Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng

Cuộc đời xung quanh mình thì mình thấy cũng không xấu xa gì. Chỉ là nhạt nhẽo, trơ lì thôi. Chép lại bài thơ của LQV cho đỡ nản lòng :D
------------------------------



Phố ta

Phố của ta
Những cây táo nở hoa
Mùa thu đấy
Thân cây đang tróc vỏ
Con đường lát đá
Nghiêng nghiêng trong sương chiều
Năm nay cà chua chín sớm
Trên quầy hàng đỏ hồng
Chị thợ may đi lấy chồng
Chị thợ may goá bụa
Năm nay tôi mặc đồ đen.
Bác đưa thư, có thư ai đấy?
Bác đưa thư kéo chuông
Ti-gôn hoa nhỏ
Rụng đầy trước hiên.
Riêng bác thợ mộc già buồn bã
Thở khói thuốc lên trời
Anh thợ điện trên mái nhà mắc dây
Bà giáo về hưu ngồi dịch sách
Dậy cậu con tiếng Pháp
Suốt ngày chào: bông-dua
Phố của ta
Phố nghèo của ta
Những giọt nước sa
Trên cành thánh thót
Lũ trẻ lên gác thượng
Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng.
Em chờ anh trước cổng
Con chim sẻ của anh
Con chim sẻ tóc xù
Con chim sẻ của phố ta
Đừng buồn nữa nhá
Bác thợ mộc nói sai rồi
Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa
Tại sao cây táo lại nở hoa
Sao rãnh nước trong veo đến thế?
Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi.

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Đọc Nhận diện quyền lực - Noam Chomsky. p3




7. Mặt trái của một số hành động phong trào

- Ký vào một thỉnh cầu: nó không phải là một hoạt động bền vững, xây dựng nên một cộng đồng hoạt động tích cực. (270)

Nếu các bạn được chấp nhận vào giới chóp bu, rất có thể các bạn đang làm cái gì đó sai. (270)

- Người ta không phải là thánh, họ chỉ phát hiện ra sự vật và họ sai lầm (329)

- Phá hủy máy móc: không chống lại máy móc - chỉ chống máy móc phá hủy con người - phát triển máy móc - nâng cao tay nghề và quyền lực của họ (thợ) (374)

Internet: từ quan điểm quyền lực nó quá dân chủ. Mặt khác: nó làm người dân chệch hướng và phân tán: các bạn ngồi trước màn hình máy tính một mình/đẩy tình cảm con người ra khỏi con người. Họ gửi cho các bạn bất kỳ ý tưởng nào mà họ thậm chí chưa nghĩ kỹ, bất kỳ lúc nào họ bị thôi thúc. (401)

- Những đám đông dân chúng có mặt tại các buổi nói chuyện và muốn tham gia nhưng không có gì cho họ làm cả, hay họ không bao giờ có được cảm giác rằng có một việc gì đó để làm tiếp. 

- Cánh tả: thiếu khoan dung. (Không làm gì biến sự bất mãn to lớn thành phương hướng hành động xây dựng nào đó) (468)

- Sự lựa chọn giữa "bình thường" và "bệnh hoạn": sự lựa chọn cho tất cả - thành viên bình thường xã hội, thu nhập và chi phí bình thường, có một sự tồn tại trung bình hợp lý - sự lựa chọn tất cả: tác động mạnh mẽ về mặt tâm lý: làm việc đó sẽ dẫn đến phải làm nó nhiều hơn - họ đóng cửa với nó ngay từ đầu: một khi khẳng định rằng nó là việc làm đúng, thì một câu hỏi sẽ xuất hiện "làm thế nào mà tôi chỉ làm việc này khi tôi có thể làm việc đó hàng triệu lần?" - có một phạm vi sự lựa chọn (503)

8. Lối nhìn của Noam Chomsky

- Chỉ cần lương tri lành mạnh - thái độ hoài nghi quyền lực

- Xem xét nguồn tài liệu - phê phán nó

- Vai trò cá nhân, trao quyền cho cá nhân

- Nhận thức trong hành động - hành động trong nhóm xã hội - từ xung quanh mình

- Một công việc lâu dài cho sự thay đổi

- Không cần kế hoạch chi tiết: thực hiện những nguyên tắc nhất định mà các bạn muốn đạt được - cái mà chúng ta nên làm là thử từng phần

- Không nói ra: hiểu được - đó là những sự việc phải khám phá. Bị ấn tượng bởi những sự kỳ diệu về cái mà mình đang khám phá (ngay cả khi người khác đã khám phá ra nó) - bổ sung thêm một chút về những gì đã biết.

- Tiêu chí xác định sở hữu trí tuệ trong giác quan của con người là sự sáng tạo tự do trong cách sử dụng ngôn ngữ thông thường (313)

- Khi không thể nhận thức hết được một cách khoa học về con người thì lựa chọn thái độ nào là hợp lý? Giữ nguyên tắc, sử dụng nhiều chiến thuật - không cần kế hoạch. Chống lại thẩm quyền phi lý - quyền tự do lựa chọn, sáng tạo. Bắt đầu từ mỗi người xung quanh - từ bỏ trung tâm, không có trung tâm.

- Nghiên cứu ngôn ngữ học đặc biệt thú vị vì dường như nó giống những sự vật trong thế giới vô cơ.

Con người là như thế nào phụ thuộc vào: công việc họ làm, cách kiểm soát của họ đối với nó, khả năng hoạt động sáng tạo của họ theo những quyết định cũng như sự lựa chọn riêng của họ. (321)

Sự hiểu biết hạn chế về con người - sự thận trọng chung cho những người can thiệp vào các mô thức xã hội liên quan đến con người. - Con người phải tiến hành những sự thay đổi cho chính họ: không thể bị áp đặt từ bên trên. (322)

- Không có tính lý thuyết: người ta có quyền hoài nghi khi không hiểu một cái gì đó

- Người ta không phải là thánh: họ chỉ phát hiện sự vật và họ sai lầm

- Không có những quy luật (kinh tế học, lịch sử) rõ ràng.

- Giáo dục thực sự là phải làm cho người ta tham gia vào việc tư duy cho chính mình.

- Tư tưởng thị trường tự do: lập luận chống lại chi phí xã hội và người nghèo

Nguyên tắc đạo đức đơn giản: giá trị đạo đức của những hành động của người ta dựa vào những hậu quả được tiên liệu đối với con người. - tập trung vào cái có thể tạo ảnh hưởng và kiểm soát.

"Các bạn chịu trách nhiệm cho những hậu quả có thể dự đoán được do những hành động của mình, các bạn không chịu trách nhiệm về những hành động của người khác" (411)

- Có một phạm vi sự lựa chọn
----------------------------------





Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

Đọc Nhận dạng quyền lực - Noam Chomsky. p2



5b. Cá nhân

- Lao động giản đơn ít được lựa chọn, thiệt thòi trong tiến trình toàn cầu hóa.

- Sự quan tâm xã hội bị làm chệch hướng (thể thao) (153)

- Bị tách rời, gạt ra ngoài lề và loại trừ họ, để họ không can thiệp vào việc ra quyết định. (184)

- Nhồi sọ cả giới chóp bu (184)

- Barasil: 80% dân số giống Trung Phi, 5-10% dân số giống Tây Âu (214)

- Không có thông tin về những gì xảy ra (224)

- Một chế độ nô lệ tiền lương không thể tha thứ (284)

- Áp lực rất lớn để thích ứng được trong nhóm (285)

Tivi tạo ra nhu cầu - dồn ép người dân vào tình thế gọi là bản chất của họ. Bất đồng chính kiến bị tảng lờ và bị phỉ báng. (297)

- Giáo dục chỉ là khiến người ta bận bịu vô bổ (341)

- Loại bỏ ra khỏi đầu người dân cái ý nghĩ cho rằng họ có quyền sống cơ bản (364)

Internet: từ quan điểm quyền lực nó quá dân chủ. Mặt khác: nó làm người dân chệch hướng và phân tán: các bạn ngồi trước màn hình máy tính một mình/đẩy tình cảm con người ra khỏi con người. Họ gửi cho các bạn bất kỳ ý tưởng nào mà họ thậm chí chưa nghĩ kỹ, bất kỳ lúc nào họ bị thôi thúc. (401)

- Rủi ro nguồn lương hưu (495)

- Thời gian cha mẹ tiếp xúc con cái giảm xuống (520)

- Họ không muốn các di dân này có các salon để có thể gặp nhau và trở nên nguy hiểm trong các trung tâm đô thị (529)

- Làm cho người ta phải sợ hãi, để họ sẽ từ bỏ các quyền của mình - phương thức kiểm soát dân thường - gây ra sự  sợ hãi. (533)

- Nếu người dân bị tước đoạt hết mọi thứ thì họ sẽ ẩu đả lẫn nhau (533)

- Người dân bị vỡ mộng đến mức họ sẽ tin vào mọi thứ - xã hội đang trở nên vô học (563)

- Người ta có thể thổi bùng lên lòng căm ghét và sự sợ hãi để huy động người dân dưới danh nghĩa phát triển xã hội (566)

6. Người dân có thể làm gì?

- Quan tâm xã hội - làm sao để thay đổi nó: thông qua người khác, cộng đồng và cam kết.

- Mưu mẹo là không để bị cô lập (184)

- Một quy tắc ứng xử: bất kỳ ai muốn làm tổng thống - "tôi không muốn nghe người ấy nữa" (207)

- Phải xây dựng cơ sở thể chế và văn hóa cho nhiều sự thay đổi - một công việc lâu dài (211)

- Phải tập trung sức lực và sự cố gắng vào xã hội dân sự (234)

- Quan tâm những vấn đề quan trọng và có ý nghĩa: trao quyền cho cá nhân, hiểu thế giới, làm việc cùng những người khác, tìm ra những giá trị của các bạn là gì, cố gắng tìm hiểu xem người ta có thể kiểm soát đời sống riêng, đưa bàn tay của bạn đến những người cần nó (259)

- Sự đa dạng ở cội nguồn xã hội - nhất định nó sẽ trở lại (261)

- Những người có mối quan tâm giống nhau, có thể tập trung vào những sự việc khác nhau, nhưng trong tâm họ đều có những giá trị tương tự, những lợi ích tương tự về trao quyền, học tập, giúp người ta hiểu việc tự bảo vệ mình chống lại quyền lực bên ngoài và kiểm soát đời sống riêng, đưa bàn tay của bạn đến người cần nó.

- Hình thức tích hợp, liên giao tiếp và cộng tác nào đó. (261)

- Chúng ta phải tạo ra những sự lựa chọn và những sự lựa chọn do đó phải tích hợp rất nhiều lợi ích và mối quan tâm vào trong một phong trào. (261)

- Những quyết định quan trọng trong xã hội: các bạn hãy nhìn vào những gì đang xảy ra và cố gắng làm hết sức mình trong những hoàn cảnh đó. (267)

- Nếu các bạn được chấp nhận vào giới chóp bu, rất có thể các bạn đang làm cái gì đó sai. (270)

- Các bạn nhận thức trong quá trình làm việc (273)

- Hiệu quả là xây dựng nhận thức - làm những việc sẽ khiến cho người ta hiểu biết tốt hơn về nguồn gốc thực của quyền lực. (274, 279)

- Bạo lực: phụ thuộc vào giá trị tinh thần/ nên thử nhiều chiến thuật/ khi bị giới lợi ích chống lại bằng bạo lực - nó ngầm có tính bạo lực. (282)

- Đoàn kết sâu hơn, rộng hơn (282)

- Không cần kế hoạch chi tiết - thực hiện nguyên tắc nhất định mà các bạn muốn đạt được - cái mà chúng ta nên làm là thử từng phần (292)

- (Tôi sẽ không nó ra tầm nhìn vô chính phủ): hiểu được - đó là những sự việc phải được khám phá. - Ai cho rằng quyền lực đó hợp pháp thì người đó có trách nhiệm phải chứng minh nó (292)

- Bị ấn tượng bởi những sự kỳ diệu về cái mà mình đang khám phá (ngay cả khi người khác đã khám phá ra nó) - bổ sung thêm một chút vào những gì đã biết (295)

- Những sự lựa chọn khác phải được mở ra cho người dân (295)

- Cốt lõi bản chất con người cho quyền làm việc tự do, sáng tạo, và quyền kiểm soát công việc đó. (313)

- Tiêu chí xác định sở hữu trí tuệ trong giác quan của con người là sự sáng tạo tự do trong cách sử dụng ngôn ngữ thông thường (313)


- Con người là như thế nào phụ thuộc vào: công việc họ làm, cách kiểm soát của họ đối với nó, khả năng hoạt động sáng tạo của họ theo những quyết định cũng như sự lựa chọn riêng của họ. (321)

- Sự hiểu biết hạn chế về con người - sự thận trọng chung cho những người can thiệp vào các mô thức xã hội liên quan đến con người. - Con người phải tiến hành những sự thay đổi cho chính họ: không thể bị áp đặt từ bên trên. (322)

- Sự biện minh cho bất kỳ hệ thống quyền lực nào cũng đều phải được lập luận và chứng minh trước khi nó được coi là hợp pháp dù mức độ nào. (326)

- Người ta không phải là thánh: họ chỉ phát hiện sự vật và họ sai lầm (329)

- Người ta có quyền hoài nghi khi không hiểu một cái gì đó. (332)

- Vấn đề là, các bạn đọc gì không quan trọng, điều quan trọng là các bạn đọc như thế nào?  (340)

- Giáo dục thực sự là phải làm cho người ta tham gia vào việc tư duy cho chính mình (341)

- Phá hủy máy móc: không chống lại máy móc - chỉ chống máy móc phá hủy con người - phát triển máy móc - nâng cao tay nghề và quyền lực của họ (thợ) (374)

- Nước Mỹ thực sự bảo vệ cho tự do ngôn luận - kết quả của đấu tranh quần chúng. (393)

- Các quyền là mâu thuẫn: quyền không phải là một hệ tiên đề, vì vậy có mâu thuẫn giữa chúng - người ta phải thực hiện những xét đoán của riêng mình. - phải cho phép nhiều cách khác nhau (397)

- Việc làm chuẩn mực: "chỉ phê phán nước Mỹ" - Nó là nguồn gốc, thành phần quan trọng trong khủng bố quốc tế - nó là những sự việc mà tôi có thể làm một cái gì đó với nó. - Nguyên tắc đạo đức đơn giản: giá trị đạo đức của những hành động của người ta dựa vào những hậu quả được tiên liệu đối với con người. - tập trung vào cái có thể tạo ảnh hưởng và kiểm soát.

"Các bạn chịu trách nhiệm cho những hậu quả có thể dự đoán được do những hành động của mình, các bạn không chịu trách nhiệm về những hành động của người khác" (411)

- Quy hoạch xã hội: quy hoạch hợp lý các mối quan tâm của con người bởi những người có trách nhiệm đại diện cho toàn bộ dân chúng (454)

- Thông tin chính xác ở đâu? - nên tự hỏi - đọc một cách hoài nghi - chính người ta tự tìm câu trả lời cho riêng họ. - các bạn đọc gì không quan trọng, điều quan trọng là các bạn đọc như thế nào (462, 463)
- Tờ báo kinh doanh (Mỹ) có xu hướng chân thực hơn (464)

- Nếu muốn tự giáo dục mình về chính trị - trở thành một bộ phận của một nhóm (464)

- Tham gia vào giáo dục đại chúng - tổ chức những nhóm người - nói chuyện - giáo dục công nhân (475)

- Đoàn kết và có tổ chức (485)

- Tầm nhìn vô chính phủ - mục tiêu bảo vệ quốc gia phúc lợi. (491)

- Nếu chúng ta muốn có một cuộc mitting phản đối chiến tranh VN ở Boston thì chúng ta phải tìm ra 6 chủ đề. (501)

- Hy vọng vào sự thay đổi nào đó - giúp tác động vào sự thay đổi (502)

- Phong trào lao động ngày nay phải có tình quốc tế. Phải được phát triển từ cơ sở trở lên và được điều hành  bởi người tham gia. (545)

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

Đọc Nhận diện quyền lực - Noam Chomsky.p1

Với một tác giả thời danh và dễ gây tranh cãi như Noam Chomsky thì tốt nhất hãy tạm sử dụng cách chép lại, sắp xếp lại những luận điểm chính để thành một mạch lạc. Tất nhiên việc cắt dán tự nó đã có tính chủ quan (thì đã đành là tôi đọc tôi thấy thế), nhưng chẳng phải việc biên tập lại các đối thoại và ẩn đi tên người đối thoại cũng như ngữ cảnh của nó như lối cuốn sách làm đã là một lần khúc xạ? Tôi chỉ thêm vào tên các mục nhỏ và một câu chuyển. Các trích dẫn là vắn tắt tinh thần, nhưng có thể xem nguyên văn theo số trang trong ngoặc.
-------------------------

1. Truyền thông thao túng người dân qua chương trình nghị sự

- Cái cách mà trong đó những vấn đề được xây dựng cho chúng ta trong truyền thông và trong nền văn hóa chính trường chứa đựng nhiều giả định và tiền giả định đến mức bạn sẽ bị mắc bẫy nếu bạn tham gia vào một cuộc thảo luận về chúng. (419)

- (Về chủ nghĩa phản trí thức): không phải phản trí thức mà là phi chính trị hóa - nếu trí thức là những người đang sử dụng đầu óc của mình - suy nghĩ về sự vật, tranh luận về sự vật. (149)

- (Thể thao có nhiều khán giả): khán giả am hiểu sâu sắc về chuyên môn - liên tưởng đến những gì xảy ra ở những nền văn hóa không có chữ viết, không có công nghệ cao - bằng cách này hay cách khác, mọi người đều muốn sử dụng trí tuệ của mình. Vì vậy các bạn dành nhiều trí tuệ, tư duy và sự tự tin vào đó (thể thao). Chúng là một cách để hình thành chủ nghĩa sô-vanh bằng sự trung thành phi lý - sự trung thành sẽ chuyển sang lĩnh vực khác - khía cạnh cực kỳ phản xã hội trong tâm lý con người. Vai trò xã hội của nó là hướng quảng đại quần chúng chệch hướng khỏi vấn đề. (153)

- Thủ thuật tước quyền: Làm cho có vẻ những người vĩ đại làm mọi việc. (275)

Ai chủ trương việc đó? "Công ty Mỹ" - duy trì hệ thống quyền lực. Ai chịu thiệt? Đại chúng, người nghèo, xã hội - ra ngoài quá trình ra quyết định.

- Hệ thống tư bản do các công ty thống trị về cơ bản chống lại dân chủ. (211)

2. Mỹ chống ai? (Mỹ = Công ty Mỹ)

- (1958) Kẻ thù của Mỹ là chủ nghĩa dân tộc Ả rập cấp tiến: các nước độc lập, theo đuổi một tiến trình khác. (190)

- Khi các nước thuộc thế giới thứ 3 theo đuổi đường lối độc lập - (không còn là thị trường, nơi cung cấp tài nguyên, nhân công) - (Mỹ) thúc đẩy chạy đua vũ trang - quân sự - công nghệ cao - bán vũ khí (215)

- 50% mậu dịch của Mỹ là ở trong nội bộ của các công ty Mỹ - giảm mậu dịch - không phải là những sự tương tác trao đổi thị trường (406)

- Kinh tế Mỹ tăng trưởng thấp nhưng lợi nhuận tăng vọt. (538)

- Những người đầu cơ tài chính không muốn có sự tăng trưởng - họ muốn ổn định vì sự lạm phát (từ tăng trưởng cao) làm mất giá đồng tiền. Hệ thống kinh tế tăng trưởng thấp làm đồng lương nhân công thấp mà lợi nhuận cao. (540) "Chính sách được cách li với chính trị".

3. Không có Công lý, luật pháp!

- "Nếu có thể chúng tôi hành động đa phương, nếu cần thiết chúng tôi sẽ hành động đơn phương" Madeleine Albright. (223)

- Nguyên tắc can thiệp quân sự: không bao giờ tấn công kẻ nào có thể chống lại. (227)

- Người dân ủng hộ (can thiệp quân sự) hầu hết bởi vì các cuộc can thiệp xảy ra rất nhanh và thành công -  (chủ nghĩa yêu nước quá khích) và do họ không có thông tin về những gì xảy ra. (224).

- Khi bạn đưa lực lượng quân sự nước ngoài vào nước khác, họ sẽ sớm phải chiến đấu với dân chúng địa phương. (242)

- Can thiệp quân sự cần hoàn toàn nhanh chóng và hiệu quả nếu không sẽ làm sụt giảm sự ủng hộ chính trị (350)

- (Isarel là quốc gia đánh thuê cho Mỹ). "khát vọng của người Zion" Ben Gurion: Bây giờ ở chừng mực nào đó chúng ta dừng bước nhưng rồi bằng cách nào đó cuối cùng chúng ta sẽ chiếm tất. (201)

- (Quan hệ Mỹ-Indonesia 1970s). Vụ Đông Timor: mỏ dầu trong vùng lãnh hải. (424) Năm 1993 Indonesia dẫn đầu phong trào không liên kết: đã rút nghị quyết về tính pháp lý của vũ khí hạt nhân (432)

- (Về nguy cơ từ Liên Xô): Mỹ vẫn cần những chính sách tương tự để bán vũ khí cho Thế giới thứ 3.

- Phê phán vai trò của Ngân hàng Thế giới (234) Những chính sách tài chính tồi tệ - điều chỉnh cơ cấu cải cách (254)

- Tư tưởng thị trường tự do: lập luận chống lại chi phí xã hội và người nghèo (369)

- WB và IMF: "điều chỉnh cơ cấu" - đặt vào tình trạng bị thâm nhập và bị kiểm soát bởi nước ngoài. (371)

- Nước Anh dẫn đầu cuộc cách mạng công nghiệp vì họ đã sử dụng bạo lực để đẩy người dân ra khỏi mảnh đất của họ nhiều hơn ở các nước khác - Loại bỏ ra khỏi đầu người dân các ý nghĩ cho rằng họ có quyền sống cơ bản (364)

- Viện trợ cho Ấn Độ chỉ khi họ sử dụng hydro carbon của Tây Âu (254).

4. Thể chế cực quyền nhất trong lịch sử - thể chế công ty

- Liên Xô là mô hình CNTB nhà nước tập trung.(212)

- Tuyên truyền của kháng chiến ở Pháp và ở Italia (238)

- Karl Max: CNXH giải quyết vấn đề thuộc phần "con" đưa đến chỗ đối diện phần "người". (289)

- Trung Quốc: xã hội tàn bạo, đất nước tàn bạo. (419)

- (Mỹ và TQ): tỷ lệ tổng dân chúng vào tù. (419)

- Các quốc gia Đông Á là nền kinh tế phát xít - nhà nước tổ chức điều hành trong sự cộng tác với tập đoàn. (284)

5. Đó là vấn đề của thời đại

a. Hệ thống:

- Toàn cầu hóa: không có sự lựa chọn cho người nghèo (lao động chân tay giản đơn).

- Hệ thống tư bản do các công ty thống trị về cơ bản chống lại dân chủ. (211)

- Nhà nước không phải là những tác nhân đạo đức, chúng là công cụ của quyền lực hành động vì lợi ích các tổ chức quyền lực nội tại nhất định trong xã hội. (241)

- Nền dân chủ công nghiệp trái ngược với chủ nghĩa tư bản công ty (281)

- Chế độ nô lệ tiền lương là không thể dung thứ (284)

- Có một áp lực rất lớn để thích hợp trong nhóm - Sự loại trừ: bạn không còn là một phần của sự việc mà thôi. (285)

- Tivi tạo ra nhu cầu - dồn ép người dân vào tình thế gọi là bản chất của họ. Bất đồng chính kiến bị tảng lờ và bị phỉ báng. (297)

- Tin tình báo được truyền thông qua những người truyền tin cuồng tín về tư tưởng. (301)

- Alexis de Tocqueville: bạn có thể có 1 hệ thống trong đó "nghệ thuật tiến bộ nhưng nghề thủ công thụt lùi" - phi nhân văn. (Nghề thủ công: con người đầy đủ, kiểm soát việc họ làm nhưng ít hiệu quả về mặt kinh tế) (321)

- Không có những quy luật kinh tế học/lịch sử rõ ràng (331)

- Kinh tế học cổ điển: lao động cơ động, tư bản bất động - nay: lao động bất động (do hạn chế cư trú), tư bản cơ động (công nghệ). (366)

- Tư tưởng thị trường tự do: lập luận chống lại chi phí xã hội và người nghèo (369)

- Các quyền là mâu thuẫn: quyền không phải là một hệ tiên đề, vì vậy có mâu thuẫn giữa chúng - người ta phải thực hiện những xét đoán của riêng mình. - phải cho phép nhiều cách khác nhau (397)

- Internet: từ quan điểm quyền lực nó quá dân chủ. Mặt khác: nó làm người dân chệch hướng và phân tán: các bạn ngồi trước màn hình máy tính một mình/đẩy tình cảm con người ra khỏi con người. Họ gửi cho các bạn bất kỳ ý tưởng nào mà họ thậm chí chưa nghĩ kỹ, bất kỳ lúc nào họ bị thôi thúc. (401)

- Hiệp định tự do thương mại GATT/NAFTA: nó có hại cho những công nhân có tay nghề nửa vời (70% lao động). Nó sẽ làm cho nhiều người trở nên vô dụng nhìn từ quan điểm lợi nhuận. (404)

- Quyền sở hữu trí tuệ: tăng thời gian độc quyền. Rào cản đổi mới, tiến bộ công nghệ. Các công ty xuyên quốc gia sẽ độc quyền các công nghệ của tương lai. (406)

- 50% mậu dịch của Mỹ là ở trong nội bộ của các công ty Mỹ - giảm mậu dịch - không phải là những sự tương tác trao đổi thị trường (406)

- Cuối cùng cần thiết một sự phá vỡ hệ thống quốc gia nhà nước đặc biệt không có mối quan hệ với cách sống của con người được thiết lập bằng vũ lực. (450)

- Công ty tầm trung tạo ảnh hưởng đến bang: đe dọa chuyển sản xuất. Chuyển quyền lực (phân quyền) - chuyển sang tư nhân. (497)

- Cái có cơ sở pháp lý là vấn đề của quyền lực, không phải luật pháp. (496)

- (1994): ước lượng 14.000 tỷ USD dùng vào đầu cơ - tự do chuyển từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác: áp đảo tài chính quốc gia - ít lựa chọn cho các chính phủ xây dựng chính sách.(538) Cách mạng công nghệ viễn thông - chuyển tiền dễ dàng: tiền ở NY ban ngày ban đêm sang Tokyo - công ty quốc tế hầu như có quyền phủ quyết công việc của bất kì chính phủ nào. (538)


- Kinh tế Mỹ tăng trưởng thấp nhưng lợi nhuận tăng vọt. (538)

- Những người đầu cơ tài chính không muốn có sự tăng trưởng - họ muốn ổn định vì sự lạm phát (từ tăng trưởng cao) làm mất giá đồng tiền. Hệ thống kinh tế tăng trưởng thấp làm đồng lương nhân công thấp mà lợi nhuận cao. (540) "Chính sách được cách li với chính trị".




Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Văn chương vs Cuộc đời. 2

1.
Thực ra đây chỉ là một trò chơi. Những ý nghĩ thoáng qua đầu thường sẽ có một nguyên cớ nhất định. Hoặc ta sẽ tư lường thận trọng dò trước dò sau để nói cái gì đó hợp lệ. (Nhưng tôi nghi ngờ tính rốt ráo của nó). Hoặc ta chơi trò "song thủ hỗ bác", cho các ý niệm phản chiếu nhau. Dần dần ta sẽ nhận thấy các khái niệm luôn luôn bị xáo trộn nội hàm. Trong tương tác nó bị lưu chuyển. Chuyện có thể dài mãi mãi.

2.
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả

Văn chương với tôi mà nói, điều ý nghĩa nhất chính là nhờ hình thức của nó, ta có cơ hội coi vài ba người xưa như bạn, như thầy - như Kim Thánh Thán từng nói, như Nhượng Tống từng dịch. Và cũng là cơ hội để ta thấy tuy thiên địa du du nhưng trăm năm nhân sinh là chơi được - được chơi.

3.
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Ta đi gởi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2012

Văn chương Vs Cuộc đời. Hiệp 1

1.
Gom hàng facebook giật status mấy ngày nay ^^ Luật: mỗi tốt mỗi tội - một văn một đời
----------


- Văn chương làm cho ta biết cuộc đời là rộng lớn. Đấy là lần 1.


Cuộc đời có lần cho ta biết văn chương chỉ là một nhánh nhỏ, nhiều lúc luẩn quẩn, nông choèn.


Phần lớn thời gian, văn chương giúp người ta chịu đựng được cuộc đời bé mọn của mình.


Nói một cách văn chương, cuộc đời là một đại tự sự phi hiện tại. Do đó nó không thật. Văn chương thỉnh thoảng chính là cách để sống một cuộc đời hay.




2.
Cháu ngoại bác năm nay thi đỗ thủ khoa vào cấp 3 mấy trường chuyên hàng đầu HN liền. Chắc học Am. Siêu thật. Ta nói thông minh thì hàng cháu giống bên ngoại hơn. Chắc bác tự hào nhiều. Làm cháu lẩn thẩn thích đẻ thêm con gái :D


Mình dân tỉnh lẻ. Chuyện học hành như thế ngày xưa thấy cũng thường. Lên HN lâu ngày lại thấy khó biết cho bọn trẻ sau này. Haizz, chứng tỏ gần mực thì đen :P Thủ đô nhiều bụi thấy thương ^^

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Ý thức về thời gian

Mình có một ý thức về thời gian hơi khác người. Ít nhất là so với bà ngoại, mẹ và vợ mình. Phụ nữ, họ có thể kể rành rọt chuyện này chuyện kia đã xảy ra vào ngày nào tháng nào năm nào. Trong khi đó mình hầu như không có ý niệm về các quãng mốc thời gian. Thay vào đó là việc này việc kia cái gì rõ cái gì mờ. Thế thôi. Ngoại trừ lịch họp, giờ ra sân bay, còn lại mọi thời gian đều mơ hồ phiên phiến. Kiểu tâm thức này có vẻ hơi nguyên thủy man rợ nhỉ :P

Nhân dịp có người nhờ mình điểm sách 3-4 năm gần đây. Hoàn toàn không có ý niệm gì về kiểu phân chia thời gian như thế ^^

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Viết ngắn

để gây chú ý là chính ^^
-----------

Như vậy trong phần 2 của bài Song thoại đối chiếu, tôi đã mở nhánh sang quy mô đám đông với nhận định là để làm việc với đám đông thì cần chú ý đến một số đặc điểm về nhận thức xét từ tính chất của phương tiện (là truyền thông, cũng như đối với 1 vở kịch). Nó phải vừa độ, kịch tính theo thời sự và được rọi chiếu về một hệ lý thuyết nào đấy - để đi tiếp chứ không phải để đóng khung/bằng cách đối thoại tương liên để tránh luận chiến và tạo cơ hội cho bình dân. Tức là khi đó ta có món dẫn nhập văn hóa, học thuật vừa miếng công chúng. Điều còn lại là đối chiếu nó với chiều kích cá nhân của nhận thức và giữ cái thế năng phản tư này luôn sinh động thường trực.

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

Carnets. Nghệ thuật thơ ca. Aristote

- Nghệ thuật mô phỏng bằng tiết tấu/ngôn từ/giai điệu.

  • Tái tạo tính cách/tâm trạng/hành động.

- Tính cách: khác biệt - tốt: tốt hơn. Xấu: xấu hơn

- Nguyên nhân nảy sinh nghệ thuật: sự mô phỏng

  • bản chất con người - làm con người khác loài vật
  • mang lại thích thú cho mọi người (mang lại kiến thức)
  • ngắm chúng - cái gì đơn nhất
- Hài kịch tái hiện những người xấu - không hoàn toàn độc ác xấu xa.

  • Cái đáng cười là 1 bộ phận của cái xấu: sai lầm và xấu xí/không gây thống khổ và nguy hại
  • Xấu xí nhưng không đau khổ


- Bi kịch: lồng hành động vào trong 1 ngày

  • (quy mô sự kiện/cái ngày thường)
- [Hành động quan trọng] - [trọn vẹn] - [có quy mô nhất định]

  • Hiểu được
- (Bằng hành động) - gợi lên - cường điệu (nắm bắt được/cao hơn bình diện ngày thường) - thanh lọc cảm xúc - (dễ chịu)

- Trừu xuất - ý niệm - hiểu được/thao tác được - (dễ chịu)

- Tư tưởng/tính cách - nguyên nhân - hành động - thành công/thất bại - (bất an)

(tr41)
- [cái đẹp] [gồm những phần nhất định hợp thành]

  • cần sự sắp xếp nhất định
  • phải có kích thước nhất định
+ Bé quá: thoát cái đã qua
+ Lớn quá: 1 lúc không thể bao quát được. Tính thống nhất/tính hoàn chỉnh - bị mất đi với người nhìn nó

- Để dễ nhớ - cần độ dài nhất định

(tr44)
- Lựa chọn những chi tiết/hành động - xung quanh 1 hành động thống nhất (sự kiện này-sự kiện kia)

(tr45)
- Không phải nói về cái thực sự có thể xảy ra - nói về cái có thể xảy ra

(tr47)
- Bi kịch - mô phỏng hành động hoàn chỉnh - cái đáng sợ/cái đáng thương - (qua) sự bất ngờ - có quan hệ nhân quả

- [Sự nhận biết] = sự chuyển biến: không biết đến biết. (sự đột biến) - gợi lên sự thương xót/sự sợ hãi
- Nhận biết -nhận biết 1 ai đó

- Người tốt [hạnh phúc] - bất hạnh = [đáng ghê tởm] (không đáng sợ, không xót thương)

- Người xấu [bất hạnh] - hạnh phúc = không chứa gì cần thiết (không tình thương, không đau xót, không sợ hãi)

- Người vô dụng [hạnh phúc] - bất hạnh = không gợi xót thương/sợ hãi

- Người vô tội - [bất hạnh] = sự xót thương


- Người như ta - [bất hạnh] = sự sợ hãi (do sự nhầm lẫn)

- (hành động) - bạn bè/kẻ thù

  • Kẻ thù hành hạ kẻ thù - không gợi xót thương - kích động
  • Giữa những người thân - xảy ra sự việc bi thảm
- Nhất định phải làm hoặc không làm - có ý thức hoặc vô ý thức (ngộ nhận)

- Hỏng: định phạm tội - không làm nữa - cái đáng ghê tởm

Tr64 - XV (nhân vật)
- Tính cách phải cao thượng - khuynh hướng ý chí cao thượng
- Thích hợp
- Giống như thật
- Nhất quán

- (Sự nhận biết): bằng dấu hiệu/trong quá trình diễn biến/do hồi ức/do suy luận.
- Tốt nhất bắt nguồn từ chính bản thân sự kiện - thêm vào sự kinh ngạc của khán giả do quá trình diễn biến tự nhiên.

XIX tr 83
- Những gì liên quan đến phương diện tư tưởng đều nên đặt trong tu từ học

- [Tất cả những gì phải thông qua ngôn từ mới đạt được] đều thuộc phạm vi tư tưởng

+ Danh từ: có ý nghĩa - không có ý niệm thời gian
+ Động từ: có ý nghĩa - có ý niệm thời gian

tr118
- Cái gì tập trung thì ấn tượng thỏa thích rõ ràng hơn là kéo dài trong 1 thời gian lâu.

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

Song thoại đối chiếu. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải

1.
Titi: Trong cơ quan nhà nước như bên chị, mục tiêu chính của truyền thông không phải sự thật, không phải sự công bằng mà là tôn vinh sự ổn định, lấy sự an toàn lên hàng đầu. Người làm an toàn, xã hội an toàn... đó là mục tiêu rõ ràng và rất xác đáng. (Nghe có vẻ không fair nhưng chị cá là chẳng có đài TH nào trên thế giới dám khẳng định tôi đưa 100% sự thật, tất cả các đơn vị truyền thông mang tầm chính phủ đều có những thế lực ngầm chỉ đạo và phải phục vụ cho thế lực ấy.) 

Mục tiêu thì tốt nhưng vì ở thế độc tôn, không có mấy cạnh tranh và có khá nhiều cái đầu củ chuối ở đây nên nhiều khi tác dụng ngược :-(( Đau khổ thay !


Điều này (sự an toàn) cũng chính là điểm khởi đầu trong bài đầu tiên khi em dẫn FJ ở mục 3 ("phải tỏ ra hoàn toàn thống nhất và đồng thuận; kết quả là, (...) tất cả những sự thay đổi đường hướng phải được cân nhắc, vòng rào thật kín, trùm lên tính liên tục của lời lẽ những công thức. Một thứ diễn ngôn hầu như mờ đục...") để đánh dấu sự khác biệt: trước hết là ở cấu trúc chính trị - xã hội (và dần dần về sau sẽ là hệ hình tư duy, lựa chọn khác của nền văn hóa...). Cũng là lý do của loạt bài này, thử nghiệm cố gắng đi lên về phía thượng nguồn của các lựa chọn, để tránh đơn giản hóa sự khác biệt của các xã hội vào trình độ phát triển.

Việc so sánh ngoại suy với các nước khác theo em tính thuyết phục là yếu :) Vì mình đâu có so với BTT, mình chỉ hàm ý những nước phát triển (về kinh tế/văn hóa?) hơn nó cũng thế. Nhưng chuyện này sẽ đi quá xa nếu bàn rẽ nhánh này. Do đó ở bài 1 (Trứng luộc dầm nước mắm), sau khi đồng thuận rằng lá cải là phân kỳ tất yếu đầu tiên của xã hội VN thì em  chỉ thử tìm xem có những chỉ dấu tích cực nào không? Nếu có thì đó là do ăn may hay là có một khả năng tiềm tàng khác của truyền thông "mới" ở VN? Ngoài ra em cũng nêu giả định rằng sự khác biệt xét về văn hóa và hệ hình tư tưởng còn có tính chất quan trọng và sẽ tác động tới chiến lược thay đổi ở xã hội VN về phía hiện đại hóa. Tức là nó sẽ theo kiểu đối thoại tương liên chăng?

Nhân tiện rà lại, bài viết thứ 2 (Bùng nổ và biến đổi khôn lường), dựa vào bài dịch của anh Gauxx, em tìm hiểu vào góc độ nhóm xã hội và cơ hội của internet. Trong đó xét vai trò trí thức, giả định của em không tập trung theo góc độ phản biện mà dưới chủ đề dẫn nhập văn hóa và tư tưởng hiện đại. Xuất phát từ cái nhìn tương liên, và từ vai công chúng, em cho rằng nó phải theo kiểu hơi hơi bottom-up (theo cách nói của anh Gauxx). Những ý này được so sánh và có vẻ tương đồng với cách-nói-chuyện của anh Gauxx. Đặc biệt là tiềm tàng ý niệm về so sánh đối chiếu giữa ý thức cá nhân và đám đông, trong đó là vấn đề cơ chế đối với cá nhân có khác với đám đông không?

Khi anh Gauxx phê phán ý tưởng sử dụng xã hội học của ED để tiếp cận vấn đề, trong bài 3 (Quên đi và yên nghỉ), em cho rằng đấy không phải lỗi của nhân dân đại chúng chăm học là em, và do vậy với internet, cần đẩy mạnh vai trò của dẫn nhập văn hóa có tính thực hành phê phán trong từng cas văn hóa đại chúng. Và hiện tại thì cách làm ấy theo em chưa có chiến lược hiệu quả lắm. Nó thiếu cái giá đỡ triết học mà đổ cho sụp đổ đại tự sự của hậu hiện đại thì làm biếng không chuẩn. Anh Gauxx có chìa thêm ra món network society, em thấy có vẻ hay nhưng không thao tác được gì.

Thời may, nhân tiểu luận của CT về triết học Gadamer, trong bài 4 (Cấu trúc 1 trò chuyện) em có thể nương theo để đoán nhận những yếu tố chính của cách tiếp cận đối thoại tương liên. Nó bao quát từ liên cá nhân đến liên văn hóa. Đến đây câu chuyện tạm ngơi ra vì anh Gauxx chưa bổ sung những điểm phê phán tiếp cận văn hóa. Chưa rõ là đến thế này thì chính là CS của ảnh chưa, phê phán cái gì ở đâu, đối chiếu bằng cái gì nữa :P Tuy vậy, nhân dân là em thấy thế là dùng tốt rồi nên đề xuất áp dụng thử luôn cho mô hình nhóm nhỏ ^^ Xét ra, trong cas nhân dân quần chúng là em đây mà mô hình chạy không tốt thì mở rộng ra về mặt ý tưởng có thể hay nhưng kỹ thuật thì như thế nào đây?

Vì vậy, trong bài 5 (Ký hiệu - Tín hiệu - Chỉ hiệu), em thử phác thảo ra một số đặc điểm kỹ thuật của đối thoại tương liên theo kiểu hiểu của em. Cái này em không định nghĩa ngay mà chồng nhiều ý niệm lên để ngắm nghía: đối thoại tương liên, hội thoại tranh luận, song thoại đối chiếu...Ý niệm chính là hướng về cách em hiểu về phương pháp của FJ sử dụng trong triết học (điểm tinh tế, nếu quay sang bắt ông kết luận sẽ khác nhiều), và lập trường là đứng vai xóm Đông để cãi xóm Đoài. Món đầu tiên xóm Đông xài là kỹ thuật ghi chép tiến trình tư duy kiểu bản đồ. Món này hàng nhà tự chế, dùng cho trường hợp sinh ở nông thôn, bố mẹ là nhân dân. Tuy nhiên nó đang tỏ ra khá tương thích khi có một anh giai xóm Đoài nào thảo tính ^^

Sự khác biệt đầu tiên là không trừu xuất tri thức khỏi cá nhân. (Trước tác lưu danh thiên hạ dị/Dĩ thân vi giáo thế gian nan). Hướng đến sự hiểu người khác, cái khác (để sau xem có bàn đến nổi sự ngộ không). Đây đó đã lấp ló sự so sánh nguyên tắc khoan dung của sự hiểu với thái độ luận chiến của trí thức truy tầm mục tiêu nhận thức (sẽ viết dưới đây) mà nhờ sự tham gia của bạn NL bổ sung vào. (Đấy các bác thấy chưa, em chăm học mà ^^).

Đặc điểm kỹ thuật thứ hai chính là thực hành ngay bằng chính toàn bộ hội thoại này (giờ có 4 người và ít nhất 1 quan sát viên thầm lặng ^^). Trong một ý thức phản tư ráo riết, một diễn ngôn về tính hiện đại phải được trình bày một cách hiện đại tận căn, đúng không bạn M ^^

Như vậy, sau bài thứ 6 có tính minh họa này, sẽ chỉ cần thêm 1 bài nữa là gói được 1 cấu trúc. Sẽ ngây thơ nếu nghĩ nó sẽ đem lại 1 ý tưởng cụ thể. Nó chỉ phác họa ra một ý hướng để tìm tòi, tuy vậy, em nghĩ nó gợi cảm hứng về phía thái độ ý thức và có cái để bàn tiếp. Điểm đáng giá của nó là chứng minh rằng làm việc với đại chúng nó khó thế nào về mặt kỹ thuật, chứ chả nhẽ bàn chuyện đời mình mà đụng lĩnh vực nào cũng phải làm học giả, tiến sỹ mới sống được à? Chả có nhẽ (@ Chu Văn Quềnh) :P

2.
NL: khi ta đã có chút độ lùi thời gian, việc nhìn vào văn chương trong liên quan với vị thế tác giả (ở mặt chính trị) trở nên vô cùng kỳ lạ: có vẻ như là các nhà văn đậm mùi chính trị (hiểu đơn giản là nhà văn khuynh tả thành thực) bỗng mất hết phép mầu: ví dụ lớn là Jean-Paul Sartre và Mario Vargas Llosa; ở Việt Nam cũng vậy, cái này thì hẳn các bác ai cũng tự có ví dụ riêng rồi :p vấn đề là tại sao như vậy? tôi tin không đơn giản là vì họ đã hết "mốt", rằng cái ideology mà họ ủng hộ đã lỗi thời, mà còn là cái gì đó nữa, một tương liên hỏng giữa chính trị và văn chương (nhìn chung là khó diễn tả)


"phép mầu" - Ngay lập tức tôi liên tưởng trong cách diễn đạt này có điểm tương đồng kỳ lạ với cái không khí sôi động lôi cuốn của những trận đấu vật mà R.Barthes đã mô tả trong bài "Nơi người ta đấu vật" - Những huyền thoại. Đây theo tôi cũng là đặc điểm quan trọng khi nói về truyền thông: bị thao túng và chống bị thao túng (media literacy). Câu hỏi tự nhiên sẽ bật ra là: ở giữa chính trị và văn chương - điều gì đã thực sự xảy ra? Có ngầm ẩn một cơ chế nào không? Tôi cho là có một cơ chế như vậy trên bình diện đại chúng, với đám đông.

Tuy nhiên cứ thong thả mà nói, cũng phải làm rõ chuyện "mất hết phép màu" này là đối với ai? Đối với lứa hậu sinh thì là dễ hiểu vì họ có thời sự khác, thần tượng khác. Còn đối với độc giả cũ (gồm cả những tâm thế hoài cố - tín nhi hiếu cổ) thì chẳng những tác giả thay đổi mà chính họ cũng thay đổi cùng một thời đại cũng đã thay đổi. Những thanh niên hippie rồi cũng già, có con cái, muốn ổn định hơn, trở nên bảo thủ hơn là điều dễ hiểu. (Chưa kể cánh tả phần nhiều là ảo tưởng, lol). 

Nhưng có thể bỏ qua nhánh này để bàn vào một góc độ cốt yếu hơn, liên quan đến cái cơ chế một mặt hấp dẫn công chúng, mặt kia, qua đó mê hoặc và thao túng họ. Theo đó, ta có thể thử làm một khảo sát thô về mối quan hệ (tác giả-độc giả)/thời đại trong mối liên hệ (chính trị - văn chương).

- Khi xét vị thế chính trị của một nhà văn khuynh tả thành thực, theo một lối quy nạp tương đồng, ngay lập tức với tôi điều đó có nghĩa là đấu tranh/chia phe/luận chiến - theo cái nghĩa tích cực là con đường của lý thuyết, của nhận thức luận. “điều thực sự làm nên đặc tính của lí thuyết, đó là cái gì ngược hẳn lại sự chiết trung, đó là sự dấn thân của nó, là vis polemica của nó” (NLLT)

- Những đặc điểm đó khiến tôi liên hệ đến kịch tính/tính kịch khi nhìn nhận mối liên hệ giữa tác giả/tác phẩm với công chúng trong những nhận xét về kịch (bi kịch) của Aristote trong tập "Nghệ thuật thy/thơ ca" - chả hiểu sao phải thêm chữ "thy". Khi bàn về thi pháp của kịch, Aristote đã diễn đạt những tiêu chuẩn để hấp dẫn công chúng dựa vào một cơ chế của nhận thức của đám đông về vở kịch. (Đây là một nhánh hứng thú của tôi, về cơ chế thao túng tâm trí, khi mở rộng cho kịch, phim, phim ngắn, truyện kiếm hiệp - một số đã rải rác trong blog này).

Có thể còn phải nói lại cho rõ hơn, nhưng những nguyên tắc mà Aristote đề cập đến vẫn còn có thể đọc lại từ một góc khác trong bài về đấu vật của R.Barthes. Mà R.B lại chính là một đối tượng của câu chuyện này.

- Bằng cách nói cái gì thích hợp và không thích hợp, có thể nhận thấy những đặc điểm chính về những tiêu chuẩn, tính mục đích của kịch theo Aristote. Kịch mô phỏng hành động, theo lối cường điệu, làm nổi bật góc độ tính cách trên nền bình thường nhập nhoạng của đời sống. Dồn nén trong một quy mô ngày thường (1 ngày), để khán giả dễ nắm bắt, nhận ra những biểu tượng, khơi gợi cảm xúc (những cảm xúc được lựa chọn theo thể loại) để từ đó thanh tẩy (thanh lọc) tâm hồn.

Có thể mở rộng cho cả văn chương (thời đó tất cả 1 rọ) như phân tích của phần phụ lục cuối tác phẩm của 1 nhà nghiên cứu: trong khi triết học là về cái chung thì văn chương là dùng cái chung để mô tả những cái duy nhất, để dẫn dắt, khơi gợi nơi độc giả trải nghiệm về những cái có thể xảy ra (cũng như Aristote đã nóiKhông phải nói về cái thực sự có thể xảy ra - nói về cái có thể xảy ra). (Hy vọng điều này cũng góp phần vào câu chuyện "học văn để làm gì" của bạn TNH).

Những đặc điểm làm ra sự lôi cuốn, hợp thức của 1 vở kịch, theo Aristote, như vậy là quy mô của sự kiện, tính biểu tượng thông qua sự cường điệu (lên trên bình diện người thường, đời thường), đối chiếu đến những giá trị, dựa trên những cảm xúc rõ ràng, cường độ cao, qua tính bất ngờ, tính nhân quả tự nhiên (giống như thực) của những sự kiện. (Tôi còn nhớ có đọc đâu đó về những mối liên hệ đến khả năng nghe rõ, nhìn rõ trong bối cảnh những buổi diễn kịch ngoài trời ở Hy lạp cổ đại).

- Có 1 điều gì đó quen thuộc, tương đồng với lối tư tưởng của phương Tây - Hy lạp, trong cách trừu xuất những ý niệm/khái niệm lên bình diện siêu hình (cái này phải để viện dẫn FJ sau cho rõ ràng) bên trên bề mặt của thực tại.

Cũng vậy, ta sẽ thấy điểm tương đồng đó trong những phân tích của R.Barthes về những đặc điểm được ưa chuộng của công chúng trong 1 buổi đấu vật trình diễn: khoảnh khắc, sự trọn vẹn của hành động, cái bề mặt (nó cũng chính là cái được cường điệu để tượng trưng), sự thanh lọc từng cảm xúc rõ ràng qua kịch tính và cao trào.

- Qua hai câu chuyện song song này chúng ta có thể rút ra vài đặc điểm cốt yếu đã thu hút sự say mê náo động của công chúng (cái phép mầu ấy): kịch tính, sự cường điệu, bất ngờ, quy mô của chủ đề/sự kiện, tính đơn giản bề mặt có thể nắm bắt, có thể nhận thức được. Giống như việc trừu xuất lên bình diện siêu hình của những ý niệm giúp ta nhận_thức về thế giới toàn triệt, đối đầu với nghi ngẫu và bất an của đời thường. Kịch giúp công chúng nhìn thấy được những ý niệm rõ ràng về thế giới (hoặc tốt hơn, hoặc xấu hơn, nếu giống chúng ta thì gặp chẳng may - những đối tượng của bi kịch). Cao trào của cảm xúc, cái mãnh liệt, rõ ràng của nó, trong cảm thức cộng thông chia sẻ của đám đông có tính chất an thần rất tốt cho tâm trí - để chống lại cái nghi ngẫu bất an của đời thường, ngày thường, của số phận.

- Quay lại những nhà văn khuynh tả thành thực, đương thời họ đã đóng vai gì trong cái cơ chế tương liên giữa họ/tác phẩm của họ với công chúng trên nền thời sự chính trị của thời đại đó? Ví như R.Barthes, qua tập Những huyền thoại, đã vô tình đóng vai nào trong vở kịch lớn đó?

Sự giải huyền mang màu sắc tri thức của giải cấu trúc luận thực tế cũng đã đóng vai trò trừu xuất thực tại hỗn độn lên một bình diện của những ý niệm mới. Nơi đó công chúng được trải nghiệm nhận thức (theo một lối mới) để đến với những ý niệm mới, rõ-ràng-hơn-xưa. Vị thế chính trị khiến họ được chọn phe để thông qua đấu tranh chính trị (ý niệm chính trị như là cái ý thức về quyền tự do lựa chọn sống của cá nhân khi đối diện với hiện thực đời thường phức tạp và đè bẹp cá nhân tính) đạt tới 1 kịch tính từ đó thanh lọc cảm xúc, để cái đời thường bất an từ bản chất trở nên có thể chịu đựng được. (Cái đời thường thời Chiến tranh lạnh, của nguy cơ chiến tranh hạt nhân, lại càng dễ diễn giải).

Những chủ đề nho nhỏ, đa dạng, góc này góc kia, vốn dĩ rất đời thường, bỗng nổi bật lên từng hôm theo tuần báo, đã đáp ứng được yêu cầu về sự đa dạng của những cái duy nhất (từ một cái chung phương pháp luận và quan điểm phê phán) với quy mô vừa độ nhận thức của công chúng, đáp ứng hoàn hảo những yêu cầu của sự hấp dẫn hợp quy luật nhận thức của một vở kịch cổ điển như Aristote từng đề ra.

Cái tác dụng an thần xuất phát từ đặc tính đa dạng phong phú của những cái duy nhất có tính nghiệm sinh này do đó một mặt là có thể hiểu được, một mặt sẽ bị giới hạn bởi chính tính duy nhất của nó. Chúng ta không thể xem đi xem lại 1 vở kịch mà không thấy chán. Cũng vậy, nếu khổ đế xây dựng từ cảm thức bất an, cũng như E.Fromm phân tích trong Phân tâm học và Tình yêu, cái gì nếu không được giải quyết tận căn để thì chỉ có tính chất giả tạm, và do đó giống như ma túy, nó đòi hỏi sự lặp lại với cường độ cao hơn, và không bền vững. Ở đây sự giả tạm của văn chương giải cấu trúc luận chính là ở sự thiếu triệt để của nó. Nó sẽ bị phê phán để vượt qua và đi tiếp. Cũng có thể nói đơn giản hơn ở bình diện cá nhân, chỉ có ý thức phản tư rốt ráo là cái còn lại để bàn tiếp. Mọi cái khác đều cần bị vượt qua.
-------------
(Ở bài khác, ta sẽ thử nhìn đối chiếu từ góc độ của sự hiểu/nguyên tắc khoan dung như là điểm đối chiếu với thái độ luận chiến của lý thuyết xem những vấn đề này sẽ đi đến đâu).

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

Kí hiệu - Tín hiệu - Chỉ hiệu. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải



1.
Titi: hay lắm, mềnh học hỏi được bao nhiêu :-D Nhưng cá với các bạn, đem mí thứ này vào cơ quan nhà nước VN sẽ bị gọi là chơi trội ngay :-((


- Cái bề mặt trơ lì đó lại chính là input của thảo luận này, và là một trong các mốc tiêu của đối thoại giữa em với anh Gauxx. Nó sẽ định vị trở lại khung trò chuyện tương liên này trở lại ý tưởng ban đầu về "tính hiệu dụng của một khả thể truyền thông mới đối với những thay đổi xã hội ở quy mô nhóm (nhỏ)".


Việc chị Titi tham gia comment đã là một chỉ dấu về những thay đổi ở cơ quan nhà nước VN rồi ^^


2.
Gauxx: hoàn toàn đồng ý. cái này phụ thuộc vai trò host nhé. đối thoại liên subjects, hay bạn T có thể mở rộng đến liên văn hóa (mình từng viết xét cho cùng, liên cá nhân nằm ở trong liên văn hóa - tất nhiên không phải câu của mình) không phải là cân bằng tuyệt đối. Theo tiếp cận adaptation của intercultural (tiếp cận này cơ bản và cũng đơn giản nhất, so với tiếp cận perception và discourse), thì luôn có host culture và những cái khác (the other ^^) xoay chung quanh. bạn T ngay từ đầu đã host một cách thiện chí và cũng sexy nữa ^^

cảm ơn bạn T, mình sẽ quay trở lại sớm



- Trong lúc chờ đợi (đến giờ cái game này đã rõ dần quy luật của nó: chỉ khi anh Gauxx (người kia) đưa ra một lượng thông tin tri thức nhất định - với một số đặc điểm nhất định - thì tôi mới có thể tiếp tục thao tác được), tôi đã thử rà lại toàn bộ lịch sử trò chuyện. Rõ ràng nhận thấy nếu không có bản dịch nhỏ "Trí thức và Truyền thông" thì tiến trình đã tắc nghẽn từ đầu. Ta nói, thiện chí là thiện chí này đây: chấp thuận nhảy ngay vào dòng, đưa thẳng ra một vài luận điểm cụ thể rồi từ đó quay lại mở rộng thảo luận, kể cả về nền tảng: 


"Với sự thực dụng kiểu researcher, mà bạn T cũng từng nói về tôi như vậy, tôi thường được khuyến khích đi từ những cái người ta đang làm ở hiện tại sau đó vòng trở lại cái nền tảng, rồi lại tiếp tục cái đương thời và next.


Ngược lại bạn T là tôi phải thực hiện tròn vai người khác, khấp khểnh nhưng kiên nhẫn trò chuyện. Vì nếu tôi không làm được việc đưa ra cái khác (cái không biết đến) khung hình tư tưởng của người kia thì sẽ là thiếu thiện chí và bất công cho anh Gauxx.


"Trái lại, việc đạt tới một sự hiểu có lẽ sẽ đòi hỏi rằng tôi phải biến báo đôi chút với các mục đích ban đầu của mình. Mục đích của cơ chế hoạt động giờ đây không phải là sự chế ngự đối tượng, nói cách khác, giờ đây, tôi sẽ phải khai triển một kiểu đòn phép được thiết kế với mục đích thao túng kẻ đối thoại với tôi qua hành vi giả vờ thỏa hiệp của tôi. Mục đích này, nhìn một cách nào đó, không thể khởi hoạt nếu thiếu đi kẻ đối thoại, có nghĩa rằng, ở đây, tôi sẽ phải lắng nghe và phải trả lời, và như thế, cũng có nghĩa rằng tôi sẽ phải sẵn sàng chuyển đổi mục đích ban đầu của mình." (Tiểu luận của CT đã dẫn). 


3.
Gauxx: Tuy nhiên, tôi ủng hộ và thik cách bạn T tự lập bản đồ và đi chấm những cái nodes theo cách của bạn ấy. Tôi thấy đó là cách của một thinker. Góp ý nhỏ: trích dẫn quá dài, bạn được quyền và nên paraphase trích dẫn bất kể đó là câu của ai. Trong t/hợp này, bạn đang lấy lại từ nguồn thứ cấp, someone else reviews Gadamer, nên càng không nên quote nguyên con:) 


Qua (1) và (2) đến đây đã có thể trình bày lại với anh Gauxx điểm mấu chốt của phương pháp (nếu quả có 1 cái như thế) của em: ghi chép tiến trình dưới dạng thức bản đồ. (Về điều này em đã thực hiện dở loạt bài về nó - hiện mới có Sổ tay. 1 - Bản thảo. Ít nhất sẽ còn phần về Chứng từ và Bản đồ). Cắt, dán, tô, nguệch ngoạc, in, text, viết tay...là những yếu tố kỹ thuật đặc trưng trong lối làm việc này ^^ Việc 1 tài liệu được trình bày dưới dạng phải chuyển đổi hình thức để khớp với chuẩn tài liệu nghiên cứu KH (như anh Gauxx đề nghị) hoặc 1 dạng tư thế phát ngôn trước độc giả (như bác NL đang làm ở blog của mình) là có 1 chủ ý phương pháp. Nó giữ lịch sử đọc - viết, cảm hứng và một yêu cầu chuyển đổi thường trực - để trở lại và hoàn thiện.


Mỗi người như chúng ta khi lập blog hẳn đều có lập ý về biểu hiện, trong trường hợp này em sẽ cố triển khai vào chỗ khác giữa em và hai người (GXX & NL) trong lựa chọn biểu hiện và từ đó làm rõ cái ý đề nghị của em từ đầu: thao tác trong khung tri thức đại chúng, ở giữa hơn là kinh viện - một cách làm khác, chối bỏ thẩm quyền lập địa phát ngôn của tri thức hàn lâm (câu này vừa nghĩ vừa viết, chắc còn viết lại cho ra ý).


Cái KHÁC mà càng lúc ý tưởng về nó càng rõ hơn trong những bàn luận này sẽ được kiên trí đối chiếu chia phe với bờ bên kia (Gauxx & NL). Một quan sát nhỏ nhưng lâu dài cho thấy rất rõ một đặc điểm nước đôi, tiêu chuẩn kép trong biểu hiện trên blog Gauxx. Một mặt ảnh chọn lá cải để giao tiếp và dẫn dụ. Một mặt ảnh thường cho thấy lấp ló một giao diện khác đang được xây dựng. Câu hỏi thú vị ở đây sẽ là: liệu khi khăn đóng áo the trên giao diện khác kia (học thuật hơn chăng?) thì lá cải xưa có đủ tư cách làm chứng từ cho lý thuyết không, hay phải gọt tiện đi, kiểu "nó không chính thức, chưa phải tôi...".


Cũng vậy, blog NL thuần túy là một dạng lưu trữ những bài báo, bài viết. Nó có tính một chiều tới độc giả. Hạn chế tối đa bộc lộ đời sống cá nhân khác. Tuy vậy vẫn lấp ló yếu tố giao tiếp liên cá nhân với bạn bè đây đó. Một cách khác, nhưng giống tạng với blog Gauxx, tôi thấy các ảnh đều bộc lộ sự lưỡng lự, phân li về biểu hiện. Quan trọng hơn đối với họ điều đó có vẻ hiển nhiên, ít bị chất vấn.


Tại sao tôi lại nghiêng về phía Khác để thao tác. Vì nôm na nhất, tôi chán cái trò cứ lâu lâu lại thấy các nhân vật hùng cứ một phương sẽ phải lật đật chạy ra mở cửa đón vài thiếu hiệp đến thách đấu lấy số :P Cái số phận của việc trừu xuất hóa tri thức ra trước đám đông phiếm chỉ nó là như vậy. Liệu giữ chặt tiến trình tiến hóa bản ngã tri thức của người viết trong những tương liên luôn luôn cụ thể (nói là nói với ai, ở đâu, như thế nào và xung quanh có gì) có tránh được những cơn hấp bản năng thấp kém làm các học giả chỉ chăm chăm chửi nhau, hạ thấp nhau để lấy số má, thanh toán ân oán giang hồ? Cái gì đó ở đây thuộc về hệ hình hơn là chuyện đạo đức cá nhân.


4.
Cũng sau khi đọc rà lại lịch sử trò chuyện, tôi nhận thấy rất rõ một kỹ năng đọc-trả lời comment mà tôi đang mở rộng dần: mỗi comment không chỉ là một đơn vị thông tin trao đổi kiểu ký hiệu, nó còn là tín hiệu ám chỉ để mở rộng và hoàn thiện. Tôi liên tục áp dụng phương thức chỉ hiệu, lần mò khai mở để phát triển đối thoại. Bổ sung dần. Cái đặc điểm này, một mặt mờ nhạt hiển nhiên trên các giao thức giao tiếp blog; một mặt rất hay bộc lộ những vụ cưỡng ép ngôn từ, sai lạc thiện ý của nhau.


Cũng dẫn từ bài luận của CT, tôi cho rằng một lần nữa, cần cắt ra, dán lên bản đồ nhận thức một mẩu về nguyên tắc khoan dung:


Trong triết học và thuật hùng biện, nguyên tắc khoan dung đòi hỏi sự diễn giải duy lý một ý kiến của người nói và trong trường hợp của bất kỳ lý lẽ nào, đều phải xem xét các diễn giải tốt nhất và thuyết phục nhất có thể có. Theo một cảm thức hẹp nhất, mụcc tiêu của nguyên tắc thuộc phương pháp học này là để bác bỏ sự quy kết phản dy lý, các lỗi lo-gic hay sự sai lầm đối với phát biểu của người khác. Theo Simon Blacburn: “ nó buộc kẻ diễn giải phải làm tối đa hóa sự thật hay tính duy lý trong lời nói của người nói”. Triết gia Donald Davidson đôi khi coi nguyên tắc này là nguyên tắc của sự thích nghi duy lý. Ông tóm tắt như sau:” ta sẽ tối đa hóa sự hiểu câu và tư tưởng của người khác khi ta diễn giải nó theo cách nhìn lạc quan về sự đồng thuận”. Nguyên tắc này có lẽ được đưa ra để hiểu phát ngôn của người nói vào lúc ta không chắc chắn về nghĩa của nó-ND 


5.
NL: Có một điều hơi phiền là một phần lớn những gì bác đang quan tâm (kể cả gốc rễ của vấn đề communication) muốn nắm bắt được ổn thỏa đều phải quay về với lý thuyết văn học và ngôn ngữ học đi trước: những "mũi nhọn" của cultural studies thoát thai từ những gì extreme nhất của mấy lý thuyết gia, mà ví dụ kinh điển là Judith Butler.

Trong tiếng Việt tôi thấy hữu hiệu nhất là đọc "Bản mệnh của lý thuyết" của Antoine Compagnon, quyển sách ấy còn có lợi thế là đã bỏ qua được giai đoạn sôi sục để bình tĩnh xem xét, và nó cũng minh chứng cho định nghĩa lý thuyết theo kiểu của tôi :p, tức là nhìn những thứ hiển nhiên bằng con mắt không hiển nhiên.

Ngoài ra tôi thấy bác đọc cả trang của Hải Ngọc, chắc cũng không xa lạ gì với trang của Hoàng Phong Tuấn, rồi Lý thuyết văn học, Lý luận văn học và Phê bình văn học...



Tôi sẽ ưu tiên đi vào điểm này, còn comment trước rất thú vị xin để dành riêng cho bài sau.


Như theo nguyên tắc ông mất chân giò bà thò chai rượu tôi đã trình bày ở trên: vì bác NL chỉ đưa ra vài cái tên nên tôi phải lựa chọn một cái nào đó để đi tiếp. Nghĩ đi nghĩ lại thôi chọn luôn 1 bài viết về Văn chương lâm nguy của NL để bàn vào - là bài Nhìn lại lý thuyết. Ở đây tôi cũng dẫn giải lại vì sao trong cách tiếp cận của tôi, tôi tránh được "điều hơi phiền" của bác đã nêu.


Về đại lược, những gì bài viết nêu ra với tôi là (NL nói) Tzvetan Todorov phê phán sự tự cô lập của LTVH và đề xuất cân bằng giữa mối quan hệ bổ sung của tiếp cận nội tại (nghiên cứu mối liên quan giữa các yếu tố của tác phẩm) với tiếp cận ngoại tại (bối cảnh/lịch sử/tư tưởng/thẩm mỹ) - quay lại cái nhìn về một nền văn học cho mọi người: độc giả tìm trong đó (t/p) một ý nghĩa cho cuộc đời mình.



Để kết luận cuốn sách của mình, Todorov nhấn mạnh vào các giá trị mà lý thuyết văn học (thường) phủ nhận, hoặc ít nhất là gạt qua một bên, không mấy chú ý đến: “Văn học có thể làm nhiều việc. Nó có thể chìa bàn tay thân ái, khi ta thật chán đời, nó xích ta gần gũi hơn với nhân loại, giúp ta hiểu hơn về thế giới và giúp ta sống còn” (tr. 68). Cái nhìn của ông là một cái nhìn nhân văn: “Một độc giả thông thường, tiếp tục tìm tòi trong các tác phẩm một ý nghĩa cho cuộc đời của mình, rất có lý khi chống lại các giáo sư, giới phê bình và nhà văn, những người đã cho rằng văn học chỉ nói đến bản thân nó, hoặc chỉ dạy mỗi một môn cho con người là thất vọng” (tr. 68).

Điều thú vị nằm ngay trong đoạn thứ 2 của comment trên, nó hội tụ trở lại với câu chuyện cốt yếu của loạt bài này mà chúng ta đang nhàn đàm với nhau: truyền thông (nơi đại chúng và văn hóa là nền tảng), cách tác động trong cấu trúc xã hội (nơi câu chuyện dẫn nhập tri thức/văn hóa là ví dụ), và điểm hội tụ đang bàn là về mối đối thoại tương liên, sự tương hiểu (mượn cách dẫn Habermas) hay cách nói của Gadamer (CT dẫn) về việc đạt tới một sự hiểu (NH dịch).

Todorov cho rằng “cứu cánh của việc giảng dạy văn học […] không còn chỉ là công cuộc sản xuất giáo viên văn chương”, mà “phải lồng tác phẩm vào cuộc đối thoại lớn lao giữa con người với nhau”, và “[c]hính chúng ta - những người đã trải nghiệm, phải có trọng trách truyền lại cho các thế hệ mai sau cái gia tài mong manh đó, những tiếng nói giúp con người sống tốt đẹp hơn” (tr. 85).

Nói thực chỉ trong những câu chuyện như ở đây, lúc này, tôi mới đọc thực sự những bài kiểu này của các bác. (Nó cũng là ví dụ về hiệu quả cá nhân khi sử dụng phương pháp bản đồ tiến trình, theo dõi, để đó, kết nối, xử lý logic và đối thoại để hiệu chỉnh. Tóm lại tạo ra thị trường ý niệm để từ đó thúc đẩy khả năng từ vựng và nhu cầu tìm về với tác giả gốc). Là tôi, ngay từ đầu, điều tôi thấy chú ý nhất, quan tâm nhất là "tại sao Todorov lại thao tác phê phán trên chủ đề giảng dạy văn học trong nhà trường?". Và các bác cũng không phải nhọc công giải thích sợ hiểu nhầm với trường hợp độc giả này :P

Tôi thấy cách Todorov làm có điểm tương đồng với cách mà Francois Jullien bàn về từng chủ đề cho loạt bài triết học-minh triết Tây-Đông. Cũng tương đồng với hướng tiếp cận đối thoại tương liên mà tôi đang dẫn câu chuyện về: nó đòi hỏi một môi trường cụ thể, một đối tác đối thoại cụ thể, một vấn đề đại chúng cụ thể...để phê phán (đối thoại) rồi từ đó bàn ngược đến nền tảng để hiểu và thu nạp.

Dù hiểu cách nào, tôi vẫn thấy rõ cái sự tôn trọng tương liên quy chiếu về con người cụ thể, con người cá nhân, sống cuộc đời họ trong cách Todorov diễn đạt (thực tế là do NL dịch). Cách tiếp cận đấy ưu tiên lựa chọn chuyện giảng dạy văn học trong nhà trường để thao tác, từ đó phê phán (hàm ý tích cực kiểu Kant?) LTVH. Phê phán để chuyển đổi. Nói mạnh mồm, có lẽ ông sẽ không cần/muốn bàn trực diện vào LTVH. Vì từ chỗ KHÁC hệ hình, thì không thể phê phán một lối tư tưởng theo cùng cách sai (khác) của bên kia được. (Như tôi đọc trên báo nọ một bài thầy đời vớ vẩn, mình tác giả lập ra 1 thuyết không có nội hàm để phán, định phản đối vài câu, nhưng xét thấy nếu không tập trung làm khác đi, rõ ra, thì chả hóa ra mình cũng dùng cách của anh ta để chống anh ta, sẽ chả ai lợi lạc gì).

Về cuốn "Bản mệnh của lý thuyết" - giờ thì tôi có nhu cầu tìm mua để đọc rồi ^^ - của Antoine Compagnon, tôi chú ý đến đạo lý của sự lưỡng lự:

Tuy nhiên, đối với Compagnon, lý thuyết văn học không phải chỉ là tiêu cực. Ở chiều ngược lại, tương tự như khi lý thuyết hoành hành và không lường được sức sống của “cảm nhận thông thường”, nó là một đối trọng cần thiết vào những lúc hoành hành của “cảm nhận thông thường”. Compagnon gọi trào lưu ấy là một “cuộc phiêu lưu”, và ít nhất nó có thể “thức tỉnh đầu óc tỉnh táo của độc giả, khiến họ băn khoăn về những điều họ đã xác định”[13], và ông kết thúc cuốn sách của mình với một âm hưởng Milan Kundera như sau: “không phải là tôi đã biện hộ cho một lí thuyết trong các lí thuyết cũng chẳng biện hộ cho cảm nhận thông thường, tôi biện hộ cho sự phê phán mọi thứ lí thuyết, kể cả sự phê phán cảm nhận thông thường. Sự lưỡng lự là đạo lí văn học duy nhất”[14].

Sự lưỡng lự này là gì nếu không phải là tinh thần phản tư, cái nhìn biện chứng - là những mẫu số dùng chung cho nhiều lối tư tưởng?

Không chỉ biện hộ cho sự phê phán đó, Compagnon còn biện hộ cho một khái niệm nữa, đó là vis polemica (sức mạnh luận chiến), chính là “điều thực sự làm nên đặc tính của lí thuyết, đó là cái gì ngược hẳn lại sự chiết trung, đó là sự dấn thân của nó, là vis polemica của nó”[15]

[Đến đây có thể thú nhận được với anh Gauxx là quả tình lối đặt để văn bản gốc kiểu này của em chịu ảnh hưởng của Mr. Tin Văn (aka NL)].

Trong bài sau tôi sẽ đặc biệt triển khai một ý liên quan đến ý niệm về sức mạnh luận chiến này!

Lời biện hộ lần này của Compagnon có thể bổ sung cho lời biện hộ ông từng viết trước đó mười năm (cho lý thuyết văn học): theo ông, chừng nào nước Pháp còn gây bực bội và khó chịu đến như vậy, thì có nghĩa nó vẫn còn sống khỏe; chỉ khi nào không ai buồn nói đến những khiếm khuyết của nó nữa thì văn hóa Pháp mới thực sự chết. Cũng vậy, chừng nào lý thuyết văn học thôi quấy rầy “cảm nghĩ thông thường”, không còn làm cho ai khó chịu nữa, mà cứ thoải mái với những điều mặc định sẵn, thì chừng đó nó mới thực sự cần được đưa vào viện bảo tàng.

Lối diễn đạt này tôi đã gặp một lần khi BVNS nói về triết học Kant; đại ý dù ở phía nào, người ta cũng quay về những ý tưởng của Kant để bắt đầu - và do đó cần phải hiểu về Kant.

Quấy rầy "cảm nghĩ thông thường" là một ý niệm rất hay. Tôi nhận thấy có thể đối chiếu nó với khái niệm Khổ (Bất An) trong Phật giáo, cảm thức li cách của Erich Fromm, cảm thức suối nguồn của Karl Jasper, những phân tích của Freud về cảm thức tôn giáo đó...Tóm lại nhìn từ lối con người là con người vấn nạn, sống bắt đầu từ Khổ...thì thấy cái ý niệm kia rất tương đồng. Một mặt nó ám chỉ sự vô tri, vô minh của "cảm nghĩ thông thường" - là cái gắn với tâm thức đại chúng, đối tượng truyền thông truyền thống. Một mặt là tinh thần nội quán, phản tư của phương pháp, là cái có thể rọi chiếu từ vô số điểm khác nhau!

Trong một mạch khác chúng ta đã hoàn toàn có thể bàn luận về mối quan hệ văn chương với cá nhân và đại chúng trong cách mà xã hội giao tiếp - truyền thông (cũ và mới) :P