Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

chuyện táo ngày tết

"Tất nhiên, phong cách hầu như bao giờ cũng là cái cớ nhằm né tránh những động cơ sâu xa của vở kịch: bảo một vở hài kịch của Goldoni có phong cách thuần túy "Italia" (những trò hề, những kịch điệu bộ, những cung cách khúm núm và cách ăn nói láu ta láu táu), đó là cách dễ dãi để được miễn trách nhiệm về nội dung xã hội hoặc lịch sử của tác phẩm, là cách để tháo ngòi nổ xung đột gay gắt của những quan hệ công dân, nói tóm lại đó là huyễn hoặc"

(Trích Hai huyền thoại về nền sân khấu trẻ, tập Những huyền thoại, Roland Barthes, bản dịch Phùng Văn Tửu, Nxb Tri Thức, 2008).


Một nghi thức trừ tà của xã hội

Khởi đầu là một vở hài kịch châm biếm nhỏ trên truyền hình cuối năm thành công đầy ấn tượng, từ nhiều năm nay chương trình Táo quân Tết đêm Giao thừa (Gặp nhau cuối năm) đã thành lệ, thành khuôn thước hình thức để mỗi năm công chúng phỏng đoán, chờ đợi xem năm nay các Táo sẽ đem những chuyện gì ra biếm giễu. Một cách vô tình, sự chờ đợi này tạo ra sức ép kép: một mặt chương trình truyền hình này phải bao quát phản ánh đại diện được những vấn đề thời sự của đất nước trong năm, mặt kia các nhà sản xuất phải nỗ lực tìm kiếm đem lại những thứ ấn tượng mới mẻ hấp dẫn cho công chúng - sức ép cho số mới đến ngay từ sau khi đóng lại số cũ và kéo dài cả năm, như chính những người trong cuộc thổ lộ. Sự cải biên đổi mới mỗi năm ấy không nhiều nhưng liên tục và dần dà vở hài kịch truyền hình nhỏ đã trở thành một cái gì đó quen thuộc nhưng không nghiễm nhiên và vẫn đang tự vấn về hình thức của mình, về khả năng tiếp tục duy trì hay đình bản của chính mình. Đều đặn trong những đêm 30 Tết với tính chất bản tổng kết kế toán được mất cuối năm, trong thời khắc mà người ta dù "feeling lost and feeling blue" nhưng chung cuộc sẽ là tâm lý kiêng việc kiêng sinh sự sự sinh và dành những hy vọng cho một chu kỳ mới, chương trình Táo quân Tết đã đóng vai trò một nghi thức trừ tà cuối năm của xã hội mang đầy tính chất huyễn hoặc; với những lá bùa của nó (những đĩa CD sao chép buổi ghi hình) sẽ còn hiệu nghiệm và len lỏi trong dân gian theo bước chân những người bán rong.(*)


Xét về cấu trúc và phong cách, Táo quân Tết mang nhiều dấu vết rõ ràng ảnh hưởng từ sân khấu chèo, một cảnh chèo toàn những vai hề (áo dài)! Từ cấu trúc cảnh trí sân khấu kịch nhiều tính ước lệ đến bảng phân vai của những tính cách bản chất đến kết cấu nội dung tốt nhiều hơn xấu, thiện thắng ác, đại đoàn viên... Kịch mô phỏng hành động chứ không mô phỏng con người (Aristotle). Nếu như ở vở hài kịch khởi đầu được xây dựng dựa trên các hành động tình huống xung đột gắn với những tình tiết có lịch sử riêng trong xã hội, trong hình thức mới mẻ của mình, nó đả kích, châm biếm hiện thực xã hội; thì cùng với việc kéo dài rập khuôn, trở thành một chương trình truyền hình, cấu trúc đã bị đóng khuôn và các nhân vật Táo đã được rút gọn thành các bản chất phi lịch sử, nổi bật lên trong cấu trúc tung hứng ứng biến, những tình huống được lựa chọn xoay xở cho khớp, Táo quân Tết đã trở thành một cấu trúc các khái niệm được sắp xếp theo mô dạng một huyền thoại như cách nói của Roland Barthes. 

Ở bên trên bình diện nghĩa đa tạp của tình huống, lặp đi lặp lại mỗi năm là cấu trúc hai lớp: một bộ ba kiểu quan năng (Cái nhìn quan phòng, Hành vi phản ứng, Xúc cảm trực thời) xao động vòng quanh các Bản chất, ở những tình huống kịch tính đa dạng giòn giã như pháo. Trong khoảng thời gian hầu như rảnh rỗi vô sự chờ Giao thừa, Buổi chầu là phần thời gian rỗi rãi của dân văn phòng mà Nam Tào (Xuân Bắc) là tay kế toán thạo việc, Bắc Đẩu (Công Lý) là cô thư ký đồng bóng và Ngọc Hoàng (Quốc Khánh) là anh trưởng phòng lõi đời cùng nhau chém gió, buôn dưa lê những chuyện trong nhà ngoài phố theo cái nhịp đời sống tiểu tư sản của họ: chuyện đi đường, chuyện con cái đi học, tiền điện, tiền xăng. Những chuyện ấy có cái kịch tính cá nhân chốc lát, nhiều bức xúc và lây lan bất chấp nhân quả logic nhưng chung cuộc là vô thưởng vô phạt, sao cũng được miễn là được nói ra, xả ra thật nhiều, thật chi tiết và cường điệu.

Quy cách bó buộc đơn điệu về tư tưởng sẽ cần được bù trừ bằng khối lượng hình thức, các tình tiết khoa trương đến bão hòa. Một tập đại thành dân ca hò vè đến nhạc phim sẽ được huy động. Phục trang, phụ kiện...danh mục các đồ vật liên tục được đưa vào sân khấu - không chỉ còn từ hai bên cánh gà mà từ trong phông tiến ra, từ trên cao đu dây xuống, trong khói trong mù và tiếng nhạc. Công chúng chờ đợi thưởng thức một đoạn ca thật dài thật mùi của Tự Long, cái hẩy tay hất tóc phát gớm của Công Lý hay điệu bộ oặt dẹo liến thoắng của Vân Dung. Các diễn viên sẽ thực sự rất vất vả, đổ mồi hôi và tận hiến những cao trào ngẫu hứng bột phát và công chúng cũng chỉ chờ đợi những tình tiết ấy, để hưởng ứng, sao nhại và truyền khẩu râm ran trong những câu chuyện trà thuốc mấy ngày Tết. Phản ứng xã hội sẽ được cô đặc lại trong những câu nói tâm đắc, trúng, độc kiểu "Thông và Dục, Táo đầu gấu hàng đầu thiên đình" (mô phỏng quảng cáo phản cảm bình lọc nước Kangaroo) và thế là những xung đột gay gắt của quan hệ công dân coi như đã được tháo ngòi nổ. Những bức xúc đã được đặt cho một cái tên và được biểu hiện theo kiểu hiển nhiên, tan loãng vào đám đông vô danh.

Mấy từ vựng

Xuân Bắc: Nam Tào, anh Tào, tay kế toán trẻ Thiên Đình thạo việc và ranh mãnh, chuyên gia tung hứng đưa đẩy. Bột phát nhưng ứng biến, điều chỉnh nhanh. Là biểu trưng kiểu hành vi phản ứng.

Công Lý: Bắc Đẩu, Đẩu, cô thư ký văn phòng đồng bóng, đa sự, bốp chát, dễ xoa dịu bằng phỉnh nịnh. Kiểu loại xúc cảm trực thời.

Quốc Khánh: Ngọc Hoàng, anh Hoàng, anh trưởng phòng tẩm ngẩm, ủ ê, vừa vừa phai phải. Nói lời cuối kiểu mô tả.

Chí Trung: Táo Giao thông, Thông, lĩnh vực của vận động, liên lạc, vận chuyển kết nối. Biến báo, được chăng hay chớ, thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm, giọng em thiên hạ.

Vân Dung: Táo Y tế, cô Tế, một lĩnh vực không có gì thay đổi, không có gì nhiều để nói (nói không ăn thua). Trong hiệu ứng ngược của biểu trưng, phần bù hình thức là nói to, lánh lót, liến thoắng, loăng quăng, ngoằn nghoèo, dẹo.

Những vấn đề xã hội phức tạp đa chiều, nơi phải có ai đó chịu trách nhiệm, phải thay đổi hoặc bị thay đổi đã chuyển hóa thành các vai Táo vốn được mô tả trong chiều kích cá nhân, như những tính cách điển hình của những người làm công ăn lương có khổ, có công. Qua sự chiêu dụ của thủ pháp nhân cách hóa, dung tục hóa, đời thường hóa mọi sự, công chúng sẽ thấy mình trong những bung xung đó và chấp nhận nguyên trạng. Ở đâu đó, "người dân" luôn là một đám mờ nhạt, ý kiến vụt chạc.(**)

Comming out

Trong các vai diễn, Đẩu là nhân vật có sự chuyển đổi rõ nét nhất trong hành trạng, tính khí - một quá trình comming out theo đúng nghĩa đen. Là biểu trưng của cảm xúc trực thời, Đẩu đã có thể hoàn toàn thoải mái thể hiện cảm xúc của mình trong cách thức "khó coi". Cô hồn nữ tính đã thành đồng bóng thuần túy một cách thoải mái, nghiễm nhiên. Công chúng thân mến, những bức xúc của anh chị nó thực ra là khó coi lắm, và vì vậy nó đáng ngờ.

Câu chuyện của Đẩu là một biểu trưng kép: trong tiến trình comming out của giới thứ ba, thay vì những đấu tranh nỗ lực để đặt được chủ đề của mình vào chương trình nghị sự trong truyền thông của xã hội thì kết quả lại chỉ là những ám chỉ bông lơn, tục gớm trước cái cười mỉm của thiên hạ. Ở bình diện những câu chuyện chung của xã hội một năm cũng vậy, được nêu ra để bông lơn, chỉ lởn vởn, mù mờ như tà khí mà ánh sáng lấp lánh, ấm áp và những bè đồng ca chào xuân sau rốt sẽ thanh tẩy tất cả! Chiều tắm nước mùi già, tối xem tàn buổi chầu truyền hình, ai ai cũng đã cảm thấy nhẹ nhõm (cái nhẹ nhõm phải từng bị táo mới hiểu), có thể ra sân đêm ba mươi xem pháo hoa một lát rồi đi ngủ. Hết giao thừa, năm mới đến một lúc thì đi ngủ.
----------------




(*) Nghe kể có chuyện có ông bộ trưởng rất thân tình với CT, năm nọ đã mời cả đội Táo về nhà diễn và nhậu vui xuân. Nói chung tiết mục Táo quân là bán được.

(**) Một phép so sánh: thử tưởng tượng nếu Đoàn Văn Vươn nhận được một chỗ trong vở để tìm kiếm tên gọi chính xác cho tội danh của mình: giết người hay phòng vệ quá mức?

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Nhớ lại. Nothing

Nhớ lại thời Gấu tập nói.
---------------------

1.
Dạo này thường viết về đêm. Lý do cũng đơn giản: phải chẳng vì cái gì cả thì mới viết được. Giờ ban ngày có vì cái gì rồi nên đêm đến mới linh tinh được. Chẳng vì cái gì, chẳng có gì cũng đang an ủi bác Gauxx nhà bên kia. Mỗi lần xem phần Map overlay của Google Analytics tôi thích theo rõi xem ai ở đâu đã đọc blog của mình. Những chấm trên bản đồ địa cầu gợi liên tưởng đến cái nhìn những đốm sáng dưới mặt đất khi bay đêm của S.Éxupery trong Terre des homme. Tôi chú ý những thành phố chỉ có một người thường xuyên theo rõi blog mình và tưởng tượng về họ, trong những thành phố ước lệ-đâu đó ở VN, đâu đó ở các châu lục xa lạ. Tưởng tượng cứu rỗi cuộc sống nhiều ngang với những tác dụng phụ của nó. Chúng ta có thể hiểu được thế giới không là một câu hỏi khó và khá rắc rối. Nhưng chúng ta đang cảm nhận thế giới và cần nuôi dưỡng khả năng cảm nhận thế giới vì đó là cách chúng ta đi đến cuộc đời này. Hai bố con tôi chơi trò bắt chước tiếng chó sủa khi xem ảnh con chó trên xe ô tô thò đầu ra. Gấu đang tập nói và đó là hầu hết vốn liếng về chó của Gấu lúc này. Âu âu âu âu...Hehe, bố chợt nghĩ rằng những bài viết khuya của bố rất giống những tiếng tru đêm Gấu ạ. Auuuuuu...

2.
Ngẫu nhiên thế quái nào ô tô cũng đang là chủ đề của Hà Nội tối nay qua bài viết của 2 bác VMC (Khai giảng trường con nhà giàu) và TQ (Bốn bánh bay lên đỉnh). Bây giờ bạn bè gặp nhau chủ đề ô tô cũng thường là sôi nổi nhất. Các bác sĩ phu chơi hoa lan (không nói 2 bác trên :), mình nghĩ câu chuyện nhàn đàm tối nay nên hướng vấn đề về phía không phải là cái ô tô mà là ý nghĩa của việc đã sở hữu nó chứ nhỉ? Đó là câu hỏi về ý nghĩamột lúc nào đó chúng ta sẽ suy nghĩ về ý nghĩa. Việc câu hỏi đó buột ra trong lúc ngồi ô tô hẳn là một tình huống thiết thân hơn rất nhiều trường hợp đau đáu sau khi đọc một cuốn sách 1ooo trang? Tất nhiên ô tô chỉ là một ẩn dụ và có thể thay nó bằng bất cứ cái gì. Nói chuyện với bạn cũ, vấn đề ý nghĩa cứ lởn vởn khăm khẳm xung quanh. Sẽ tốt hơn nếu bạn nhìn nó một cách trực diện và chân thành. Khả năng cao là khá hẫng hụt. Hơi buồn cười khi được/bị nghĩ là "chuyên về văn hóa". Nếu văn hóa là cách thái ứng xử với xung-quanh và với chính mình thì không thể có chuyên gia văn hóa mà chỉ có con người - Người-thật-là-người như cách diễn dịch của Nhượng Tống - và văn hóa không phải là để làm dáng theo sở thích hay trào lưu. Do vậy theo mình văn hóa là thứ có thể mày mò tự học nhưng nhất định không nên chỉ là học lỏm. Một cái nhìn chăm chú, có thể nói như thế nếu không thích dùng chữ Học trong trường hợp này.

3.
Nhưng nếu không có ý nghĩa (tuyệt đối) thì sao? Thì cũng chỉ là không có ý nghĩa thôi mà! Câu hỏi về ý nghĩa sẽ trở thành câu hỏi về tính chính đáng của nhu cầu phải có một ý nghĩa. Trong phương pháp luận NCKH người ta có tiêu chuẩn về vấn đề nghiên cứu là: vấn đề nên phát biểu dạng câu hỏi và câu hỏi tốt thì không phải là dạng câu trả lời tiềm năng. Trong trường hợp này chúng ta sẽ cùng nhau chuyển thẳng sang vấn đề về sự bận tâm ("vì nó được hình thành về mặt thời gian, tồn tại con người là sự "bận tâm" (Sorge) xét về cấu trúc"-MH).

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

carnets. Phương tiện là tùy duyên tiếp vật


Nếu giao tiếp là trao đổi cho nhau một_điều_gì_có_nghĩa thì chúng ta giao tiếp thật nản. Và từ đó nhìn sang Silent Party thì điều đó rất rõ nghĩa.
Giống như khi triết học ngôn ngữ phân biệt diễn ngôn với lời nó ở chỗ nó trao đổi luận cứ chứ không chỉ thông tin. Đó là 1 phía của sự triệt để của lời.
Ở phía ngược lại, hãy tham khảo cuốn "Thiền trong nghệ thuật bắn cung" - nó mô tả tinh vi lĩnh vực những phạm trù, mệnh đề bất khả quy giản mà qua đó nó phải dựa vào những thứ tri thức sống, tri thức làm (Lyotard) như là nghệ thuật...những thực hành có tính đào luyện.
Con người cá nhân luận sẽ được vượt qua để thành chủ thể có đào luyện.

Hay quan sát một buổi offline, hay gặp bạn cũ chẳng hạn: chúng ta ko nói chuyện thực sự, chúng ta tìm những thứ tầm tầm (cái này rất hay để khai triển), tức là kiểu thăm dò nhau, tránh xung đột - nhưng vì sao? Là để duy trì kết nối thực tế của những chủ thể có thân xác. Có lẽ ngôn ngữ hình thể của chúng ta cũng đã có cuộc trao đổi nào đó.
Nếu ghi âm lại một cuộc tám chuyện bạn bè, sẽ nhận ra rất rõ họ có trao đổi không? Hầu hết là những khuôn mẫu. Và nếu nhìn từ góc độ tín hiệu học thì may ra: họ trao đổi những tín hiệu văn hóa nhất định, nhưng không chủ ý.
Do vậy, Silent Party mở ra một thách thức trải nghiệm hay để mở đầu. Tôi có đọc ở đâu đó về phép tu của Mật Tông (Kim Cang Thừa): họ có lần bịt mắt 3 tháng và có lần bịt tai 3 tháng để đào sâu trải nghiệm...

Tất nhiên ta hiểu rằng cũng như khi McLuhan coi phương tiện truyền thông nối dài khả năng tri giác của con người, ở đây là chuyện tắt bớt tri giác đi, ta sẽ thấy sự phiến diện của nhận thức và vai trò của cái Tâm nhận thức siêu hình. Tức là vẫn phải từ cái ý thức chủ định của chủ thể trước đã rồi những khả thể mới đến. Phép tu phải có hậu cảnh tín niệm, một event phải có 1 hậu cảnh lý thuyết nhất định thì cuộc chơi trình diễn tập thể (ko phân định nghệ sỹ - khán giả) mới có cơ hội trở thành 1 cái gì đó. Nhưng từ góc độ một trò chơi, miễn ngay từ đầu đã có một ấn tượng trực thời gây shock thì đã rất sáng tạo.

Các dự án trên Fb dựa căn bản vào tính lây truyền mạnh mẽ của nó qua các chủ thể (ảo). Nó cho ta 2 khả năng: hoặc bị lôi cuốn, biến mất, đánh mất mình trong khả năng phản tư (giữ khoảng cách với chính mình) do đó là nạn nhân của hiệu ứng PR. Nhìn từ góc độ này thì nó không có gì mới để đáng nói cả.
Trong góc độ thứ 2, tính lây lan của Fb tuy vậy vẫn không làm mất cái chủ quyền chủ thể có căn tính. Theo góc độ này thì quả thực mạng xã hội giúp ta thêm 1 không gian công để tụ hội và trao_đổi hay kết_nối. Điều này cần pha trộn với kết nối thực nữa.
Ta tìm kiếm dễ hơn và ta có thể phán đoán giá trị, nhưng ta cần kiểm nghiệm thực tế. Sau đó đánh giá chúng và không gian mạng lại giúp ta nối dài các trao đổi, và do vậy nó chuyên sâu hơn.
Thực tế các buổi sự kiện tôi tham dự gần đây cho thấy rất rõ sự khác biệt giữa hoàn cảnh nói lý tưởng và hoàn cảnh nói thực tế.
Nó bất cân xứng, do vậy việc tổ chức các dự án dựa vào mạng xã hội có ưu điểm đầu tiên là nó mở rộng công bằng, chủ động của các bên.
------------
(từ một trao đổi ngắn online về mạng xã hội với anh Gauxx)

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

C(q)uốc lủi tại dân gian


Một ngôn ngữ của cộng đồng

Khi đến một vùng đất lạ, nếu muốn tỏ ra thân thiện thì có thể nói chuyện với những người mới gặp lần đầu về một loại rượu ngon nổi tiếng của địa phương ấy. Nếu anh có thể kể ra cái quán đó, chỗ đó uống rượu hay lắm, hợp lắm thì sẽ gây ấn tượng rất tốt. Nhưng anh còn thuộc những lề lối của dân nhậu nơi ấy, như là uống xong phải bắt tay ở Tây Bắc, xoay tua ở miền Tây...thì anh hầu như sẽ được coi trọng trong lần sơ giao.

"Vô tửu bất thành lễ", hành vi xã giao phổ biến này ngầm biểu thị rằng anh thừa nhận, anh biết và đã từng tham dự vào những nghi thức giao tiếp của một cộng đồng ở trung tâm căn tính của nó. Và thứ rượu nấu trong dân có gắn tên riêng kia là một ký hiệu quan trọng để nhận thấy, mở ra những tương tác giao tình song phương.

Rượu quê mà có tên riêng nổi danh trên toàn quốc thì cũng không phải là nhiều, người lịch duyệt bình thường có thể kể được chừng trên dưới chục cái tên khác nhau là đã khá lắm - thường là gắn với các địa danh, các tên làng tên đất, những làng Vân, Bàu Đá, Gò Đen... Nhưng bộ căn cước của rượu quê còn có rất nhiều cấp độ, gắn đến từng chòm xóm, những cộng đồng nhỏ, nơi mọi người đều biết nhau và cùng đồng ý rượu nhà ông A hay bà B là ngon nhất! Thường thì trong làng xóm sẽ có một vài nhà tự nấu rượu và cung cấp cho một phạm vi hẹp bà con lối xóm. Một kiểu nghề thủ công lúc nông nhàn, nếu ai muốn mua nhiều thì phải đặt trước, thậm chí là mang đúng loại gạo nếp ngon mình muốn nấu đến đặt cũng được. Những loại rượu quê tự nấu này có một thị trường nhỏ, khu biệt trong một cộng đồng nơi mọi người đều quen biết, có mối liên hệ qua lại với nhau. Rượu không đơn giản chỉ là một loại thức uống mà hiển nhiên trong những tập tục, lễ tiết, gắn với mọi nhịp điệu đời sống văn hóa cộng đồng nông thôn những tiết lễ giỗ chạp, "đám cưới, đám ma, tân gia, nhập trạch".

Người ta uống rượu quê tự nấu không hẳn vì nó rẻ. Lý do hay được nêu ra nhất đấy là vì nguồn gốc có tính chất tự nhiên của nó khác với rượu nhà máy hạng trung bình khác "sốc", "nặng", "gắt", "hóa chất". Và để đối chứng thì còn thêm lý do "rượu này là rượu nếp nhà ông A nấu đấy!". Trong một lĩnh vực sản xuất mà chất lượng của sản phẩm phụ thuộc hoàn toàn vào bí quyết thứ men gia truyền, kinh nghiệm của người làm và cả nguyên vật liệu quan trọng là nguồn nước được sử dụng thì một lần nữa, cái tiêu chuẩn biết được, tin được, đã được chiết xuất từ văn hóa cộng đồng tiền đô thị hóa rồi ngưng tụ trong tập quán uống rượu nhà quê. Cái chất cảm "trong vắt", "sủi tăm", "sánh", "êm", "đượm"...của rượu nấu biểu đạt tính tinh chất, nguồn cội từ trung tâm cái căn tính quan trọng nhất của làng quê: men, gạo (của đất) và nước nguồn thông qua sự trung giới của lửa và bởi năng lực của người làng mình.

Cùng nhau uống một chén rượu cũng tức là chuyển những tín hiệu xã giao sang bình diện cốt lõi, thực chứng bằng cảm nghiệm thân thể và từ đó Lời được thốt ra theo một kiểu xuất tiết ít chủ tâm(*) từ một trung tâm sâu thẳm hơn, thành thực hơn (trong quan niệm của đại chúng). "Rượu vào lời ra", những lời nói trong cuộc rượu phần nhiều là những khuôn mẫu có tính chất tiên kiến cá nhân - để nói ra, biểu thị ra hơn là để nghe. Nhìn từ ngoài, nó giống như một nghi thức kiểu nhập đồng mà ở đó các thành viên cùng hòa vào một nhịp chung ở một bình diện khác có tính chất cộng thông hơn là những trao đổi thông tin.


Giữa đám đông cô đơn và dưới ánh sáng của tiêu dùng

Rượu nhà quê có một lối lên thành phố, thâm nhập vào thành phố theo kiểu li hương: nó được mang theo hay được trao tặng, gửi gắm như một thứ quà quê cho những người con của gia tộc, quê xứ nơi thành thị. Đến chơi nhà một ai đó, khi gia chủ tự tay rót cốc rượu được giới thiệu là rượu ngon ở quê mình thì chính là cái hình ảnh biểu trưng sống động của một dòng chảy từ nguồn cội văn hóa đã liền lạc liên lỉ trong cả không gian lẫn thời gian đời người. Những quán "rượu dân tộc" cũng là một hình ảnh nối dài của con đường li hương này. Nhưng trong xã hội đô thị hiện đại, nó sớm lẫn lộn trong trạng thái bị nhại, bị phóng đại và đáng ngờ. Cộng đồng luôn là một khái niệm không quá rộng rãi về không gian.

Nhưng rượu quê còn có một đời sống tha hương khác, tiêu điều hơn, xơ xác, lạc lõng và lạt lẽo trong đô thị. Đó là thứ rượu không nhãn mác, vô danh, rẻ tiền len lỏi khắp các quán ăn, quán nhậu bình dân ở thành phố, chủ yếu ở vùng ngoại vi. Loại rượu này không được thị dân trung lưu ưa chuộng, ít đáng tin bằng rượu Vodka nhà máy. Nó không còn thuộc về một cộng đồng có căn cước nào cả, nhạt nhẽo và rẻ tiền đích thực trong xã hội đô thị của những cá nhân lạc lõng, những thành phần phi căn tính. Bị coi thường, bị làm giả từ chính những hóa chất công nghiệp, gây hại và là nguy cơ tiềm ẩn phải chấp nhận khi không được lựa chọn. Và từ bị nghi ngờ và coi thường đến bị cấm đoán chỉ còn là vấn đề thời điểm. Điều mỉa mai là ở chỗ thứ rượu hạ đẳng này được so sánh với chính những dòng rượu công nghiệp đại chúng khác - những thức uống "sốc", "nặng", "gắt", "hóa chất"...bây giờ dẫu sao còn có một căn cước tối thiểu để đặt lòng tin cho con người đô thị.


Lủi tại dân gian

Cùng với tiến trình đô thị hóa là quá trình phân rã của xã hội truyền thống mang tính cộng đồng chuyển sang xã hội tiêu thụ đại chúng. Có lẽ thứ rượu nhà quê tự nấu, cái biểu đạt cho văn hóa cộng đồng nhỏ thân quen lẫn nhau với nhịp điệu đời sống chậm rãi, bình ổn sẽ khó lòng mà minh định được là còn chiếm bao nhiêu trong con số 90% lượng rượu nấu thủ công của 350 triệu lít rượu được người Việt tiêu dùng mỗi năm (**). Việc kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn là trách nhiệm của chính quyền. Tự bản thân những cơ sở sản xuất thủ công lớn, sản xuất kinh doanh đại trà cũng phải nhận thức được việc đăng kiểm nhãn hàng của mình - nó đã đặt bước chân đầu tiên vào trình độ đô thị hóa rồi. Nhưng còn thứ rượu nấu của nhà quê, thứ "cao gạo" trong vắt, sủi tăm và sóng sánh, cốt cách nguồn cội của cộng đồng làng quê thì sẽ phải ứng xử ra sao? Rượu đã được cất hàng nghìn năm trong những làng xóm. Rượu cũng đã bị cấm ngặt nhiều lần. Nhưng nếu "văn hóa là cái còn lại" thì với tư cách là cái biểu đạt của văn hóa cộng đồng dân gian, có lẽ lại một lần nữa, rượu nhà quê sẽ chẳng mất đi đâu cả - Nó chỉ lủi tại dân gian như nó đã từng là như thế.
-----------------


(*) - Bắt chiếc chữ của R.Barthes, Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, nxb Tri Thức. Cũng phải nhận rằng bài viết này lấy cảm hứng và chịu ảnh hưởng từ bài viết về rượu vang của ổng ^^ (Về ý uống rượu hay nói thật tôi cho là không phải: rượu chỉ làm người ta nói ra những điều bình thường không nói. Điều đó vẫn khác với nói Thật).

(**) - http://vi.wikipedia.org/wiki/R%C6%B0%E1%BB%A3u_tr%E1%BA%AFng#cite_note-docbao-9

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland.2

a.
Chương 6, Nhận thức, sáng tạo, thấu tỏ

- Nghệ thuật truyền thông: nó có thể truyền thông cảm xúc và sự xúc động, hoặc tư duy và ý tưởng. (248)

- Diễn giải đóng vai trò quan trọng bởi nó tường giải việc nghệ thuật làm thế bằng cách nào. Nghệ thuật có được ý nghĩa phần nào từ chính văn cảnh của nó. (248)

- Dẫu không một diễn giải nào là "đúng" theo nghĩa tuyệt đối, dường như có một số diễn giải nghệ thuật tốt hơn những cái khác. (250)

- Các diễn giải tốt nhất luôn tập trung vào cả phong cách mô dạng lẫn nội dung tác phẩm (của Bacon). (255)

* Lý thuyết biểu lộ:
- Nghệ thuật biểu lộ và truyền thông sự xúc động tới công chúng.
- Tuy nhiên nỗi xúc động không cố định trong nghệ sỹ - "tính biểu lộ nằm trong tác phẩm"
- Vả lại nghệ thuật có thể biểu lộ, truyền tải các ý tưởng cũng như cảm xúc
                    -> Mở rộng định nghĩa cảm xúc
                    -> Mối quan hệ với chính mình trong sáng tác của nghệ sỹ (xem thêm Bohm về sự thông đạt - On dialogue)

*Lý thuyết nhận thức: thuyết dụng hành
- John Dewey: (i) tri thức sử dụng (knowledge how), (ii) tri thức cảm xúc (emotional knowledge).
- Nghệ thuật là công cụ - tạo khả năng nắm bắt thực tại - phong phú tri giác - truyền thông những thứ bất khả quy giản thành mệnh đề.

- Nelson Goodman: Các ngôn ngữ nghệ thuật (Languages of Art) - chịu ảnh hưởng từ ngành tâm lý học tri giác (perceptual psychology).


Chương 7, Số hóa và sự truyền bá

[Mở rộng khả năng tri giác và thay đổi có tính cách điều kiện, sự phản tư]

- Walter Benjamin: anh hoa (aura) bị uế tạp - quyền năng tôn giáo/sự duy nhất.
                       + Điện ảnh nới rộng khả năng tri giác.

- Marshall McLuhan: "phương tiện truyền thông chính là thông điệp"
                       + Truyền hình: khuyến khích kiểu tư duy phi tuyến tính và theo lối tranh khảm.
                       + nhấn mạnh xúc giác/thính giác/biểu lộ nét mặt.

- Bill Viola: [phản đối ý kiến truyền thông mở rộng khả năng tri giác] nghệ sỹ phải làm việc trước đã, rồi mới đạt tới sự tri giác nâng cao.

- Jean Baudrillard: công chúng không chỉ lơ đãng mà biến mất (trước màn hình vi tính, trong những đường hầm).
                        + Hiện thực phì đại (thậm phồn?): hyperreal
                        + Bản đội lốt (simulution): đám cưới trong những cảnh quay phim...

* Không gian số: 2 lựa chọn
- Sự vắng rỗng, cái ác vô hình/sự tự quyến dụ trước đám đông thông qua bản đội lốt...
- (hay) nơi chốn cho kết nối cộng đồng cũng như sự khám phá cảm giác - đem lại ích lợi, trí tuệ, sáng tạo...

*Kết luận:
- Richard Anderson: "nghệ thuật là ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa, được mã hóa khéo léo trong một chất liệu gợi cảm và gây xúc động"

- Robert Irwin: "nghệ thuật là một khảo sát liên tiếp vào nhận thức tri giác của chúng ta và là một nới rộng liên tiếp cho nhận thức của chúng ta về thế giới xung quanh"

[Xem thêm]
- Diawa Raffman: Ngôn ngữ, âm nhạc, và trí tuệ (Language, Music, and Mind)


b.
Ở phần trước tôi thử cố gắng viết theo kiểu tóm tắt điểm sách có mạch lạc. Nhưng trong mạch lạc có cái gì đó bị thất thoát. Nên ở phần này tôi xếp bên cạnh một dạng bản chép tay (carnets) - để_ngắm_nghía. Vừa hay ngẫu nhiên đọc lại ghi chép "Bên cạnh đúng-sai" ngày trước thấy có nhiều điểm thú vị để suy nghĩ thêm. Nhét thêm một đống labels để lấy từ khóa tìm sách đọc ^^

Đọc lại - Bên cạnh đúng-sai

Suy nghĩ bất chợt về nghệ thuật

Nghệ thuật, cốt yếu ở chỗ tái tạo cảm xúc và bắt đầu từ cảm tính. Không hẳn ý nghĩa đến sau mà có vẻ nó đến trong nhập nhằng. Khi xem 1 vũ công khiêu vũ trên băng thì cảm hứng mỹ cảm đến trước hết với tôi. Nhưng cũng có thể vì tôi chưa am hiểu và có kinh nghiệm về kỹ thuật của bộ môn này. Lại là nói về sự đào luyện. Rõ ràng những người có kinh nghiệm luyện tập trong 1 bộ môn nào đó sẽ thường có khả năng cảm nhận tinh tế hơn về bộ môn đó. Phải chăng ngay cả xúc cảm thẩm mỹ cũng chỉ quy về việc "tập và quen" trong 1 ngữ cảnh văn hoá nhất định?

"Mọi sự miêu tả cảm tính bất kỳ một vật thể sống hay hiện tượng nào từ giác độ trạng thái cuối cùng của nó, hay là dưới ánh sáng của thế giới tương lai, sẽ là tác phẩm nghệ thuật.” - Soloviev.


Dụng học của tri thức tự sự

Dưới hình thức 1 Báo cáo thẩm định nhưng sự thực thì cuốn "La condition Postmodern"/Hoàn cảnh hậu hiện đại-của F.L có tính chất như 1 đề cương lớn cho những ai muốn tìm hiểu những điều ông đã thực sự phát biểu trong những dòng giản lược. Nhưng hễ có thân phận con người thì thảy đều có quyền triết lý (K.Jasper), cuốn sách vạch ra những khía cạnh căn bản của 1 tổng thể tri thức thời đại (1979).

F.L tiếp cận vấn đề bằng khái niệm "các trò chơi ngôn ngữ" (ngữ dụng học, Wittgenstein hậu kỳ-theo BVNS) và nếu chấp nhận sự tiếp cận này thì sẽ đi cùng ông đến các khái niệm về "tri thức tự sự", "tri thức khoa học", "phát ngôn sở thị", "nhận thức"...Theo cách này tôi thấy rõ ràng hơn khi nhìn lại câu chuyện về "học lệch" rất phổ biến ở VN (mà trong 1 entry của chị HY có đề cập đến-trong câu chuyện với con trai). Bản thân tôi cũng có những kinh nghiệm khá sâu sắc với chuyện này. Từ hồi cấp 1, các giáo viên trường tôi luôn vận động các học sinh khá giỏi rằng "học năng khiếu là học lệch".

Bệnh thành tích của GD địa phương đã sáng tạo ra những giải pháp chiết trung tiện lợi: chúng tôi thường tham gia "thi hộ"-"thi cùng" với các đội tuyển của trường NK. Coi như là học sinh của cả 2 trường. Càng học lên thì tâm lý "môn chính-môn phụ" càng nặng nề. Lễ, Tết theo đó cũng có nặng nhẹ khác nhau. Còn nhớ năm lớp 7, cô giáo Sinh và thầy giáo Hoạ có phê phán công khai chúng tôi trước lớp về tâm lý này. Ông thầy có nói 1 câu "sau này ra đời chưa chắc các em sẽ sống bằng kiến thức Văn, Toán. Rất có thể là Nhạc, Hoạ. Lúc đó hãy kiểm nghiệm lại lời tôi.". Điều này kể cũng có tác dụng phản tỉnh và cuộc sống về sau cũng cho những phản tỉnh thường xuyên.

Nhưng có 1 điều canh cánh mơ hồ thường trực là cảm giác hình như câu chuyện có cái gì đó lệch dòng, chệch choạc khi tri thức được phân chia thành các ngăn riêng rẽ. Sau này lại thấy thêm 1 cái gì đó chệch choạc hơn nữa khi mọi thứ (chủ yếu ở VN) đều tìm cách hợp thức hoá bằng mấy chữ "có tính khoa học". Ngay cả các ngành nhân văn cũng tìm cách "khoa học hoá" bộ môn của mình. Xa hơn nữa thì là câu chuyện lược quy chân lý vào Logic hình thức. Định lý bất toàn của Kurt Godel trong Toán học thường được viện dẫn trong nhiều diễn ngôn phong phú thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trong mục 6 "Dụng học của tri thức tự sự", Lyotard phân biệt các khái niệm "nhận thức", "tri thức", "khoa học" đồng thời bàn về các hệ tiêu chí khác nhau. Theo ông, "tri thức không đồng nhất với khoa học, đặc biệt dưới dạng hiện nay của nó" và "tri thức nói chung không quy về khoa học và thậm chí về nhận thức". Để hiểu rõ điều này cần nắm được cách định nghĩa của Aristote về "sở thị": "Mọi lời nói đều biểu thị cái gì đó, nhưng không phải mọi lời nói đều là sở thị. Chỉ là sở thị cái mà có thể nói về nó là đúng hay sai. Nhưng, điều này không phải bao giờ cũng làm được: chẳng hạn lời cầu nguyện là một lời nói nhưng nó không đúng không sai" (Péri herménèias; 4,17a)-(dẫn theo sách).

Nhận thức, do vậy, được giới hạn bằng tiêu chí "có thể qui về đúng sai". Khoa học là tập con của nhận thức. Nó kèm theo 2 tiêu chí là đối tượng mà chúng phản ánh phải dễ đệ qui, và do đó, phải ở trong hoàn cảnh được quan sát rõ ràng; hai là có khả năng quyết định mỗi phát ngôn này là thuộc về hay không thuộc về 1 ngôn ngữ mà giới chuyên gia cho là thích đáng.

Nhưng tri thức thì dù tất nhiên là phát ngôn sở thị nhưng nó được trộn lẫn vào những ý tưởng về tri thức-làm, tri thức-nghe, tri thức-sống...Nó vượt ra ngoài việc xác định và áp dụng tiêu chí chân lý duy nhất. Còn có những tiêu chí về tính hiệu quả (nhân tiện-Bàn về tính hiệu quả; F.Jullien), sự công bằng (Xác lập cơ sở cho đạo đức-F.J) và/hay hạnh phúc, vẻ đẹp của âm thanh/màu sắc..."Tri thức là cái làm cho ai đó có năng lực nói ra được những phát ngôn sở thị "hay", cũng như phát ngôn mệnh lệnh hay lượng định "tốt"->Tri thức cho phép thu được những thành tựu "tốt" về nhiều đối tượng của diễn ngôn: để hiểu biết, quyết định, đánh giá, thay đổi...

Đặc điểm chính yếu của tri thức, do đó, vẫn theo F.L: nó trùng với 1 sự "đào luyện" bao trùm nhiều thẩm quyền: nó là hình thức duy nhất được hiện thân trong một chủ thể, và chủ thể này là 1 tập hợp gồm nhiều loại thẩm quyền khác nhau cấu tạo nên nó. (sdd, tr105)
-------------


Phản tư
Khi xuôi chiều nhận thức thì không có vấn đề gì, nhưng tôi thường có cảm giác truyền thống tư tưởng Phương Tây không thể tách khỏi ảnh hưởng của cái tinh thần "Lời làm nên xác thịt" trong Cựu Ước. "Khởi đầu là Lời.".

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland. 1


(An Introduction to Art Theory) - Nguyễn Như Huy dịch. (Còn 1 phiên bản với tên "Thế mà là nghệ thuật ư?". NXB Tri Thức)

----------

Nếu ai đó yêu cầu chúng ta tùy tiện kể ra vài tác phẩm nghệ thuật thì hẳn ai cũng làm được - ai cũng có vài thứ để liệt kê dễ dàng. Nhưng nếu bị xoay sang hỏi "Nghệ thuật là gì?" thì sẽ khác hẳn. Nghệ thuật quá đa dạng, quá khác biệt từ chỗ này sang chỗ khác và từ thời nay đến thời xưa. Chưa bao giờ nghĩ đến chuyện khái quát hóa thì cũng là chuyện bình thường, nhưng thỉnh thoảng biết đến, chứng kiến những thực hành nghệ thuật đương đại - vốn dĩ quá xa lạ với những cái biết truyền thống ở VN hiện nay - thì câu hỏi kia lại quay trở lại rất thiết thực; nhất là khi ta biết rằng nghệ thuật được coi là phương thức chúng ta mở rộng và sáng tạo trong cách tri giác thế giới. "Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật" của Cynthia Freeland là một cuốn sách hay, vừa vặn cho những ai không chuyên muốn có một sơ đồ để lần đầu bước vào thế giới rộng lớn của lý thuyết nghệ thuật. Nó hay vì tác giả đã tường giải những khía cạnh rất đa dạng, đối lập của chủ đề một cách khéo léo hấp dẫn mà các đối tượng được trình bày vẫn không bị giản hóa.

Tác giả chọn cách mở đầu gây shock khi dẫn những tác phẩm nghệ thuật hiện đại đã từng gây shock cho công chúng với những đề tài và chất liệu bạo liệt như máu, nước tiểu, xác động vật, sự đau đớn, tính dục...Chương 1, Máu và cái đẹp, trỏ thẳng cho chúng ta một sự thực rõ ràng là từ lâu đối tượng của nghệ thuật không còn chỉ là về cái Đẹp nữa. Nhưng dù vậy, về phía kinh nghiệm cảm thụ đối với nghệ thuật thì vẫn còn mối liên hệ quan trọng với những triết lý khởi nguồn quan trọng của Kant. Di sản của Kant để lại cho hậu thế những phân tích quan trọng về sự hồi phản của chúng ta với nghệ thuật: một hồi phản đặc biệt và bất vị lợi của sự trung tính và cách biệt - hân hưởng có độ lùi. Ngày nay, ví dụ, để bảo vệ, diễn giải một tác phẩm gây shock như bức họa "Đái vào Chúa" của Serrano, một phê bình gia như Lucy Lippard sử dụng phép phân tích 3 tuyến (three - pronged analysis), theo đó cả 3 khía cạnh tiếp cận là (1) các đương lượng hình thứcchất liệu, (2) nội dung của tác phẩm và (3) văn cảnh của tác phẩm, đều quan trọng như nhau và được phân tích diễn giải chi tiết. Nói cách khác, mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có nguồn mạch và cần được tường giải để khơi gợi công chúng đạt đến sự hân hưởng.

Trong chương 2, Các hệ hình và mục đích, bằng sự đi lại theo thời gian qua chiều dài lịch sử từ Cổ đại đến khi Andy Warhol trưng bày Những hộp xà phòng Brillo như một nghệ phẩm tại Gallery Stabler ở New York vào năm 1964, Cynthia Freeland đã kể cho chúng ta nghe mối liên hệ đa dạng và nhiều khi rời rạc giữa những diễn giải của các nhà tư tưởng với những tác phẩm nghệ thuật quan trọng từng thời kỳ. Bức ảnh chụp triết gia Arthur Danto đứng trước những hộp giấy đựng xà phòng trong phòng trưng bày có tính chất biểu cảm rất đặc trưng. Nói đứng trước là không chuẩn lắm, ông chắp tay sau lưng, hơi xoay người về phía nghệ phẩm trong xu hướng đi vòng quanh để xem xét. Không giống tư thái hân hưởng thông thường, dáng điệu của Danto trong bức ảnh là dáng điệu của sự chú ý nhưng có gì đó khó xử, đang được lý tính xử lý và tìm diễn giải. Cuốn sách đưa chúng ta đã đi đến điểm nhìn nhận nghệ thuật truyền thông tư duy hay cảm xúc nhờ vào phương tiện trung gian thuộc vật chất. Nhưng vấn đề tường giải về ý nghĩa và giá trị trong nghệ thuật mới chỉ vừa bắt đầu: "nói cái này cái kia là nghệ thuật khác với việc nói cái này cái kia là thứ nghệ thuật hay".

Đi vòng quanh địa cầu trong chương 3, Các giao cắt văn hóa, bằng vào cách xem xét những văn cảnh xa cách nhất, khác biệt nhất với phương Tây như ở châu Phi và Nhật Bản đã giao lưu, "du ngoạn" như thế nào trong thế giới hiện đại - "ngôi làng toàn cầu" - nơi mà "không nền văn hóa nào còn có thể biệt lập và xa cách", tác giả dẫn chúng ta đến những quan sát toàn cảnh về nghệ thuật của các nền văn hóa: bị tách khỏi văn cảnh, bị xung đột và so sánh, bị lai ghép, vay mượn...Liệu chúng ta có thể tìm được điều gì đó tương tự trong nghệ thuật từ mọi nền văn hóa (Richard Anderson) như niềm tin của John Dewey: "nghệ thuật là ngôn ngữ phổ quát" giúp phá vỡ rào cản giữa các nền văn hóa? Có nghĩa là tin vào một sự tiếp xúc trực thời dù sau đó còn là vấn đề "cần phải thụ đắc được ngôn ngữ nghệ thuật". Ý tưởng về tính phổ quát của giá trị và tri nhận là một ý tưởng rất hấp dẫn nhưng sẽ còn phải chống chọi nhiều với những tranh luận đa tạp - hậu-hiện đại đã từng từ chối thẳng thừng cái phổ quát ấy. Cũng cần để ý rằng ý niệm "nghệ thuật vẫn biểu lộ ra đời sống của một cộng đồng" của Dewey sẽ đưa ta đi xa tới câu chuyện về cách nhìn của nhánh Cultural studies (CS) đối với popular culture, về nơi các nhóm xã hội đấu tranh lẫn nhau bằng vũ khí của meanings và representations (quyền được diễn nghĩa thế giới và tái trình hiện hiện thực của các nhóm thiểu số trong mối quan hệ đối kháng với nhóm đa số) (*)

Tình thế ngập ngừng trong cách nhìn mối quan hệ có hay không có sự đối nghịch giữa nghệ thuật và đời sống như vậy hoàn toàn có thể là rất hệ trọng khi quy chiếu về vấn đề sự đấu tranh giữa các nhóm, các giai tầng xã hội - một khái niệm rõ ràng chịu ảnh hưởng bởi Marxism. Có một góc độ khác để rọi chiếu nó (chương 4, Tiền bạc, thị trường, bảo tàng), từ những thực thể có tính định chế cho nghệ thuật: các bảo tàng - chúng định tính, định vị các giá trị; là biểu tượng của cộng đồng và của các nhóm xã hội. Bảo tàng cũng là nơi thể hiện rõ nét mối liên hệ giữa nghệ thuật và tiền bạc - nguồn cơn của sự khước từ bảo tàng về sau này như những gì đã diễn ra với grafitty art hay những tác phẩm không thể bán của Christo và Jeanne-Claude. Quyết liệt hơn nữa, những người đấu tranh cho nữ quyền tấn công định chế bảo tàng từ tận những chuẩn tắc và nêu những câu hỏi về một bản chất nữ (chương 5, Giới tính, thiên tài và các Nữ du kích); qua đó nổi bật lên vấn đề về việc "làm thế nào để diễn giải nghệ thuật?" - là chủ đề của chương 6. Có thể nói, nếu muốn làm biếng thì chỉ cần đọc kỹ chương này và chương cuối của cuốn sách. Thực tế tinh thần của các chương khác đã được xây dựng xung quanh những luận điểm lý luận quan trọng của 2 chương ấy. Chúng đã tạo ra mạch lạc của một bản đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật. Nhưng phải chăng đó cũng là chỉ dấu cho thấy hoàn toàn có thể còn những phiên bản khác để diễn giải bức tranh lý thuyết nghệ thuật, trong một nguồn mạch khác.

(còn tiếp)
----------

(*) Tham khảo ở đây: http://gauxx.blogspot.com/2012/05/cai-oi.html




Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Phi-vô-bất-chẳng Niệm xứ. 1

Cũng giống như đề mục "truyền thông", tìm hiểu về "nghệ thuật đương đại" đối với tôi là việc phải làm nên biết trong chuỗi tiến hóa của bản thân. Nhưng "biết đến mức nào thì đủ?". Khi mà "truyền thông chính là văn hóa" (à la CS) và nghệ thuật đương đại thì nhập thế đến độ phổ sinh và chính là sự mở rộng và sáng tạo không ngừng cách chúng ta tri giác về thế giới mà ta ở-đó? Câu hỏi này hơi khó chịu và dai dẳng nhưng tôi nghĩ vẫn không thể thay được câu hỏi "sống thế nào?" bằng những câu kiểu như "nghiên cứu/hiểu/biết/chơi/làm truyền thông (hay contemporary art) thế nào là đủ?". Thì cứ thử đọc to mấy câu hỏi ấy lên mà xem ^^ "Người ta có quyền hoài nghi khi không hiểu một cái gì đó" (N.Chomsky)

Carnets
(Dự án nghệ thuật đương đại đa phương tiện: Những chân trời có người bay)

- Không gian gây ấn tượng trực thời nhất. Làm liên tưởng đến nghệ thuật Origami: cả không gian như từ một tờ giấy được gấp dựng lên một nơi chốn chơi-trò chơi. Mỗi điểm studio trên bề mặt biến đổi này như là một cái hốc: từ nghĩa đen 3D đến một chiều thếp mới - nó như một concept đang được kiến tạo và khu trú trong văn cảnh.

- Sự đồng nhất (vô tình?) về thời trang của những người trong khuôn viên (cả khán giả và nghệ sỹ): tông màu đô thị ấm, bạc, hơi vô sắc, chói chỉ là điểm xuyết. Chất cảm thấm, xốp. Nôm na là kiểu bụi bụi quen quen nhưng sạch sẽ.

- Thời gian vụt chạc và nhất thời của khán giả. Thời gian "đầy đủ" của nghệ sỹ theo kế hoạch. Luôn là như vậy. Cần một cam kết? Một sự giáo dục? Một sự thông diễn? Phải chăng luôn là bất đối xứng?

- Sự vượt trội của các thiết bị ghi hình và cảm giác thiếu vắng sự mật thiết chú tâm.

- Thông cáo báo chí và tên dự án (với cảm nhận cá nhân) là hơi xoàng. Đặt đâu cũng được, cũng vẫn thế.

- Đa phương tiện - tiến trình. Giải cấu trúc.


Khác

- Một bước về phía tự do, tự khẳng, tự quyết.

- Phản tư, nghiệm sinh, mô tả, biểu hiện và tương tác giao tình - đào sâu, mở rộng trải nghiệm - (một cách) sáng tạo.

- Phép phân tích ba tuyến (three-pronged analysis): các đương lượng hình thức và chất liệu/nội dung tư tưởng tác phẩm/văn cảnh của tác phẩm. Hội tụ hay chính độ chênh mới đem lại khả thể?


Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Đọc "Chữ số hay lịch sử một phát minh vĩ đại" - Georges Ifrah


Tôi mua cuốn sách này kèm với mấy cuốn khác ở chỗ NXB. Cũng ngần ngừ rồi nhặt vì nghĩ nó thể nào cũng có phần nói về mối liên hệ nhận thức con số với thân thể con người - là chủ đề mà tôi quan tâm. Sách dạng này có cái hay là dễ đọc một lèo, không phải đắn đo suy xét nhiều. Tưởng là vậy nhưng đọc đến hồi cuối thì cũng phải chép lại vài điều.

Đáng kể nhất, nổi bật nhất là cảm khái về sự vòng vo, khúc khuỷu của lịch sử nhận thức của nhân loại đối với con số. Nó không phải kiểu liên tục hay tuyến tính, mà tiến hóa dần dần cũng như sự tiến hóa của lịch sử các xã hội rời rạc trên quả đất. Một cái gì hiển nhiên hóa ra không hiển nhiên. Cái gì tưởng như bản năng hóa ra không phải như vậy. Toán học thường được coi là tư biện, trừu tượng bậc nhất, nhưng ở đây, gắn với câu chuyện của những con số, nó có nhân thân xuất xứ hẳn hoi - luôn luôn là là mặt đất, ở đâu đó giữa xã hội, lợn gà dê bò thóc lúa...

Sách có nhiều hình minh họa, nhiều câu chuyện chi tiết cụ thể để những người ưa thích toán học có thể lưu trữ trong vốn liếng câu chuyện làm quà của mình. Tôi quan tâm nhiều đến cái chiều kích cảm nghiệm thân thể trong tương quan với thế giới quan như thế nào hơn là những chi tiết minh họa nhiều khi rất lằng nhằng mệt óc. Đấy cũng là cái hay của loại sách thường thức này: có thể đọc theo nhiều cách khác nhau, tùy tạng mỗi người.

Carnets:

- Con người thông minh và có tính xã hội: sự vượt trội của kinh nghiệm so với bẩm sinh.

- Cảm nghiệm thân thể - quy chiếu về thân thể: con người cổ đại phân biệt 1, 2 và rất nhiều (3 = rất nhiều)/ từ những ý niệm cụ thể và quan trọng xung quanh họ.

- Người Ấn độ diễn đạt các con số bằng những ý niệm: 0 = không khí, rỗng không, trời...1 = mặt trăng, vị thần, kinh Veda...2 = cặp đôi...

- Ý niệm phổ quát về số học (không có tháp Babel)

- Lịch sử số học với/trong xã hội, được lưu trữ hay lựa chọn do xã hội.

- Con số googol 10 mũ 100: giới hạn của thế giới vật lý/số hạt cơ bản trong vũ trụ 10 mũ 88, tỷ lệ đường kính foton và đường kính vũ trụ 10 mũ 42....

- Cái vô hạn  = phủ định hữu hạn. Số siêu lớn: cái vô hạn - bộ phận = tổng thể.
-------------------

Có những pha mình đọc sách rất vào, lại có pha mình viết rất hăng. Tầm này lại đang rơi vào pha đọc loáng thoáng, nghĩ ngợi, đánh dấu và kết nối nên lười viết ^^ Nhưng cũng phải cố vì để lâu sẽ chán blogging thì sợ là tụt hẳn :P

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

Bùi Văn Nam Sơn - Đạo đức học diễn ngôn


(Jurgen Habermas, Karl-Otto Apel)


- Phân biệt Đạo đức học với Luân lý:
            + Luân lý (Moral) là những điều quy định con người nên hay không nên làm.
            + Đạo đức học là môn học bàn về cơ sở của luân lý; tức là nghị luận triết học về luân lý. Khởi đầu từ triết học Hy Lạp cổ đại.
            + Các phái sinh của Đạo đức học: Triết học xã hội, triết học pháp quyền...Tất cả thuộc nhánh triết học thực hành với đối tượng là hành động của con người. Nó phân biệt với nhánh khác của triết học lý thuyết như siêu hình học...

- Về khái niệm Diễn ngôn:
            + Là một khái niệm thời trang kể từ những năm 60s của thế kỷ trước.
            + Khái niệm Diễn ngôn có nhiều lớp nghĩa, tuy nhiên trong Đạo đức học nó được xác định bằng một nghĩa hẹp: phân biệt với Lời nói có tính chất trao đổi thông tin, Diễn ngôn là hành vi truyền thông đặc biệt, đặc thù. Bằng lập luận nó bàn về cơ sở của những yêu sách khẳng định có tính phổ quát.
            + Sự bàn luận ở đây không phải là những giáo điều quyền uy mà bằng các lập luận. Nó không trao đổi thông tin mà trao đổi các luận cứ (ủng hộ hay phản biện những yêu sách có giá trị phổ biến - vd: yêu sách không giết người - xem chúng có biện minh được hay không).

- Về khái niệm "Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành":
            + Ví dụ: khi tôi nói "tôi sẽ không nói gì", có 2 phương diện ở đây là nội dung lời nói và hành động thực hiện (hành động nói, hành vi nói). Hành vi nói đã phủ định nội dung của nó. Đây chính là Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành. Chỉ diễn trình ngôn ngữ trong hoàn cảnh nào đó. Nói tự nó đã là một hành vi làm điều gì đó.
            + Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành là bí quyết để xây dựng Đạo đức học diễn ngôn. Habermas và Apel đã sử dụng nó để giải quyết vấn đề đặt cơ sở tối hậu cho các luân lý.

- Tham vọng đặt cơ sở tối hậu là khả nghi. Triết gia duy lý phê phán Hans Albert đã phân tích về tham vọng này là bất khả thi: Bộ ba bất khả thi, Tam nan, Tam bất khả. Muốn đặt cơ sở tối hậu chỉ có 3 cách, và đều bế tắc.
            + (1) Quy thoái đến vô tận
            + (2) Luẩn quẩn - đặt cơ sở trong một cái cũng phải đặt cơ sở.
            + (3) Cắt đứt: bằng khẳng định, khẳng quyết võ đoán, giáo điều.
- Tóm lại chính sự tự mâu thuẫn ngôn hành sẽ là chìa khóa giúp Apel đi vòng qua khỏi tam nan. (Một cương lĩnh nghiên cứu tham vọng, mạo hiểm).

- Lược sử hình thành 4 mô hình trong lịch sử triết học:
            (1) - Truyền thống đối thoại Socratics: Hộ sinh tinh thần.
            (2) - Triết học siêu nghiệm của Kant (mệnh lệnh nhất quyết): hình mẫu cho đạo đức học phổ quát.
            (3) - Diễn ngôn tương đối luận - đưa kích thước lịch sử vào trong triết học (tiêu biểu của thời Hiện đại, Hậu hiện đại, bắt nguồn từ Heghel)
            (4) - Sự thay đổi hệ hình thông qua Habermas và Apel bằng triết học ngôn ngữ và tính liên chủ thể.

1 - Truyền thống Socratics:
            + Dẫn người đối thoại vào những câu hỏi đơn giản, bằng cách đặt câu hỏi, lập luận đối thoại cùng nhau đi đến chân lý.
            + Lối lập luận dũng mãnh nhưng không áp lực, quyền uy hay lừa dối. Tạo ra sự cưỡng bách không có tính cưỡng bách của luận cứ tốt hơn.
            + Khác với biện sỹ, Socratics không nhằm thuyết phục mà tạo ra sự xác tín nơi người đối thoại (hộ sinh tinh thần).
            + Hình thức đối thoại thư giãn, vui vẻ, là cách để tránh khỏi hoạt động. Môi trường thuần lý, thoát khỏi mọi sức ép. Khác với những đối thoại chính trị hay biện hộ trước tòa là dùng lời nói theo đuổi lợi ích; là những hành động mang tính chiến lược strategic action, nhiều tính toán mưu mô vì mục đích riêng.

* Di sản của Soccratics là phân biệt hành động chiến lược với hành động tương giao thông hiểu lẫn nhau (communicative action).

2 - Triết học Kant - Kant để lại 2 di sản cho Đạo đức học diễn ngôn:
            a- Triết học siêu nghiệm: siêu nghiệm là cái có trước cái nghiệm, là tiền đề khả thể cho việc hình thành kinh nghiệm của chúng ta. (Những cái gì nằm sẵn trong ta).
            + Apel cải biến Kant: thay vì điều kiện khả thể của cái tôi cá biệt, cô đơn chủ quan; không phải tìm ở cái tôi cá nhân mà tìm ở liên chủ thể.
            + Apel gọi Đạo đức học diễn ngôn là Ngữ dụng học siêu nghiệm (điều kiện khả thể của những cá nhân đối thoại liên chủ thể).
            b- Mệnh lệnh nhất quyết: ta là con người có dục vọng nên phải có mệnh lệnh ràng buộc. Có 2 loại mệnh lệnh: mệnh lệnh giả thuyết (có quyền không theo) và mệnh lệnh nhất quyết (không thể không làm)
            + Kant: mệnh lệnh nhất quyết từ chính anh đặt cho anh nếu là người. Là sự hiển nhiên của lý tính không thể chứng minh, cũng không thể phản đối. Vd như việc cứu người.
            + "Hãy hành động sao cho châm ngôn của ý chí của bạn lúc nào cũng có giá trị hiệu lực như những nguyên lý phổ quát".
            + Nguyên lý mệnh lệnh nhất thiết nó ghi nhận nhưng không thừa nhận những quy luật có tính khu vực.
            + Theo Kant: có 1 quy luật có nguyên lý phổ quát; nếu không luân lý sẽ sụp đổ, chỉ còn lại những tập quán.

3 -  Tương đối luận:
            + Con người không chỉ là công dân trong thế giới phổ quát, còn là con người cụ thể trong tình thế cụ thể.
            + Hình thành trường phái nhấn mạnh hiện thực xã hội chống lại nguyên lý phổ quát - bỏ qua, cào bằng. Chủ trương nền đạo đức cụ thể, thực chất, mang tính lịch sử; khởi từ Heghel.
            + Đặt ra hàng loạt vấn đề. Có một biến thể cực đoan: quá nhấn mạnh dị biệt "không có cái thiện nói chung. Chỉ có những cái được coi là thiện trong từng bối cảnh cụ thể". Trào lưu Hậu hiện đại hoan nghênh sự suy tàn của quan niệm phổ quát: trò chơi vô tận của những sự khác biệt. Kant chỉ là thuyết vị chủng.
            + Hậu hiện đại là cơ sở biện minh cho những giá trị (lỗi thời) châu Á (nhân quyền mang màu sắc châu Á).
4 - Habermas: sự thống nhất của lý tính và sự đa dạng của những giọng nói.
            + Sự thống nhất của lý tính: bảo vệ di sản của Khai Minh.
            + Sự đa dạng của giọng nói: sự mới mẻ của thời đại cần được tính toán đến.
- Bảo vệ 2 điều trên bằng cách nào?
            + Không đơn giản trong quyền uy
            + Không đơn giản triết học chủ thể độc thoại.
- Cải biến Kant bằng triết học ngôn ngữ: thay đổi hệ hình (mẫu mực và hệ thống khuôn mẫu).
- Có 3 giai đoạn hệ hình:
            (a) - Lấy sự tồn tại làm đối tượng nghiên cứu.
            (b) - Lấy ý thức cá nhân làm đối tượng nghiên cứu
            (c) - Lấy liên chủ thể - thông qua ngôn ngữ như là môi trường - làm đối tượng nghiên cứu.
Đây là bước ngoặt triết học ngôn ngữ.
            + Cổ đại Hy lạp (a): "nó là gì?" tìm cầu trúc khách quan của thế giới từ đó chủ thể rút ra kết luận cho mình.
            + Decarte (b): triết học về ý thức. Cơ sở tối hậu của sự xác tín là cái tôi tư duy - từ đó xây dựng toàn bộ thế giới. Nguy cơ của hệ hình này là hố thẳm của thuyết duy ngã.
            + Bước thay đổi triệt để: từ tính khách quan thuần túy, từ chủ quan thuần túy độc thoại đến sự tương giao liên chủ thể. (c) giải quyết được: (i) phá vỡ khuôn khổ chật hẹp cũ; (ii) Tạo được sự đồng nhất hóa tông qua đồng thuận chung của những cá nhân đa tao trong một đối thoại đa nguyên.
- Theo Habermas thì 2 lý tưởng đạo đức tưởng như xung đột với nhau đã được kết hợp trong đạo đức học diễn ngôn: đó là sự kết hợp giữa lý tưởng tự do và lý tưởng đoàn kết.
            + Nếu cá nhân được tự do tham gia vào diễn ngôn trong một cộng đồng ngôn ngữ hòa nhập bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng hướng tới sự thông hiểu thì sẽ vượt qua được sự xung đột.
-  Diễn ngôn không phải là trao đổi thông tin. Khi nào có vấn đề (xem quan điểm có đúng không/xem hoạt động ứng xử có đúng không).
            + Khi diễn ngôn ta phải tạm thời tách mình ra khỏi sự hối hả của đời sống: giữ khoảng cách với chính mình và sự vật thì mới có thể diễn ngôn. Lý tưởng của diễn ngôn ở đây là những cuộc đàm thoại thung dung (Hy Lạp cổ đại) - để nghe nhau, thông cảm cho nhau. Là hành động đích thực mang tính người (tương giao).
            + Diễn ngôn bàn về những vấn đề nguyên tắc. Trong diễn ngôn ta làm gì? (ngoài nội dung).
            + Phải tiền giả định một số điều kiện cơ bản (những điều kiện khả thể cho nhận thức).

- Ta phải tiền giả định 4 điều kiện:
            (1) - Ta quan tâm đến tính đúng đắn của sự việc không vì mục đích riêng
            (2) - Tầm quan trọng của lời nói là ở nội dung chứ không phải ở quyền uy.
            (3) - Mục đích không phải giành lẽ phải về phía mình mà là sự khách quan.
            (4) - Lập luận dần dần dẫn đến xác tín (không phải sự lừa dối).

- Thực ra trong đối thoại chính trị, hay kinh doanh cũng đều phải có 4 tiền giả định này.

- Tiền giả định có thể trái với thực tế:
            + Nó giữ vai trò chân trời không tưởng - nó quy định sự thành tựu của mọi diễn ngôn.

(Habermas) - (4 tiền đề): Hoàn cảnh nói lý tưởng - gồm 4 tính chất:
            (1) - Bình đẳng (mọi người đều có cơ hội diễn ngôn)
            (2) - Cởi mở và minh bạch
            (3) - Trung thực và chân thật
            (4) - Sự tử tế với nhau.

(Habermas): Hoàn cảnh nói lý tưởng không phải là 1 hiện tượng thường nghiệm, không phải sản phẩm tưởng tượng mà là một sự giả định mà ta phải cần dành cho nhau. Nó là một sự dự đoán, một ý niệm điều hướng. Nếu không mọi diễn ngôn đều vô ích. (Diễn ngôn lý tưởng nơi chân lý, sự đúng đắnm hình thành lên thông qua sự đồng thuận của mọi người).

* Apel sử dụng đặc điểm này để đặt cơ sở tối hậu cho Đạo đức học diễn ngôn: Ngữ dụng học siêu nghiệm.
- Ngữ dụng học phân biệt: cú pháp học (ký hiệu), ngữ nghĩa học (quan hệ ý nghĩa và ký hiệu), ngữ dụng học (ký hiệu và người sử dụng).

- Lý thuyết hành vi nói:
            + Hành động nói nhấn mạnh tính cách hành động của lời nói (Austin).
            + Trong hành vi nói ta phân biệt nội dung nói với hành vi nói.
- Ngữ dụng học : hoàn cảnh nói cụ thể, tình hình, hành động tương giao.
- Siêu nghiệm: điều kiện khả thể.

Apel tra hỏi điều kiện khả thể tối hậu của diễn ngôn bằng truyền thông, tương giao, liên chủ thể. Sự tự mâu thuẫn ngôn hành là chìa khóa xác lập.

- Ý tưởng: ngay người hoài nghi triệt để nhất khi bảo vệ quan điểm của họ cũng phải bằng 1 hành động (lập luận) - mặc nhiên đã có những tiền giả định không thể tránh khỏi. (Vd tôi nói "tôi không nói").
- Trong một diễn ngôn thực hành cũng phải mặc nhiên thực hiện một số quy tắc.
- Không thể đặt điều kiện về những tiền đề giả định. Khi lập luận buộc phải chấp nhận điều kiện khả thể. Không chỉ trong môi trường ngôn ngữ mà còn giữa những người khác trong xã hội, thậm chí là những người ở tương lai.

(Apel): Cái tiên nghiệm của cộng đồng truyền thông (ngôn ngữ) nó là tiền đề, độc lập với nội dung cụ thể. Không thể chứng minh được, không phủ nhận được nếu không sẽ vướng vào sự mâu thuẫn ngôn hành.
- Hoàn cảnh nói lý tưởng của Habermas: ngoài những yêu cầu tối thiểu về logic còn đỏi hỏi mặt quy phạm. Ngoài bình đẳng còn cùng chịu trách nhiệm về sự đồng thuận. (Trách nhiệm cộng đồng).

- Đạo đức học diễn ngôn không chỉ riêng cho diễn ngôn. Nó đặt cơ sở tối hậu cho đạo đức học nói chung.
Điểm này khác biệt với Habermas vốn chỉ tập trung vào phương thức và thao tác đạt được quy phạm luân lý. Ông gọi Đạo đức học diễn ngôn là Ngữ dụng học phổ quát.

- Nguyên tắc phổ quát hóa của Habermas: (trong điều kiện thế kỷ 20 với sự phức tạp) Bất kỳ quy phạm có giá trị nào đáp ứng những điều kiện sau:
            + Bất kỳ hoạt động cá nhân theo một nguyên tắc đạo đức nào đó tạo ra những hậu/hệ quả được mọi người chấp nhận.
            + Một quy phạm chỉ được phép yêu sách có giá trị hiệu lực khi mọi người tham gia đều đồng thuận.
- 02 nguyên lý của Habermas bảo vệ triết học khỏi:
            + Nguy cơ giáo điều tiền Khai Minh và phản Khai Minh.
            + Tránh nguy cơ tùy tiện của Hậu Hiện Đại (chối bỏ mọi yêu cầu phổ quát).
            + Nguy cơ tân bảo thủ: chỉ dựa vào những quy ước đơn lẻ, từng trường hợp; tránh né trao đổi diễn ngôn, chỉ chấp nhận tập quán.
            + Bảo vệ di sản thuyết phổ quát đạo đức học Kant thông qua  con đường đồng thuận liên chủ thể.

Apel bổ sung 1 nguyên lý khác:
- Habermas mới chỉ là phương thức thao tác chưa vào cốt lõi - phải gắn với cứu cánh.
- Trước thực tế hoàn cảnh nói lý tưởng hiếm khi diễn ra mà hệ quả đối với từng cá nhân tham gia vào diễn ngôn là nghiêm trọng. Cần rút ta nguyên lý bổ sung: hãy hành động theo châm ngôn bạn có thể giả định rằng bằng việc tham gia diễn ngôn, hậu quả đều được các cá nhân tham gia chấp nhận. (Ý thức tự giác tham gia diễn ngôn hiện thực).
- (Khi tham gia khó loại trừ trường hợp có người có tư duy chiến lược với ý đồ tinh vi). Apel: chúng ta phải hành động thế nào cho những hoạt động phi bạo lực, quyền lực của diễn ngôn ngày càng trở thành thực tiễn - đưa hoàn cảnh nói lý tưởng vào thực tiễn.
- Cương lĩnh đấu tranh cho nền dân chủ hiện đại:nguyên lý đạo đức, nghĩa vụ luân lý.
- Nguyên lý khác: nguyên lý bảo tồn nền tảng sống còn thuộc về bản chất người - cộng đồng tương giao - bảo vệ những thành tựu văn hóa lịch sử - nguy cơ hủy diệt môi sinh...
------------
Mở rộng:
- Ở các nước thế giới thứ 3 (quá khứ thuộc địa): vấn đề hòa giải, đồng thuận. Muốn đạt được phải đặt cơ sở trên 1 số giả định.
1 - Đối chiếu Đạo đức học diễn ngôn và Đạo đức học Kant:
            + Phê phán duy ngã trong Kant có chính đáng không? Kant đã có ý về quan hệ với người khác. Ý chí luân lý đã thừa nhận tự do của người khác. Thực chất là đã có tính liên chủ thể.
2 - Đạo đức học diễn ngôn là tiến hay lùi so với Kant?
- Đạo đức học diễn ngôn đặt cơ sở cho nhân quyền nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể. Có khoảng cách giữa hiện thực và lý tưởng. Phải chăng cần ý chí tự do của Kant?
- Habermas thay thế cảm thức luân lý bằng quy định pháp lý là đóng góp lớn của Đạo đức học diễn ngôn. Nỗ lực đặt quy phạm có đủ cơ sở cho luân lý? Phải chăng lẫn lộn giữa chính trị và luân lý? Đặt nặng lý tính xem nhẹ xúc cảm là nguy cơ đánh mất động cơ luân lý (Kant) - ý chí thiện cá nhân. Không có động cơ, quy định pháp lý mong manh.
3 - Sự chưa thống nhất giữa đồng thuận và bình đẳng:
Lyotard: đồng thuận lỗi thời, khả nghi. Bình đẳng mới quan trọng.
- Hậu hiện đại đặt ra vấn đề quan trọng: thừa nhận tính dị loại trong nhiều trò chơi ngôn ngữ khác nhau: tôn trọng, chấp nhận, chịu đựng người khác.
- Phổ quát hóa là bất khả thi, không có nguyên lý phân xử những loại diễn ngôn khác nhau. Phân biệt phân xử nội bộ diễn ngôn và phân xử giữa các diễn ngôn.
Apel trả lời: đạo đức học diễn ngôn không được phép nghị luận gia trưởng - nguy cơ toàn trị, trở lại sự thống trị của đa số.
- "Thật phi lý khi trước thách thức toàn cầu, thảm họa sinh thái, thách thức chúng ta phải sống chung với nhau tất yếu sống còn, không thể lấy yêu cầu hòa giải đồng thuận làm mối nguy cho sự đa dạng"
Apel tin rằng Đạo đức học diễn ngôn theo chúng tôi là quan niệm đạo đức học duy nhất đáp ứng được một nền đạo đức học vĩ mô hậu quy ước về một cộng đồng trách nhiệm phổ quát toàn nhân loại.
            (1) Nguyên lý diễn ngôn: cá nhân tham gia chịu trách nhiệm chung gánh phần người khác.
            (2) Là công cụ hiện đại để phân phối, điều chỉnh cùng chịu trách nhiệm, hướng dẫn kỹ năng thao tác đối với những vấn đề quy mô toàn cầu.
- Đạo đức học diễn ngôn: tinh thần dân chủ khai phóng đang phát huy trong thực tế giải quyết xung đột, hòa giải văn minh - nền tảng của quốc tế hiện đại. (Habermas, Apel: cái bàn thì tròn).



------------------------------
(Ghi chép buổi thuyết trình của BVNS ngày 24/11/2012. Có thể sẽ hiệu chỉnh lại) 

Anh Gauxx để ý BVNS dịch communicative action là hành động tương giao (liên chủ thể) - so với anh dịch hành động tương liên ở mấy bài trước.

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

Ông mày còn giữ những việc gì?



Viết blog là viết theo cơn hứng. Có những thứ nằm rõ ràng mười mươi trong đầu mình rồi nhưng mà chưa gặp cơn thì có cố cũng rời như cơm nguội. Như vụ Trùm chăn luận kiếm khởi đi từ tết năm ngoái năm kia mà có khi chưa biết đến tết năm nào mới xong ^^

Hoặc là mình có một kế hoạch rõ ràng, làm việc quy củ; hoặc là mình đi lan man trên mạng đọc linh tinh, cả hai lối đấy đều có thể giúp mình tìm ra cái gì đó để bắt đầu - đôi khi chẳng ăn nhằm gì với ý định lúc trước đó. Thực ra còn có một cách khác tôi thấy khá hiệu nghiệm, đó là đi bách bộ. Đi bách bộ làm cho đầu óc dịu đi, thả lỏng nên có khả năng triệu hồi vô số ý tưởng tiềm tàng (vụ này để khi nào review cuốn Những thành tựu lừng lẫy của Tâm lý học hiện đại - sẽ nói lại). Thứ đầu tiên mà tôi hay kiếm để tìm hứng là các bài Tống Từ. Tối này tìm được một bài của Tân Khí Tật, rất hợp cảnh hợp tình thời suy thoái!

Tây giang nguyệt

Vạn sự vân yên hốt quá,
Bách niên bồ liễu tiên suy.

Nhi kim hà sự tối tương nghi?
Nghi tuý, 
Nghi du, 
Nghi thuỵ.
Tảo sấn thôi khoa liễu nạp,
Cánh lường xuất nhập thu chi.

Nãi ông y cựu quản ta nhi:
Quản trúc,

Quản sơn,
Quản thuỷ.


Tây giang nguyệt

Vạn sự như mây khói,

Trăm năm bồ liễu sớm suy.

Mà nay nên nhất là việc gì?
Nên say khước,
Nên ngao du,
Nên ngủ khì.
Sớm chạy đóng cho xong thuế,
Để tính xuất nhập thu chi.
Ông mày còn giữ những việc gì?
Giữ trúc,
Giữ sơn,
Giữ thuỷ.


(Nguyễn Hiến Lê dịch)

Nôm na thì cái món Từ này là thể loại lẩy Kiều ở trình độ cao mà thôi. Tức là kiểu điền chữ theo khuôn mẫu bằng trắc, thanh điệu, ngắt câu. Tài nghệ của Từ gia là ở chỗ lời hay hợp với nhạc điệu. Cứ y như khuôn mẫu, rất vừa tầm với công chúng vì ai cũng ngân nga được theo nhạc điệu quen thuộc.Tình cảm phóng túng lãng mạn đa dạng theo thể ngắn dài có phần tự do cũng chiều lòng người ta vốn dĩ tản mạn vụn vặt. Như trong bài từ trên, cái điệu ngắn dài thất thường đọc lên rất thích, nhất là khi lại có mấy câu bất cần phóng túng kiểu nghi túy/nghi du/nghi thụy mà NHL phải thêm vào mỗi câu 1 từ cho tả được cái nghĩa cô đọng của nó (say khước(t), ngao du, ngủ khì).

Còn có một công thức nữa cho việc mua lòng công chúng (nay còn hay gọi là PR): trong bài nên có một đôi câu thật thích hợp để tiềm thức người đọc chộp lấy, bắt dính. Câu đấy sẽ đi vào văn nói cửa miệng của đời sống, nói cách khác, người ta sở hữu chúng. Tôi có đọc đâu đó phân tích về việc này nhưng chưa nhớ ra được là ở chỗ nào. Nhưng ví dụ thì đầy: xin chào nhau giữa con đường - đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt - cám ơn con cò...Đấy đại loại nó có nguyên tắc của slogan quảng cáo ngày nay. Như trong bài Tây Giang Nguyệt thì tôi bắt dính 2 câu: Vạn sự vân yên hốt quá - Ông mày còn giữ những việc gì. Một đàng thì thảng thốt vô thường dễ dùng cho những lúc bâng khuâng, một đàng thì bất cần yếm thế những khi buồn lui cui. Cảm xúc đến, dù là cảm xúc gì thì nó cũng sẽ rõ ràng hơn, có chiều hướng hơn một tâm trạng vụt chạc, thắc thỏm. Rõ là một loại não thần đan.

Theo tiêu chuẩn của Adorno (ở đây) thì đây thực sự là vấn đề của văn hóa đại chúng thời mạt thế. Đó là "sự trốn chạy không đòi hỏi nỗ lực gì trơn trọi (bán kèm sự thụ động)" với chức năng tâm lý là "sự điều chỉnh tâm lý (để chấp nhận) đối với cái nguyên trạng" và dẫn đến "khước từ và đàn áp mọi khả năng phê phán". Có lẽ ông Adorno và cả ông dịch giả kia (^^) đã đúng mà chưa biết mà phê phán Tống Từ. Băng đóng ba tấc đâu phải cái lạnh một ngày! Cái điềm nhà Tống suy vi đã hiển hiện ngay trong Tống Từ, bất kể những nỗ lực chấn hưng phong khí của Tô Đông Pha.

Cho nên câu "Thật nguy hiểm! Nền công nghiệp văn hóa đồng hóa, giải chính trị hóa và hút cạn cái khả năng cách mạng của văn hóa đỉnh cao bằng việc hòa tan chính bản thân nó..." chính là vận vào triều Tống bên Tàu kia. Thời đó, phong khí Thiền Tông vẫn còn đương thịnh, nhưng e rằng hóa ra Thiền Tông thời đó có thịnh là thịnh cái tư tưởng được chế biến cho phù hợp với não trạng "mang tính bảo thủ và đặt trọng tâm tư duy vào cái hiện tại tức thì hơn là hướng tâm trí vào tương lai và những khả năng cải thiện hoặc thay đổi" mà ông Adorno đã chẩn đoán.

Thế là từ nay có cái thú ngâm vịnh "tín nhi hiếu cổ" với mấy chữ Nho lỏng (@Hồi ký Phạm Cao Củng) sẽ không còn được hồn nhiên thưởng thức nữa. Đành chơi bài giễu nhại cho hợp thời và qua ngày đoạn tháng ^^

Chứ không thì ông mày còn giữ những việc gì?


Minh họa

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Đọc lại - Bằng hữu. Tản mạn về chữ "Chí"



- Khi nào một người coi một người khác là bạn? Điều tối thiểu là họ phải "biết" nhau. Như vậy chưa đủ, họ còn phải có thể "thông - cảm" được với nhau ở một phương diện nào đấy. Do đó họ chia sẻ một sự tín nhiệm về "đồng cảm". Và "tín nhiệm" thường được coi làm tiêu chuẩn của tình bạn - tin cậy lẫn nhau, chúng ta thường nói như vậy. Điều kiện của tín nhiệm như vậy chính là một môi trường chung để có thể "cảm - thông" với nhau. Họ có thể không hiểu nhau ở chỗ bất đồng chính kiến, nhưng họ không "hại" nhau. Tức là họ chia sẻ với nhau niềm tin vào một sự liên đới nhân bản giữa các cá nhân với nhau. Chính điều này sẽ phát động hành vi giúp đỡ nhau lúc khó khăn một cách vô vụ lợi. "Làm cho bạn được như mình được". Mà vẫn duy trì, tôn trọng sự độc lập trong khai triển nhân tính của mỗi người. Tình bạn chia sẻ cảm nghiệm chúng ta chung một bản thể và hơn thế tất thảy đều gắn chặt trong bản thể của tự tính sự sống.

- Có bạn tốt là một điều hay. Có nhiều bạn tốt càng đáng mừng. Nhưng khai triển những năng tính của tình bạn hữu ra đến vô tận mới chính là điều tốt đáng hâm mộ. "Tứ hải giai huynh đệ".
Tình bạn thường được so sánh rất tự nhiên với tình anh em. Có thể nói tình anh em là mẫu hình lý tưởng cho tình bạn tốt? Ta thử tìm kiếm một vài ví dụ ngẫu nhiên xem sao.

Tình anh em. (Erich Fromm)

Tình anh em là tình yêu căn bản nhất, nền tảng cho mọi kiểu mẫu tình yêu.
- Với tình anh em, tôi chỉ cho ý nghĩa về trách nhiệm, quan tâm, trọng thị, nhận thức về một con người khác nào đó, ước muốn giúp đỡ sự sống của nó.
- Tình anh em là tình yêu đối với tất cả loài người: nó có đặc điểm là không cực đoan.
- Tình anh em dựa trên cảm nghiệm rằng tất cả chúng ta đều là một.
+ Những sai biệt trong tài năng, trí năng, tri thức đều có thể bỏ qua so với đồng nhất tính của tâm điểm con người chung cho tất cả mọi người. (Xem “Sự hình thành con người” và “Lý luận không có con người” của Trần Đức Thảo).
+ Mối thân thuộc từ trung tâm tới trung tâm: Simone Weil: “Cùng lời nói ấy (thí dụ, một người nói với vợ mình: tôi yêu mình) có thể là tầm thường hay phi thường tùy theo cách nói lên của chúng. Và cung cách này dựa trên miền sâu của vùng, trong thể tính của con người mà chúng diễn tiến từ đó; không cần đến ý chí với khả năng làm một việc gì đó. Và bằng một thỏa thuận kỳ lạ chúng tiến vào vùng ấy trong kẻ đang nghe chúng” (Điều này thật ý nghĩa khi so với thế giới lý tưởng của Plato).
- Tình anh em là tình yêu giữa hai kẻ ngang hàng: nhưng sự thựcchúng ta không bình đẳng như là những kẻ ngang hàng; vì chúng ta là người nên chúng ta cần có sự giúp đỡ. (Bản chất xã hội của loài người – xem các thảo luận liên quan của K.Marx).
+ Nhưng nhu cầu giúp đỡ này không có nghĩa rằng người này thiếu sức người kia dư sức.
Bất hạnh là một điều kiện tạm thời; khả năng đi và đứng bằng đôi chân của chính mình là một khả năng thường trực và chung. (Liệu có liên quan gì đến những phê phán xung quanh vấn đề “luật pháp và đạo dức là khế ước của xã hội những kẻ có bản chất xấu xa” của các nhà ngụy biện Hy Lạp?)
- Tuy nhiên, tình yêu một kẻ yếu ớt; tình yêu một người nghèo, một kẻ lạ, là khởi đầu của tình anh em.
+ Chỉ trong tình yêu của kẻ nào không phục vụ cho một chủ đích, tình yêu mới bắt đầu thổ lộ.
> Cựu Ước: đối tượng trung tâm tình yêu của con người là kẻ nghèo, kẻ lạ, quả phụ và cô nhi, và cuối cùng là kẻ thù quốc gia, người Ai Cập và người Edomite.
+ Bằng lòng lân tuất với kẻ yếu ớt, con người bắt đầu phát triển tình yêu với huynh đệ mình, và trong tình yêu của nó với chính nó, nó cũng yêu kẻ đang cần giúp đỡ, kẻ bạc nhược và bất an.
Lòng lân tuất bao hàm yếu tố nhận thức và đồng nhất hóa: Cựu Ước: “…vì bạn là những khách lạ trong lãnh thổ Ai Cập; vậy nên bạn hãy yêu khách lạ” (Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm/Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân)
- E.F đã phát biểu với tinh thần và cung cách diễn đạt của Phương Đông. Nó đòi hỏi một sự "cảm-thông" và hướng tới "sự suy tư vô tận" về cái vô hạn, cái vô điều kiện.
Luận ngữ V.25 bản dịch NHL.
Nhan Uyên, Quý Lộ thị. Tử viết: "Hạp các ngôn nhĩ chí?".
Tử Lộ viết: "Nguyện xa mã, ý khinh cừu, dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám"
Nhan Uyên viết: "Nguyện vô phạt thiện, vô thi lao"
Tử Lộ viết: "Nguyện văn tử chi chí"
Tử viết: "Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi".
Dịch:
Nhan Uyên và Quí Lộ theo hầu.
Khổng Tử bảo "Sao không kể chí hướng của các anh cho ta nghe?".
Tử Lộ thưa: "Con mong có xe, ngựa, có áo lông cừu nhẹ để các bạn cùng hưởng, dù có hư nát, con cũng không hận".
Nhan Uyên thưa: "Con không muốn khoe điều hay, kể công lao con".
Tử Lộ thưa: "Xin thầy cho chúng con biết chí thầy?"
Khổng tử đáp: "(Ta muốn) các người già được an vui, các bạn bè tin lẫn nhau, các trẻ em được săn sóc vỗ về".

- Tại sao tôi lại chọn đoạn văn trên trong khi Luận Ngữ có rất nhiều đoạn nói trực tiếp về bằng hữu? Thứ nhất là bởi vì do ngẫu nhiên, nói đúng hơn là do đoạn văn này mà tôi nảy ra ý thú viết đoạn luận này. Thứ hai, qua nó, tôi muốn gợi ra phương thức suy tư vô tận để có thể thực sự "cảm - thông" được ý niệm "thông - cảm" của tình bạn làm cơ sở suy tư sâu xa hơn về tình bạn - cũng là làm cho tình bạn thực sự được khai triển, lân mẫn.

Tản mạn về chí. Người xưa nói về chí hướng với một sự thận trọng, trân trọng và đầy chú tâm. Vì sao vậy? Vì sao người ta thường nói về chí như là chí hướng? Là bởi vì chí không hoàn toàn là một mục đích cụ thể như người ta dễ lược quy nó như vậy. Trong truyền thống của triết lý điều tiết, triết lý "Trung thứ" (vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã) thì chí hướng có tính cách phát khởi, khích lệ con người ta phấn phát hơn là một đích đến. Nội dung cụ thể có thể được điều chỉnh, nhưng cái tinh thần, ý hướng hàm ngụ trong đó mới thực sự quan trọng. Nhất là trong truyền thống của lời nói gián tiếp, hàm ngụ, ẩn ý. (Phải nói thêm rằng lối đi vòng này là một lựa chọn có tính nguyên tắc chứ không phải một trào lưu thời trang diêm dúa). Ngày nay người ta chua chát nhận ra rằng: bây giờ những gì nghiêm trang quá, đúng đắn quá lại bị chuyển sang sắc thái hài hước thậm chí là hơi "sến" - như cách nói của người hiện đại. "Đời là bể khổ, tình là dây oan" - Ai hay đó là lời từ cửa Phật từ bi lân mẫn nữa? Chỉ còn lại một kiểu tán thán có phần giễu cợt! 

Bây giờ, trong ngôn ngữ của người VN hiện đại, người ta có phần ngượng ngập khi nói về chí và chẳng còn hỏi nhau "Chí của anh là gì?" nữa. Nó suy biến thành những câu hỏi về mục tiêu - mục tiêu luôn luôn nông cạn; và về mong muốn - mong muốn luôn luôn yếm thế. Không thể nào nói được cái sắc thái phấn phát, hướng thượng của một hoài bão khởi lên từ bên trong nữa. Thời đại của hoài nghi là như vậy - người ta chỉ biết đến hoài nghi và chờ đợi.

Chu Hy nói rằng người ta phải nghiền ngẫm những lời nói của cổ nhân. Nghiền ngẫm, chứ không chỉ đọc, người ta mới cảm nhận được cái dư vị của lời nói, cái phần không hiển ngôn của lời nói Thánh Hiền. (Từ khi con người đã quen thói lý sự, sự khích động kín đáo của một Danh sư không đủ nữa và những trường phái lao vào một cuộc tranh luận vô tận. Trong sự loạn đả tranh cãi, những điều tế vi của Đạo của cổ nhân thánh hiền bị đe doạ…(F.J). 

Hãy thử bắt đầu một cách chậm rãi: Nhan Hồi và Tử Lộ theo hầu Thầy". Họ noi theo và chờ đợi những chỉ dẫn, những tín hiệu từ thầy. Khổng Tử khơi nguồn từ trong chính họ "hãy nói_với_ta về chí của các anh". Tử Lộ nói trước. Ở trong văn bản, đây là một điều tinh tế. Có thể là vì Tử Lộ nhiều tuổi hơn nên Tử Lộ nói trước. Có thể vì Tử Lộ hấp tấp nên nói trước. Bề nào cũng có ngữ nghĩa của nó cả. Thời xưa, người ta không viết tuỳ tiện bao giờ. (Hãy nhớ lại câu chuyện Khổng Tử viết Xuân Thu). Cái gì quan trọng, cái gì xảy ra trước thì trình bày trước. (Vậy tại sao ngay từ đầu lại đặt tên Nhan Uyên lên trước Quí Lộ? Phải chăng trong trạng huống "theo hầu Thầy" trên con đường "Đạo" thì Nhan Uyên đang ở phía trước Quí Lộ?). 

Người học trò cương trực nhưng có phần kém nhạy bén kia đã thưa với thầy về những tiện nghi tượng trưng cho sự thành đạt trên quan lộ (người Trung Hoa luôn quan niệm triết lý là triết lý chính trị - tu thân là để trị nước cứu đời, con người luôn gắn chặt trong xã hội, ngay cả dù ở những trường phái cực đoan nhất cũng khởi đi từ điểm này). Điều quan trọng là Tử Lộ bày tỏ trong sự chia sẻ cụ thể với các bằng hữu - những người cùng trên con đường đạo lý của anh ta. 

Chúng ta giữ lời nói này trong tương quan giữa trò và thầy - người thầy chỉ dạy vê Nhân - về làm người thế nào cho phải lẽ. Từ đó có thể nhận thấy quan niệm của Tử Lộ về viễn cảnh đạt Đạo trong chiều hướng tin tưởng vào khả năng đạt tới một thái độ sống (dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám) nhưng trong đó còn vương vấn sự phân ly với thực tại khi dựa vào những tiêu chuẩn của thành tựu chất lượng sống (không phải mức sống). Sự phân ly này được dội lại ngay trong lời nói của Nhan Uyên "nguyện vô phạt thiện, vô thi lao". 

Nhan Uyên chăm chú vào thực tại nội tâm nhưng ý hướng vẫn có thể gợi ra một viễn cảnh mà đồng thời không chia tách với thực tại bởi khoe điều hay thì chưa thực hay, kể công lao thì chưa thực có công lao. Hãy đối chiếu ý kiện này với nhận định của E.F "chỉ tình yêu của một kẻ nào không phục vụ cho một chủ đích, tình yêu mới bắt đầu thổ lộ". Đây chính là điểm mà Nhan Uyên hằng dõi theo Thầy mình: "Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã". Tất cả đều khơi gợi đến viễn cảnh hoà nhịp với thực tại. (Phải ghi chú thêm rằng cũng theo Luận ngữ, Tử Lộ là người khi chưa thi hành được lời thầy dạy thì luôn sợ nghe thêm điều mới. Chúng ta so sánh, nhưng so sánh trong sự chú tâm cao độ vào không gian vang vọng lời tán thán của Bậc Hiền "Vi nhân nan - làm người khó lắm thay!"). Trong sự đạt nhân của Tử Lộ có sự phân lớp "xa mã, ý khinh cừu" là thành quả của người quân tử (người đạt nhân - tôi muốn thay bằng từ này cho nó sát với cổ nghĩa) đã trị nước, cứu dân, giúp đời. "dữ cộng bằng hữu" là một lớp nữa, "tệ chi nhi vô hám" lại là một lớp nữa - lớp cao nhất của một thái độ. 

Đến đây tôi chợt nhớ đến mẩu chuyện trong phần đầu của tiểu thuyết "Anh em nhà Karamazop" của F.M. Dotoiepxki. Về lời than thở của nhân vật đạo mạo với trưởng lão rằng y ta mặc dầu rất tin vào tình thương yêu con người (nói chung) của mình, nhưng càng chìm đắm trong tình thương đó, thì y ta lại càng không thể yêu thương được những con người cụ thể thường nhật. Mặc dù khập khiễng, nhưng ý niệm của Tử Lộ còn có cái gì đó như là một khuôn mẫu, một nguyên lý…là cái mà Khổng Tử không xiển dương.

Lời nói của Thánh Hiền có giá trị chỉ hiệu (valeur indicielle), mở ra sự suy tư vô tận - một "lối nói tinh tế". Ở giữa khoảng lời đáp của Nhan Uyên và câu hỏi lại của Tử Lộ với Khổng Tử có lẽ đã có một khoảng lặng. Thầy Khổng đã im lặng vì như thế là đủ. Tự sự cọ xát giữa hai lời đáp của Nhan Uyên và Tử Lộ đã đầy đủ. Chính độ chênh ấy đủ tạo ra thế năng cho sự vận hành tâm trí của các học trò trên con đường "Đạo", mà thầy Khổng đã gián tiếp tạo ra. Nhưng có lẽ hoặc là Tử Lộ không nhận ra, hoặc Tử Lộ không có chỗ bấu víu để chuyển đổi nên Tử Lộ muốn hỏi "Nguyện văn Tử chi chí?".

- "Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi". Người già an vui, bằng hữu tin cậy lẫn nhau, trẻ em được quan tâm săn sóc. Bối cảnh đã xô đẩy và chúng ta chờ đợi một hình ảnh toàn thể - bao gồm cả cái xã hội lý tưởng đáng hâm mộ của những con người đạt nhân và chính con người đạt nhân là Khổng tử. Cái điều mà chính Nhan Uyên cũng chưa rõ được. Trong lời đáp cô đọng này có quá ít chi tiết để đáp ứng yêu cầu ấy. Có thực là như vậy không. Thoạt đầu ta dễ hiểu cơ cấu ba thành phần này theo lứa tuổi: người già, người trưởng thành, và trẻ em. Nghĩa đen có vẻ như vậy. Nhưng có điều gì đó không ổn ở đây. "bằng hữu" tự nó không giới hạn ở độ tuổi nào cả. Hơn nữa, nếu triển khai theo các lát cắt, đáng lẽ ít ra chúng ta phải tìm thấy dấu vết của nhân luân, tam cương…Đó là những đặc điểm của một thiết chế xã hội mà Khổng tử muốn duy trì. Hơn nữa lại vắng bóng "ta" ở đây - thậm chí như cách dịch thì ta ở trên (ban phát) và chia tách với mọi người. Mặc dầu có vẻ hợp với vị thế của một "sư biểu" thừa mệnh trời kế chí Chu Công đi nữa thì nó vẫn thiếu sắc thái qui hướng về chính ta - người đạt nhân.

Lật sang một phía khác. "An chi", "tín chi", "hoài chi" - "được an vui", "tin cậy lẫn nhau", "được quan tâm săn sóc" từ mặt trái của các tiêu chuẩn này là những vấn đề gì? Chúng có thiết thân và phổ cập ở mức độ xã hội như là những đặc điểm vốn có của "Đạo lớn" không? Tất nhiên, ta có thể vượt qua những vấn đề của xã hội đương thời Khổng Tử và đẩy chúng đến vị trí của một khuôn mẫu xã hội lý tưởng mà ngài theo đuổi. Nhưng xem xét chúng theo những mẫu hình cũ như nhân luân, cương thường…ta thấy có cái gì đó không sát lắm. Đành rằng nó có thể diễn đạt được những điều ấy nhưng nó có phần xa rời khuynh hướng tự nội do vậy thiếu tính chất phát khởi như một nguồn sinh động của sự sống trong dòng vận hành của Tự nhiên - của Đạo.

Cơ may đến với chúng ta khi ghép hai phía khiếm khuyết này lại. Mọi sự sẽ nhất quán và có sức lan toả hơn rất nhiều khi nhìn nhận cơ cấu 3 thành phần này như 3 giai đoạn của một đời người trên con đường học Đạo tiêu biểu: thuở chưa định hướng được chí hướng của mình. Người ta chỉ mới ý thức về sự thôi thúc vươn tới Đạo lớn, nhưng còn thiếu mọi bề. (Đối chiếu với lời tự thuật của Khổng Tử: "Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập nhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất dụ củ" - "Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo lễ mà làm); bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa (tức là có trí đức, nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết được việc sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi đã biết theo mệnh trời; bảy mươi tuổi theo lòng ham muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý (không phải suy nghĩ hay gắng sức mà hành động tự nhiên, hợp đạo lý).

Vậy là theo mạch đấy có thể thấy khi còn non trẻ ("thiếu" không nhất thiết là trẻ nhỏ) để đến được với Đạo lớn, điều cần thiết nhất là có được sự khuyến khích định hướng dẫn dắt. Vào Đạo rồi (nhưng chưa đạt Đạo), con người ta còn thấy mặt này bỏ mất mặt kia…người ta cần "bằng hữu tín chi". Nó đảm bảo cho hai vế của một phương trình, một bên là tự thân người học Đạo (làm người), phần còn lại là tương quan của anh ta với xung quanh. Cuối cùng đạt Đạo rồi, người ta đạt đến sự chín muồi (lão) - sự chín muồi của tinh tấn xuyên qua thời gian sống. Phần thưởng là cái "an chi". Khỏi phải nói trong triết lý "Trung thứ" thì "an chi" chính là dấu hiệu của sự hoà nhịp và đồng điệu với Tự Nhiên - với Trời. Tựu trung lại, tự phẩm giá của 3 giai đoạn này đã gợi ra mối liên hệ theo chiều dọc, sự lưu chuyển của Đạo lớn. "Mặc nhi chí chi, học nhi bất yếm, hối nhi bất quyện, hà hữu ư ngã tai!" - Trầm mặc suy nghĩ rồi ghi vào lòng, học không chán, dạy người không mỏi, ngoài ra ta có cái gì khác đâu!

Trên cái phông nền của bạn hữu, chúng ta thấy được điều gì? Phải chăng đó là sự lân mẫn, liên thông và đồng đẳng của những nhân vị với khả năng khai triển nhân tính đến vô hạn, vô điều kiện của nó. Và trên con đường lớn chung đó người ta mới thực sự có bạn hữu, và sự tương thông làm lên phẩm giá của tín nhiệm? Nếu không thế, người ta rơi xuống bình diện của bè nhóm ("giấu cô đơn trong cảm xúc bầy đàn" @HY). Và đặc điểm nổi bật là sự đồng loã khi các xung đột chưa thực sự xảy ra. Xung đột theo hai chiều hướng: xung đột tiêu cực mù quáng ngộ nhận, sai lầm; và xung đột nội tâm xô vỡ tấm màn che mắt ta!

Cuối cùng, câu hỏi suýt trượt mất khỏi viễn tượng "lão giả an chi" vốn quá hiển nhiên và thậm chí là mờ nhạt (mờ nhạt là một phẩm giá - phẩm giá của nước, của không khí, của bao dung thể). Câu hỏi đó là "tín nhiệm" và các quan hệ bằng hữu đã chuyển hoá đi đâu trong bức tranh này? Bức tranh vốn được đưa ra đầu tiên trong dãy liệt kê chí hướng của Thầy Khổng!

Tôi thích hình ảnh thâm viễn mà Bùi Giáng sử dụng từ M. Heidegger: "Thi nhân và triết nhân đứng trong ngôn ngữ là đứng trên hai chóp núi xa biệt nhau vô cùng nhưng vòi vọi như nhau nên cùng đón nhận như nhau mọi sương tuyết phiêu bồng hiu hiu về với Chị - Chị Kiều là thiên thu Hồn Logos.." Người - điên này khích liệt quá nhưng một vẻ nào nhận thức của ông có phần đồng vọng với những điều Thầy Khổng nhận xét "Quân tử chi giao đạm nhược thuỷ - người đạt nhân giao tiếp với nhau đơn sơ như nước lã".