hiện hữu, để sau đó trở nên minh bạch và nhạy bén về tốt dở đẹp xấu linh thiêng phàm tục-tức là, để sau đó sẽ nhận chân chính mình trong tồn tại
Thậm chí, như Nietzsche từng bảo
"Suy tư của chúng ta phải toả mùi hương nồng sực/ như cánh đồng lúa mì trong một đêm hè hừng hực"
7. Suy tư ở đây-không cần phải nói, chính là mô hình có tính mẫu thức của việc đọc. Rõ ràng là, người ta đọc sách nào có phải để tìm ra các chi tiết thực dụng, hay các kiến thức chết từ ngàn năm để sử dụng trong hiện tại? Dù không bác bỏ phần nào cách tiếp cận đó, kẻ hèn này cho rằng, cách tiếp cận ấy phải bị hạ xuống thứ yếu . Đọc sách cũng như suy tư, chính là năng lực đặc biệt của con người-giúp hắn tiến gần hơn tới Tồn tại, có nghĩa rằng, giúp hắn hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời hắn. Đọc sách, chính vì thế, là một hình thức thoái ẩn, y như suy tư vậy. Đọc sách, chính vì thế, cũng như suy tư, không phải là một dạng hành vi thực dụng-mà là một thứ đức hạnh. Thành thử, cũng như suy tư, đọc sách tiềm ẩn các niềm vui đặc biệt lớn lao mà không một sự đắc thắng kiểu thực dụng nào có thể so được: Đó là niềm vui của sự vỡ lẽ, của sự đốn ngộ. Ví dụ: Jean Beaufret, một người Pháp hâm mộ Heidegger, và cũng là bạn của Heidegger, từng kể, vào đúng D-day, mùng 6 tháng 6, 1944, -khi quân đồng minh đổ bộ vào Normandy, ông giở sách của Heidegger ra đọc lại, và bỗng, lần đầu tiên, thấy mình hiểu được toàn bộ Heidegger. Ông bảo, niềm vui hiểu được Heidegger này của ông lớn tới mức, vào lúc đó, ông hoàn toàn không hề quan tâm gì tới việc nước Pháp quê hương ông vừa được giải phóng
8. À status này viết ra vì kẻ hèn này có đọc một status khác nói về việc làm sao khiến trẻ đọc sách. Như bà con cô bác thấy đó. Đơn giản thôi. Hãy hiều đúng về sách, về suy tư. Và rồi mọi chuyện sẽ tự đúng theo. Khi nào thấy ai ngã xuống giếng, mà ta tự thấy ta mới là kẻ đáng cười-thì khi đó, mọi chuyện sẽ tự động ổn. Còn trước khi đó, có bỏ tiền tỉ mua sách thì chỉ cũng chỉ giúp các ông chủ nhà xuất bản mua xe vinafst mà thôi






Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019