Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Đời sống thường ngày bình dân Hà Nội 2012




Thiếu phụ lướt web: Làm cha mẹ chấm com


Nhi đồng xem Ti vi: Cartoon Network


Ấu nhi: Ngủ và ọ ẹ

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Xem tập Mắt người Sơn Tây - Quang Dũng



Sắp xong chưa ông Vân ơi!


1.
Tôi mua tập thơ Quang Dũng trước hết vì tình cảm với những bài thơ thời hoa niên như Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây. Hồi đó lớp 11-12, vẫn còn nhớ rất rõ liên tưởng đến góc camera thay đổi những khung hình trong bài Tây Tiến, nhưng khi thử nghĩ kỹ thì không làm rõ ra được tại sao lại như vậy.

Tập Mắt người Sơn Tây do Nhã Nam làm lần này (Trác Phong tuyển chọn) có cả thơ, ký họa và ký sự của Quang Dũng. Một cách trực quan, những ký họa khiến tôi thấy có thể hiểu hơn về lối làm thơ (dùng chữ thi pháp thì to quá ^^ ) và những thiên hướng của ông: một tâm thế phù hợp nhất với những đặc trưng của thể loại ký.

Các ký họa của Quang Dũng đều là ký họa phong cảnh (màu nước). Chắc thời gian đã làm ảnh hưởng đến chất lượng của chúng: chất màu đã bị khê nhiều. Nếu xét trên phương diện hội họa thì thấy không quá ấn tượng. Nhưng có một đặc điểm của những ký họa phong cảnh bằng mầu nước này làm tôi quan tâm: trên bình diện tổng thể thì một bức vẽ có cách thể hiện rất nhiều chi tiết, nhưng nhìn vào từng chi tiết thì nét ký họa lại không sắc sảo lắm. Hay nói theo kiểu dân học vẽ là chỗ nào cũng vẽ nên hơi tham chi tiết.

Tất nhiên đối với một bức ký họa thì tính chất tư liệu của nó được đặt lên hàng đầu. Nhưng cũng tại một bức phác họa màu nước thì đã gần tương đương một bức tranh hoàn chỉnh rồi nên đặc điểm trên nó có tính dấu ấn cá nhân. Ở đây, có gì đó tương đồng với phong cách thơ của QD mà trong bài giới thiệu Vũ Quần Phương có một nhận xét liên quan: càng về sau QD càng thiếu đi những bài thơ hay hoàn chỉnh, nhưng vẫn có những câu thơ, tứ thơ hay rải rác. Cái tương đồng là ở xu hướng nắm bắt khoảnh khắc, chi tiết.

Thơ QD có điểm giống thơ Lưu Quang Vũ sau này mà tôi nghĩ là do đặc điểm chung của những người học vẽ: giàu chất liệu hình ảnh và trong những khung hình rất gần với hội họa. Nhưng tâm thế tình cảm thì hai người khác nhau: LQV gần chúng ta  hơn, mê đắm rõ rệt; trong khi QD vẫn là của tiền chiến - hào hoa, nhiều ước lệ và chừng mực trong man mác. Có thể liệt kê được một loạt những "ơi/xa cách/nhớ mong..." với tần suất khá cao từ tập thơ. Nhưng cũng chỉ trong tâm tiền chiến mới có thể tự nhiên gọi những câu rất thiết tha như "Buồn lắm Hồ Nam ơi!". Tha thiết, bâng khuâng, tiết chế, chừng mực trong cảm xúc nhưng rộng rãi thoáng đạt, linh động trong không gian và thời gian - đó cũng là những đặc điểm của thể loại ký họa.


2.
Ký họa ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn 1945-1975 có vị thế đặc biệt về thể loại, khác với ở các nước khác nhiều khi chỉ nhạt nhòa trong vai trò tư liệu của hội họa giá vẽ kinh điển. Tính chất thâm nhập thực tế sinh động, lưu giữ chi tiết (mặt kia là điển hình hóa) trong phong cách lưu loát thoáng đạt của thể loại ký họa đặc biệt phù hợp với điều kiện chiến tranh ở VN. Ngoài ra cũng phải kể đến tiến trình phát triển từ ảnh hưởng của thời Mỹ thuật Đông Dương:  Hội họa thời kỳ này ở VN hầu như chỉ mới ở thời kỳ đầu của lịch sử hội họa hiện đại mà ảnh hưởng của hội họa kinh điển với đặc trưng "Hình họa là danh dự của họa sỹ" - Salvador Dalis - trừ một số ngoại lệ (Trần Trung Tín là ví dụ) - nên tâm lý coi trọng ký họa như là một cái gì có tính hương xưa, được huyền thoại hóa cũng là dễ hiểu.

Trong tư cách là tài liệu nguồn do thâm nhập thực tế, ký họa có tính chất đối diện với đối tượng: có một khoảng cách tinh thần giữa người vẽ với khung cảnh hay câu chuyện. Một mặt anh ta là chứng nhân của sự kiện, mặt kia ngay tức thì anh ta không để cảm xúc chủ quan của mình chi phối tính chất ghi chép dữ liệu. Vẽ  bằng đường nét là phương tiện vừa vặn với ký họa - bằng một sự nhạy cảm tuyệt đỉnh vốn đã như thế ngay từ nguyên thủy. Người vẽ ở đây đóng vai khách lạ với khung cảnh/câu chuyện. Trong chiều kia, câu chuyện được kể lại (bằng hình ảnh) của một người trở về từ những chuyến du hành luôn có tính hấp dẫn đặc biệt của chốn chưa biết với người thưởng lãm.

Thể loại ký - văn xuôi tự sự, những ghi chép trong văn chương có một phổ khá dài từ nhật ký, ký sự, bút ký đến tùy bút. Chúng có đặc điểm chung là sự di chuyển - trong không gian và thời gian. Rõi theo, mô tả, dẫn dắt. Trải nghiệm, chuyển động, giản lược trong sự kiện và những tự sự trữ tình của người viết/đi được gia giảm liều lượng theo từng đặc trưng thể loại. Với ký, người ta không thể tách ra khỏi câu chuyện cái phong cách lữ khách riêng có và do vậy bản thân sinh động của con người tác giả cũng dự-phần bàng bạc trong suốt các câu chuyện. Ai bình thơ Quang Dũng mà chả nhắc đến nét đẹp trai, hào hoa người Hà nội của ông. Phải chăng đó là cách những câu thơ tuyệt diệu mênh mông rời rạc trong thơ Quang Dũng sống cuộc đời thơ của riêng mình.


Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?


3.
Nhưng điều đọng lại nhiều nhất sau tập thơ với tôi là câu chuyện của Phan Lạc Tiếp (11,1971) về tình cảm mẹ con nhà thơ. "Lời mà cụ Tổng nói với chúng tôi là "Hôm anh Diệm về có hai người đi kèm. Anh chỉ nói với mẹ một câu rằng mẹ đi đi. Thế thôi.". Bài thơ "Nhớ về mẹ" được viết sau đó vài năm.



(Entry này tặng riêng bác Gỗ Mun)


^^



Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Vô sư vô sách

Câu chuyện dịch thuật đang có mấy tầng, mấy nhánh để nghĩ:

- Dịch là bất khả: http://lythuyetvanhoc.wordpress.com/2012/02/23/boris-buden-d%E1%BB%8Bch-la-b%E1%BA%A5t-kh%E1%BA%A3-hay-lam-vi%E1%BB%87c-do/

- Xét lại để đối chiếu: Nguyễn Hiến Lê là điển hình, Bùi Giáng thì vô đối.

- Dịch giả/dịch thật: lỗi và quy kết - hay là phân biệt luận cứ với luận chứng của làn sóng ném đá kịch liệt hiện nay.


Tôi thì lại quan tâm đến phía bên kia của câu chuyện: Liệu có một hệ quy chiếu nào cho những người đọc không am tường ngoại ngữ, để họ có một cơ hội thoát khỏi thân phận xách mé vô sư vô sách không? 

Tôi sẽ từ từ thử xem có cách gì không ^^




Nhị thập cửu chương, tử viết

Quá nhi bất cải, thị vị quá hĩ.

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Sổ tay. 1 - Bản thảo

1.
Khoảng 13 tuổi, tôi có cuốn sổ tay đầu tiên (bố cho). Bìa có hình Diễm Hương (thinh thích). Bìa trong có một bức tranh khỏa thân Phục Hưng (thích). Sổ dành để chép mấy câu ưa thích, kiểu như "Giang hà tịch mịch", "Thiên mã hành không", vài ký họa (tập tành) và thơ Nguyễn Bính, Hoa Học Trò các loại. Đôi chỗ ghi lại suy tư (tha thiết) hay tập ký (khá loằng ngoằng). Hết phổ thông thì cũng đóng sổ, cất vào hộc kín (Bỏ lại vườn cam bỏ mái gianh/Tôi đi dan díu với kinh thành).

2.
Bọn học trò hay có kiểu lâu lâu muốn lấy lại khí thế học hành thì làm một quyển vở mới (đóng bìa thật đẹp), viết nắn nót trang đầu - để mở kỷ nguyên mới. Mười lần thì y như rằng kỷ nguyên đều kết thúc vào trang thứ ba cả.

Tôi hay dùng một cách đi vòng tránh các kỷ nguyên: trên lớp thì ghi vào tập giấy nháp, về nhà sắp xếp lại vào vở. Cách này cũng được nhưng lại hơi mất thời gian. Nếu kỷ luật không nghiêm thì dễ chữ bay theo giấy - quá tội xấu xí lem nhem của vở.

Sau này lên đại học, thấy cách ghi chép của thằng em cũng hay: nó coi cuốn sách chính là vở, cần gì thì ghi thẳng vào, lấy giấy note dán thêm lên. Nhưng đấy là sách giáo trình, nhiều khoảng trống nên dễ viết. Tôi vẫn thấy việc viết vào sách có cái gì đó bất nhẫn. Lại có gì đó giống những người hay viết vài chữ lên trang đầu cuốn truyện mới mua. Lâu ngày nhìn lại thấy phần nhiều chỉ cho cảm giác ấm ớ, yếm thế.

Thay vào đó tôi hay ghi chép trên những tập A4 giấy xấu - viết một mặt, nhiều lúc là một vụn giấy bất kỳ, một bì thư...rồi gom lại vào thành một tập. Cách ấy làm mình thấy thoải mái, cho mình một tư thế an toàn của bản thảo; lại dễ theo dõi những gì đã viết. Tôi cũng thích vẽ bột màu lên những mẩu bìa hay giấy báo (thế chất nghệ nó cao hơn). Tuy vậy, nếu cái nào coi được thì đi mua cái khung lịch sự đóng vào rồi mang tặng các bạn gái.

3.
Năm 20 tuổi, tôi đem những cuốn truyện hồi nhỏ cho hết thằng bé hàng xóm cũ (thanh lý tuổi thơ); đốt hết những gì không cho được và những ghi chép vụn. Thấy vừa thương hại vừa thù ghét những người tỏ ra say mê và tự hào đặc biệt với việc có/đọc nhiều truyện-sách. Yêu thích đặc biệt cái gì thường cho thấy anh không tự tin, không biết tự thương mình.

Nhưng cũng không thể đốt hết tất cả được. Dần dần tôi lại vẫn thích viết lên những mẩu giấy A4 xỉn màu những dòng nguệch ngoạc. Tôi thích viết bằng bút máy, mực đen. Kể ra thì bút máy có cái phiền là hay dây mực ra áo/túi.
----------

Carnets

Phương thức tư duy của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào những gì mà chúng ta làm và những cái mà chúng ta cảm thấy hứng thú...> Không có nghĩa là suy nghĩ bị bóp méo mà chỉ có nghĩa: có rất nhiều khả năng lựa chọn cho phương thức tư duy của chúng ta - nếu có hứng thú khác thì suy nghĩ khác. (Erich Fromm)




Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Đọc xong thì nên viết?

Gạch ra vài ý về việc điểm sách

- Rõ ràng mình là người hay đọc sách. Mình đọc vì muốn tìm kiếm cái gì đó - có ích.
- Nhận thức không tuyến tính. Mỗi khi mỗi lần thường là một dấu hiệu, khơi gợi và soi rọi vào nhau.
- Viết ra là để thu xếp một phen. Cho nó một chiều hướng. Sẽ có tổn thất nhưng cần phải viết ra đã.
- Sẽ như thế này: tôi đó, tôi đọc và tôi đang thấy. Nhưng giữa hai dòng chữ còn đó nhiều lựa chọn.
- Không bao giờ có tính-chất-sở-hữu.
- Mỗi lần đưa ra một lần mới.

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

No country for old man ^^ - Tráng niên tự bạch

1.
Tự xét mình, tôi thấy điều đáng giá nhất mình có là đã từng biết đến trải nghiệm "nhận ra điều hiển nhiên". Từ đó cuộc sống một mặt dường như vô cùng vô tận, một mặt lại vô cùng trơ lì cằn cỗi. Nhưng tôi đã đặt ra được mục đích cho mình.

2.
Nhận mình là người tự học, tôi đã tìm ra một cách để trình diện với cuộc sống: Từ chỗ tôi thấy, tôi biết, thì sự vụ nó thế này-thế kia.

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Đọc "Những cách thấy" - John Berger. 1

Tiếp tục loạt bài tập viết ngắn. Lấy từ blogspot của anh Như Huy ^^
Phần 1 này là từ các post Những cách thấy (1-5). Phần tiểu luận này đáng ra đọc ngược từ dưới lên sẽ dễ nắm bắt hơn.

Tóm tắt:

-------------

"Nghệ thuật của quá khứ không còn hiện hữu như trước kia. Thẩm quyền của nó đã bị mất. Giờ đây tất cả chỉ là ngôn ngữ hình ảnh". Bài luận nói đến sự thay đổi về thẩm quyền của mỹ thuật cổ điển châu Âu (từ Phục Hưng) cho tới khi xuất hiện máy ảnh (sự tái sản) dưới tiếp cận về cách_thấy (ways of seeing - có vẻ còn hàm chứa cái ý "khởi từ sự_thấy").

Đặc trưng cổ điển của mỹ thuật quá khứ: sơn dầu, độc bản, gắn với 1 điểm nhìn theo luật viễn cận, gắn với 1 kiến trúc và theo đặt hàng, gắn với 1 hệ thống giá trị do giáo dục thẩm mỹ và lòng tin phục vụ tầng lớp thiểu số thống trị đương thời.

Xét tương quan "Họa sỹ - Bức tranh - Người xem" thì sự_thấy bị quy định bởi nhiều yếu tố: (1) trong sự định vị với bản thân người nhìn, (2) ý thức có thể bị thấy, (3) thấy đã là lựa chọn bị chi phối bởi nhiều tiên kiến, xu thế giáo dục, cá nhân tính...(4) hình ảnh là sự tái sản (cả với họa sỹ lẫn người xem).

Đặc trưng của thời kỳ xuất hiện camera (tái sản): có thể tái sản hàng loạt dưới nhiều dạng thức, đa điểm nhìn, đa ngữ cảnh...có tính chất của thông tin (ngôn ngữ hình ảnh). Tức là có thể áp dụng nó trong đời sống của mỗi cá nhân, nghĩa có thể bị biến cải hay xuyên tạc. "Nghĩa của 1 hình ảnh bị thay đổi theo những gì người ta nhìn thấy đồng thời bên cạnh hỉnh ảnh đó, hay những liên tưởng mà hình ảnh đó tạo ra". Do vậy nó từ chối thẩm quyền truyền thống, mở ra nhiều cách_thấy.
-------------

Hết tóm tắt.




carnets:

- Hoàn toàn châu Âu.

- Việc cô lập ý niệm sự_thấy ra khỏi tri giác toàn thể về đối tượng (bức tranh) có tính kỹ thuật. Một bức tranh không đơn thuần mang chứa một hình ảnh được tái sản nếu xét đến các yếu tố chi tiết vật thể (kích thước, vật liệu, bố cục) trong tương quan với tri giác của người xem tại thời điểm nhìn. Ít ra còn liên quan đến những yếu tố có tính tâm lý thị giác (tỷ xích, chất cảm vật liệu, khoảng cách thụ cảm).

- Một bức tranh chân dung cổ điển nhất cũng không đơn thuần là tái sản hình ảnh - sao chép thực tại. Nó vẫn hàm chứa các lựa chọn và sắp đặt, qua đó tổ chức 1 nhóm biểu tượng cho 1 thông điệp trải nghiệm nhất định. Do đó có 1 tương quan khá ổn định theo tiêu chí trải nghiệm giữa họa sỹ - người xem đối với 1 bức tranh - nguyên bản hoặc bản sao y cùng các đặc trưng như kích thước, vật liệu, nội dung hình thức... (Tất nhiên những yếu tố tiên kiến chủ quan vẫn tồn tại đồng thời, thậm chí lấn át).

- Nên chủ đề mấu chốt phải hiểu là về "thẩm quyền của nghệ thuật quá khứ khi hình ảnh trở thành ngôn ngữ thông tin đại chúng nhờ khả năng tái sản hàng loạt trên nhiều dạng thức ấn phẩm". Hình ảnh không đồng nhất với bức tranh.

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Đọc NHT - Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn

Làm loạt bài tập viết ngắn - tóm tắt. Khả năng nói ngắn gọn, rõ ràng và đơn giản cho thấy anh hiểu vấn đề đến đâu.
--------------

Tôi đã nảy ra ý thú viết - tập thể dục - về bài tiểu luận của NHT là do hôm đó bên facebook bác GM có dẫn link. Tiểu luận này đọc xong có cảm giác rất rõ về văn mạch, khí chất và gợi ra nhiều ý tưởng nhưng đồng thời cũng là sự mơ hồ khó nắm bắt: cảm giác không yên tâm khi tính hấp dẫn của một tiểu luận lại đến từ tính văn chương của nó.

Bây giờ tôi thử viết thật ngắn lại nội dung của bài tiểu luận này theo chỗ hiểu của tôi:

Nhà văn cần sáng tác không chỉ bằng trực giác mà phải sáng tạo với lý luận phê bình văn học của riêng mình. Lý luận phê bình văn học phải là/chính là sự tự ý thức (nội tâm) của nhà văn, của con người anh ta - con người chính trị, sống toàn thể (như mẫu hình của Khổng Tử). (Chính trị là một điều kiện của tồn tại, không phải là một vấn đề). Theo đó giá trị cao nhất của con người theo mẫu này là: tính bản thiện, điều tiết với xã hội (nền chính trị) theo lẽ hài hòa của tự nhiên (phân biệt nghĩa và lợi). Trong thời nay, chính trị tốt là có Dân chủ và Kinh tế lành mạnh. Con người chủ toàn này sẽ có tâm linh hướng thượng (không mê tín) và cảm thức về cái Đẹp như là biểu hiện của sự hài hòa. Đối với đất nước, dân tộc thì nhà văn là người có sứ mệnh thức tỉnh ý thức về chân lý của mọi người - ở vị thế ở giữa hiểu được con người tự nhiên (bản năng) và con người xã hội (chính trị đương thời).
-----------------

Xong.

Đối chiếu với những liệt kê trên thì về cơ bản theo NHT đa số là bọn cuồng giản, con ranh hoặc mục đồng. Phần còn lại thì đau đớn, vất vả, vật vã, thất bại, hoang mang :P

carnets

- NHT không thực sự triển khai theo lối luận đề mà là một khai triển liên tục theo mạch và có phần tản mạn. Nhưng vì vậy sẽ không thể đơn thuần phân tích/phản biện theo kiểu một tiểu luận mà cần xem xét khía cạnh ám chỉ, khơi gợi của nó.

- Ngay từ đầu đã ngầm định về một xã hội, thể chế ổn định (kéo dài) do đó hệ quả tất yếu sẽ là triết lý điều tiết, tư tưởng chủ toàn. (đọc thấy dấu vết Francoise Jullien, Cao Xuân Huy).

- Liệt kê vài cái tên ngay mở đầu. Lựa chọn như vậy có tiêu biểu? (lịch đại: TK19 Phương Tây, cổ đại Phương Đông) (đôi khi nó cho thấy học vấn người viết).

- Khởi đi bằng nhận thức về vị trí, tư thế cá nhân:
(+) Dẫn Khổng Tử với "chính danh" - nhưng lại nói về cơ sở lý luận - rồi lại dẫn Lê nin, cách mạng -> sự rút gọn nhãn quan hợp nhất chủ toàn: con người-tự nhiên-xã hội -> không chia tách các lĩnh vực, trong truyền thống con người quân tử. (có thể nhận ra những cố gắng vượt qua lối phân chia đối nghịch giữa văn nghệ - chính trị).

(+) Mệnh đề về con người: làm người là trở về toàn diện với tính bản thiện (hàm ý vượt quá tính nhân văn thông thường). - làm việc nghĩa (vô thượng mệnh lệnh). Những ý niệm (nghĩa, mệnh. lòng không nỡ) là những nhận thức được làm mới (F.J) trong chiều kích với toàn thể. -> Hậu quả là để móc nối trở lại với mỹ cảm nghệ thuật thì phải mượn mô hình Chân-Thiện-Mỹ. (trong này câu dẫn Đạo Đức Kinh hình như sai "Đạo hữu đạo...").

- Theo mạch "chủ toàn - điều tiết" này: người - đấy là con vật chính trị - diễn giải Tự nhiên/Xã hội -> văn học giải quyết tương quan này. (thực ra bước chuyển khái niệm này không tự nhiên đến thế vì ranh giới chính trị và tự nhiên là quá hàm hồ). 

- Bổ sung: hợp nhất chính trị - lẽ sống: tức là có vẻ giữa chiều kích xã hội và cá nhân. -> Chính trị - vương đạo = dân chủ + kinh tế lành mạnh. (đơn giản hóa đến mức không có nội hàm để thảo luận). - Thậm chí hợp nhất với vũ trụ.

- Tất yếu sẽ dẫn đến mệnh đề về tư cách con người của nhà văn:

(+) Nhà văn chính hiệu thì trước hết là con người chân chính.
(+) Sáng tác là phương cách hiện sinh của nhà văn "khi các nhà văn coi sáng tác nằm trong mệnh của họ"

- Một lần nữa, những cái tên: Nietzsche và JPS (hợp thời VN quá lâu - hiện sinh, người thật là người), Nguyễn Trãi, Nguyễn Du (thương hiệu) Ngô Thì Nhậm (thiền).

- Như đã suy luận: Chân-Thiện-Mỹ phải đến. Lần này tăng thêm cường độ hợp nhất bằng vẻ đẹp chính trị mà hầu như hiển nhiên nằm ở sự hài hòa - một đại tự sự. Vì không nói ra nên tiếp theo sẽ phải là về sự thất bại của nhà văn trong thế giới quan chủ toàn này. - Hệ quả là phải thêm vào vai trò của bên thứ ba trong sự phân chia "tự nhiên - xã hội" (từ Không sang Có đã thành ba).

- Liên tưởng về vấn đề thân phận chính trị của nhà văn (nhất là bối cảnh những năm 90s).

- Đáng ra là một bằng chứng về lẽ sống hợp nhất - nhà văn chỉ còn là một người thất bại (biết không làm được vẫn làm) - giá trị còn lại gì? - ở kẻ khác (độc giả) - nhưng như thế nào thì diễn đạt không rõ lắm.

- Như sự sụp đổ Đại tự sự đã dự báo, rồi NHT phải rút gọn quy mô chân lý xuống cấp độ tự ý thức.

- Nhưng vì tư tưởng về 1 đoàn người nên câu hỏi vai trò nhà văn bật ra: vì là một nhà văn "tức là một người thất bại chủ nghĩa" nên ông (NHT) nhận ngay chân cuối đoàn và bắt đầu nói về người khác, vị trí khác:

(+) Sự thấp kém của văn sỹ phương Đông? (Nhưng Nho sỹ thì khác).
(+) Tất yếu chỉ còn ở khả năng tự thức tỉnh (mà sau này hình như chỉ còn lại là sự trải nghiệm. Trải nghiệm và đào luyện có sắc thái rất khác nhau).

- Nhân dân yêu chuộng nhà văn vì chân lý? (xu hướng đồng nhất hóa mọi thứ vào 1).

Bài tiểu luận về sự đòi hỏi trong tư tưởng nhà văn của NHT cho thấy xu hướng triết lý Phương Đông được làm mới và gợi cảm hứng từ những tác giả F.J, E.F về tính toàn thể trong lẽ sống của con người mà văn chương có vẻ là phương cách biểu hiện. Có điều chẳng có chút tương tác nào với phần còn lại của lịch sử lý luận phê bình văn học cả ^^




Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Người thơ ăn vận như trăng

Bài viết từ hồi 4-5 năm trước.
-----------------------------

Mỗi ngày tôi chọn 1 niềm vui...


Có nên viết lại (và liệu có thể?) những cảm nghĩ đang lan man lăn tăn trong tâm trí mình này không? 

Vì mình vừa chạm nhẹ vào khoảnh khắc mà thốt nhiên mọi điều đều sáng tỏ minh bạch. Về cuộc đời. Về những gì mình đã/đang cảm nhận-như về những nét nhạc của TCS, những vần thơ BG. Về việc diễn giải để trả lời cho câu hỏi (băn khoăn) của chị HY-rằng ta có hiểu giống nhau không từ một sự vụ nọ.

Thường khi là lúc nửa đêm hay tàn canh bất chợt tỉnh giấc, trong tâm trí mình ngân nga 1 đoạn dài tự sự, như 1 bài luận văn đang trầm bổng bên trong. Về một điều gì rất hay, lạ và thoáng qua. Mình tỉnh dậy, tái hiện lại trong mơ màng. Biết rõ nếu tỉnh ra sẽ quên hay bất lực để níu kéo. Dù là viết ra hay nói thành lời.

Vừa rồi mình lại tỉnh giấc khi trong tâm trí ngân nga giai điệu "mỗi ngày tôi chọn một niềm vui" (của TCS) từ 1 đoạn quảng cáo của ACB Bank trên TV. Hồi trước mình đã chú ý nó vì khung hình sạch, đẹp, gọn gàng, khoẻ khoắn. Đi kèm là cách hát mới mẻ, trẻ, khoẻ khoắn, thoát ra như dòng suối đổ vậy. Nó hợp và mới. Cả về âm sắc cũng như nội dung. Dù xa lạ với ngữ cảnh gốc của bài hát đến nhường nào.

Mình nằm miên man và tưởng tượng đến giọng TCS hát mấy câu này. Giọng hát nhẹ và hơi yếu nên thường xử lí cao độ bằng cả âm sắc và lấy hơi bằng kỹ thuật rất tự nhiên. Câu hát sẽ nhẹ nhõm, thong thả và giàu âm sắc. Run rẩy, thoảng qua, phân vân, vô định như tơ mây...là 1 điều gì đó vân vi bất hoặc của 1 dòng xúc cảm không giới hạn. Miên viễn, thảng hoặc và lồng lộng. Con người nhỏ bé và yếu đuối. Rung rinh chạm nhẹ vào điều đó. Cũng nhẹ nhàng như mây. Con người phân vân và hoang mang. Rụt rè, khẽ khàng chạm vào nó. Chút tình như gió thoảng. Nghẹn ngào nhỏ lệ giữa buổi chiều lồng lộng. Giữa thinh không vô cơn cớ.

Rồi mình nghĩ đến giọng hát của KL. Nếu cô hát sẽ thế này: giống trong đoạn quảng cáo kia về sự liền lạc của giai điệu, nhác giống màu phân vân trong sắc thái nhả âm từ cách hát TCS. Nhưng nó chỉ nhàu nhĩ, mê muội, đáng thương cảm mà không tự thức. Phải, điều khác biệt lớn nhất chính là sắc thái tự thức, tự nội, run rẩy mà dạn dĩ, phân vân lại quả quyết, hoang mang và khoáng đãng-không đầu không cuối, vô thường mà thường, vô cớ mà lại tự nguồn căn rất xa xôi đâu đó muôn thuở gió. Vì thế cả 2 cách kia đều thiếu sự khiêm nhường vô ngã vô tỉ li ti thơ thẩn đây đó nọ kia giữa dòng đời oàm oạp tứ bề.

Tất cả là vì trải nghiệm, nguồn cơn, thời khắc không đồng tuy cùng khởi ra từ 1 nét giai điệu "tén tèn ten tẻn tẹn tèn ten". Nếu đường ký âm đầu của giai điệu trơn tru liền lạc và thanh thoát khoẻ khoắn thì đường ký âm của cách hát KL sẽ tiêu tao run rẩy hao hao 1 đường. Nhưng cách hát TCS có lẽ sẽ khác. Từng chỗ 1 đang lên sẽ có bề đi xuống, đang ngang bỗng ngửa, đang đứng bỗng ngồi. Thoảng hoặc, đậm nhạt vô hồi. Mỗi lát cắt đều tiêu tao thanh thoát. Nhưng chẳng có 1 tổng thể nào cả.


Rồi mình nghĩ về những vần thơ của BG. Cũng cùng 1 sự vụ phiêu bồng, sơ khởi miên viễn như nhau. Cũng vô cơn cớ và không hình hài. Cũng những tâm sự riêng tây rưng rưng thoắt nhiên chạm nhẹ vào hư vô. Cũng đương nhiên thấy riêng đời mình là không đáng kể. Cũng mịt mù trong ngộ nhận tả tơi. Ngộ nhận là đương nhiên phải thế. Và lật mặt kia là sương khói vô bề của vô ngã vô thuỷ vô chung.

Em không nghe mùa thu
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng rơi


Nên chi tương phùng ngẫu nhĩ gặp nhau thì xướng hoạ thản nhiên. Rồi lại miên man vô căn cớ. Trong nỗi tự nội đau đáu khôn cùng. "Xin chào nhau giữa con đường/Mùa xuân phía trước miên trường phía sau".

Người thơ ăn vận như trăng. Cái người thơ ân cần nâng niu là xướng hoạ thản nhiên chứ chẳng phải chỗ nguồn cơn này nọ, Và đầu kia của cán cân tinh thần không phải là một đối lập. Thực ra là bên kia. Bên kia là nguồn cơn đa đoan, phân vân, bộn bề giữa đời oàm oạp tứ bề. Đa đoan là duyên cớ mọi điều. Và nỗi đau là sợ mình hết đa đoan. Lại ghét mình đa đoan. Vì ngã mạn còn đầy. Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.

Ô hay đất bằng mà có sóng. Vần vụ ba đào xoáy xiết tâm can. Mà cũng chỉ như vừa thoảng qua 1 giấc ngủ trưa hè. Đấy là sự vụ đa đoan ngang ngược ngửa ngang của một niềm an ủi thanh thản vô chừng.

Người thơ ăn vận như trăng
Chiều tàn nắng cũng quy y cuối trời

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Khởi động

Trong loạt sách mới mua (khoe khéo) có 2 quyển Ai&Ky. Có những lý do sau:

- Mua 2 cuốn để có thể tặng ai đó có trẻ con.

- Mua vì minh họa dễ thương.

- Để sau này dứ dứ cho bọn nhóc (khi nó đi học) bảo "Đấy ông NBC cũng được cho ăn đi học như bay đấy" :P  - Vụ này sẽ trở thành 1 cas rất thú vị để suy nghĩ: liên tưởng đến cảnh các bà đi chợ ngày xưa nhặt được mảnh giấy có chữ Nho thì mang về cất ban thờ (@Phan Khôi đại lão gia).

- Hy vọng nó cũng đem lại cho trẻ con cảm giác như khi mình học lớp 3 và đọc Tò mò đến xứ sở kỳ lạ.

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012

Mày đừng buồn khi cô ấy yêu tao
Làm sao được đời luôn là vậy
Một người yêu, yêu một người thôi
Tao cũng đã buồn nhiều như thế
Khi cái nhìn ba đứa gặp nhau

Tao với mày-thân phiêu bạt
Hai bến trời rượu uống cả cho nhau
Từ độ ấy, mày Nam tao Bắc
Chung mùa trăng và chung một ngày mưa
Ngày mưa cũ, vuốt mặt cười mày kể đã mê say
Hơi rượu ấm bừng sáng ở trên đầu
Tao gật gù, rồi sẽ đến phiên tao
Mà nói thế ai ngờ lại nhanh thế
Tao ngập ngừng..tao sợ tao sai
Đường tao chọn, mình tao còn thấy khổ
Có mày rồi, tao thấy đủ hai tay
Thêm ai nữa, thêm làm chi nữa
Thân lạc loài-tay trắng nỗi hoài nghi
Rồi
ba người
một lối đi
Ngỡ hạnh phúc đâu đây mà diệu vợi
Đã vui nhiều khi ba đứa bên nhau
Rồi quay đi ba khoảng trời cô độc
Nỗi buồn này trong sáng biết bao nhiêu
Giờ
mình tao
mải miết bên chiều
Xòe bàn tay đi mãi cùng khát vọng
Bến bờ nào vĩnh viễn có bình yên
Ở nơi đó có tình yêu không nhỉ
Sẽ đón mày và cô ấy cùng sang..

Nhìn cơn gió có còn thương mến cũ
Nắng ngang chiều trông nắng vãn bên sông..