- Theo tìm hiểu tại địa phương, chợ Hàng Tếch có lịch sử lâu đời. Tại khu vực gần chợ trước đây có một (01) công trình tâm linh - không xác định rõ được loại hình. Công trình này có thể nằm tại khu vực lòng đường trước chợ và cơ quan cs phòng cháy - khi làm đường đã mất dấu tích. Xem đoạn phim tư liệu lịch sử "Tỉnh lỵ Sơn La 1950" có thấy thấp thoáng nét mái đao của công trình cổ.
- Về mặt văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra đời sống tâm linh ở chợ có lịch sử lâu đời với nhiều hình thức phong phú. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến trong cuốn biên khảo "Sống đời của chợ" NXB Hội Nhà Văn, 2017 - thuộc chương trình dự án Hiểu Việt Nam, Phần II, Chợ trong cấu trúc chức năng làng; Mục 7 - Chợ - Ma thuật thương mại của người dân quê, thì:
+ Đầu tiên là tục thờ thần chủ đất của chợ (Thổ Địa/Công, Thổ Kỳ);
+ Rõ nét hơn, vị thần được thờ ở chợ như thần bảo hộ chợ búa và hoạt động buôn bán đó chính là các nhân thần. Lớp tín ngưỡng này muộn hơn. Thông thường đấy là nhân vật lịch sử có công lập chợ cho dân bán buôn, nhà nước ghi công, hay dân nhớ tới ơn mà thờ ngài như thần bảo hộ.
+ Trong sự phát triển (nhất là sau thế kỷ XIV), chợ liên kết với các không gian thiêng liêng của làng để tạo thành các tổ hợp chợ-chùa; chợ-đình; hay chợ-đền. Ngược lại, đình và nhất là chùa lại nhờ sự tháp đôi với chợ mà có tiềm lực kinh tế để hoạt động tồn tại theo thời gian.
- Lịch sử phát triển hình thức Tổ hợp Chợ-Chùa: ra đời từ nhu cầu ghép đôi lợi ích của làng và của đạo Phật. Chùa duy trì được sự tự trị kinh tế và Chợ dựa vào chùa để hoạt động mua bán dễ dàng hơn, tránh sưu thuế và sự ức hiếp của kẻ có quyền lực muốn thâu tóm chợ.
Theo Đỗ Thị Bích Tuyển có tới 50 thác bản văn bia về chợ chùa hay còn gọi "Tam Bảo thị bi'' hoặc ''Tự thị bi ký'' còn lại đến nay chủ yếu được Trường Viễn Đông Bác Cổ sư tầm trước năm 1954.
Theo Trịnh Khắc Mạnh và cộng sự cho biết trong khoảng 100 thác bản văn bia ghi chép về chợ truyền thống lưu ở kho tư liệu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì chủ yếu có hai loại hình chợ chính là: 1/Chợ do chính quyền địa phương quản lý để thu lợi phục vụ địa phương và 2/ chợ do nhà chùa quản lý để thu lợi phục vụ nhà chùa (chợ Tam Bảo).
- Xuất phát từ nhu cầu đời sống tâm linh của nhân dân địa phương tại khu vực chợ Hàng Tếch; phù hợp với truyền thống văn hóa lịch sử sẵn có; việc xây dựng điểm tâm linh tại khu vực chợ Hàng Tếch là cần thiết. Tuy nhiên cần lưu ý đảm bảo các yêu cầu sau: 1/ giữ quy mô chợ Hàng Tếch không bị thay đổi quá nhiều ảnh hưởng đến mô hình kinh doanh của chợ (quan điểm tư vấn giữ tối thiểu 80% quy mô cũ) - cũng là nét đặc trưng của chợ; và 2/ đảm bảo quy mô công trình tâm linh nhỏ vừa phải, có thể kết hợp thờ Thổ Kỳ với thờ Phật và như vậy có thể giao cho Hội Phật giáo tỉnh quản lý về mặt tâm linh. Không gian của 02 chức năng có thể giao thoa với nhau.
Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019
Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2019
Hết tác dụng của thuốc mê, tôi tỉnh dậy nhìn trần nhà màu trắng tinh tươm và nhận ra có lẽ rất lâu rồi tôi mới có một giấc ngủ sâu, nhẹ nhõm đến như vậy. Cần điều chỉnh nhịp sống sao cho mỗi lần thức giấc phải được an lành như thế mới phải.
Có một xác suất rất rất nhỏ là khi ai đó được gây mê chỉ với ý định cắt amidan chẳng hạn nhưng rất rất không may là họ sẽ chẳng bao giờ tỉnh lại nữa. Tai biến y khoa luôn là một khả năng để ngỏ, mà chẳng may là năm trước đã xảy ra liền 2 vụ ở HN nên bây giờ mỗi khi không thực sự quá cần thiết mà lựa chọn gây mê thì mọi người đều có chút chần chừ. Tôi thì lựa chọn cũng nhanh thôi nhưng không phải không thoáng nghĩ đến những khả năng tồi. Tất nhiên tôi không thể hiện điều đó với người thân nhưng tự nhủ khi nào tỉnh dậy sẽ viết mấy dòng về điều này (chứ viết trước sái bỏ mẹ, nhỡ đâu lại thành chủ đề cho cộng đồng mạng chiêm nghiệm với điệu gật gù là tôi thấy không chịu được).
Đến một thời điểm nào đó trong đời, chúng ta cơ bản sẽ bớt hồ nghi và chấp nhận được cuộc đời. Kiểu tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc. Nếu điều gì đó tồi tệ đến với ta, cơ bản là rồi thì cuộc đời cũng sẽ qua. Điều kinh dị và lớn lao của cuộc sống là ở đấy: khi mà dù khổ đau cỡ nào rồi cũng sẽ qua đi như bọt nước như bào ảnh. Nếu điều gì tốt đẹp đang đến thì ta nên hân hưởng chúng nhưng trong tâm thì cũng chỉ nên ghi nhận nó như đã ghi nhận những điều tồi tệ khác - một ghi chép buồn tẻ nhàn nhạt không dính chấp. Bằng tất cả những gì mình biết, tôi chỉ có thể nói năng với người thân về một thái độ bình thường tâm mà sống - rồi thì mới thấy được một thế gian khác. Phần tôi, từ lâu tôi thấy cơ bản cuộc sống là thế, một cuộc dạo chơi trong rừng xanh. Cơ bản là có mây trắng nắng vàng và cỏ xanh như trong sách. Ngủ thì ngủ, thức thì thức. Hoặc băm bổ như ông bố của Justin Halpern (Shit my dad says): Tập trung mà sống, chết là chuyện nhỏ. Nhưng vấn đề ở đây lại là: chúng ta có thể hiểu được nhau hay không? Chúng ta hiểu nhau bằng cách nào? Sẽ bỏ lỡ điều gì không? Trong cuốn sách kia, ông bố thú vị cũng từng nói với con giai là "Mày chả biết đếch gì về bố cả". Thực tế chúng ta biết rất ít về nhau, dù chúng ta là người thân trong một gia đình. Bởi biết mình đến đâu mới biết người khác đến đó được. Hiểu là thông hiểu. Sinh tồn là liên tồn như Bùi Giáng tiên sinh ưa nói lái hay chỉ trỏ. Vì vậy, chúng ta cần facebook, cần mạng xã hội để biên nhật chí, để chỉ trỏ ra dấu hiệu về cuộc tồn sinh của chúng ta. Nhưng đó chỉ nên coi là khởi đầu mà thôi.
Không gian mạng cho ta cơ hội để kết nối, nhưng những kết nối thực sự giúp khai triển các khả thể nhân sinh hay ho thì phải được hoàn thành bằng giao tiếp tương giao toàn vẹn, phần lớn cần cỏ xanh mây trắng làm nền. Quan tâm xã hội cũng thế, có thể bắt đầu nhờ internet nhưng phải như Noam Chomsky đề xuất, đại ý quan tâm xã hội là làm sao để thay đổi nó, thông qua người khác, cộng đồng và cam kết. (Internet: từ quan điểm quyền lực nó quá dân chủ. Mặt khác: nó làm người dân chệch hướng và phân tán: các bạn ngồi trước màn hình máy tính một mình/đẩy tình cảm con người ra khỏi con người. Họ gửi cho các bạn bất kỳ ý tưởng nào mà họ thậm chí chưa nghĩ kỹ, bất kỳ lúc nào họ bị thôi thúc). Vậy nên mình vẫn cần dùng mạng xã hội, mình lên facebook để chỉ trỏ cho nhau những dấu hiệu, những con đường, những cơ hội để thông giao trong đời. Nhưng đời là một toàn vẹn không lệch lạc, giàu sang hơn giao diện trên mạng rất nhiều.
P/s: vài dòng cảm khái về thông diễn, giao tiếp tương liên, thông giao với người khác nhân dịp vừa có một đóa hoa cúc đã bị con ong nó tỏ đường đi lối về. Bác sỹ Hiền xinh đẹp ạ, tôi nhớ tên cô rồi đấy ^^
Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019
vài tưởng tượng về cộng đồng
(Xét tương quan "Họa sỹ - Bức tranh - Người xem" thì) Sự_thấy bị quy định bởi nhiều yếu tố: (1) trong sự định vị với bản thân người nhìn, (2) ý thức có thể bị thấy, (3) thấy đã là lựa chọn bị chi phối bởi nhiều tiên kiến, xu thế giáo dục, cá nhân tính...(4) hình ảnh là sự tái sản (cả với họa sỹ lẫn người xem).
Đặc trưng của thời kỳ xuất hiện camera (tái sản): có thể tái sản hàng loạt dưới nhiều dạng thức, đa điểm nhìn, đa ngữ cảnh...có tính chất của thông tin (ngôn ngữ hình ảnh). Tức là có thể áp dụng nó trong đời sống của mỗi cá nhân, nghĩa có thể bị biến cải hay xuyên tạc. "Nghĩa của 1 hình ảnh bị thay đổi theo những gì người ta nhìn thấy đồng thời bên cạnh hỉnh ảnh đó, hay những liên tưởng mà hình ảnh đó tạo ra". Do vậy nó từ chối thẩm quyền truyền thống, mở ra nhiều cách_thấy.
Hồi trước đọc cuốn "Những cách thấy" của John Berger thấy mình có tóm tắt lại mấy ý trên. Nay nhìn thử vào hiện tượng chụp mấy cái ảnh check-in đi ăn cuối tuần thấy có mấy liên hệ khá gắt nhân đang đọc lại cuốn "Cộng đồng tưởng tượng-nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc" (Benedict Anderson).
- Check-in là một kiểu nghi thức quần chúng gắn với cảm thức về định vị: (1) trong một lịch biểu xuyên qua thời gian đồng_nhất, trống_rỗng; (2) trong một khung cảnh xã hội. Nó vừa riêng tư trên smartphone mỗi người lại vừa ngay lập tức (được coi là) đồng hiện trên dòng tin của mọi người (trong cộng đồng của họ - của người post).
- Lớp thông tin đầu tiên thì nó ở ngay bề mặt đấy: ví dụ như cái ảnh đi ăn cuối tuần hôm trước. À thì đại khái kiểu nhà này khá bảnh, gia đình yên ấm, vợ đẹp con ngoan, yêu sách, biết ăn đồ tây...bala bala. Nhưng cũng giống như chụp ảnh cưới ở Bờ Hồ (tình cờ ăn cũng ở Bờ Hồ), thông điệp có thể thể đọc được thì không hẳn chỉ như thế. Ngay cả trong điểm nhìn và cách nhìn đầu tiên này nó cũng không hẳn đã hiển nhiên như thế.
Đầu tiên là việc khoe mình đang ăn gì ở đâu ngay_lúc_này mới chỉ trở nên được xem là bình thường, không phải bàn trong thời kỳ mạng xã hội và trên giao diện mạng. Hãy thử hình dung như ngày xưa, kể cả thời ở trong các dãy nhà tập thể là nơi tính riêng tư bị xói mòn nhất thì cũng chỉ có bọn nhi đồng thối tai mới cả gan sang nhà hàng xóm khoe là nhà cháu hôm nay ăn gì. Tại sao lại khoe ăn, và làm sao mà nó lại có thể trông bình thường như thế được chứ?
Chụp ảnh đăng facebook trước khi ăn còn hay được mọi người gọi là "cúng facebook". Thật tình cờ, nó - hành động có tính chất nghi thức này - rất dễ làm liên tưởng đến cách nói về hành vi đọc báo hàng ngày trong CĐTT: "Ý nghĩa của nghi thức quần chúng này - Hegel cho rằng báo chí phục vụ con người hiện đại thay cho lễ cầu nguyện buổi sáng - có tính hai mặt." Tính hai mặt này là ở chỗ nó được thực hiện trong sự riêng tư âm thầm nhưng mỗi người chịu lễ đều ý thức rất rõ rằng nghi thức này đang được sao nhân đồng thời bởi hàng nghìn triệu người khác, những người mà anh ta tin vào sự tồn tại của họ, dù không hề có ý niệm về căn cước họ mang. Hơn nữa nghi thức này cứ liên tục lặp lại một hoặc nửa ngày xuyên suốt thời gian lịch biểu. Tức là một minh họa sống động về một cộng đồng tưởng tượng thế tục. (đoạn này tóm lược).
Đến đây có thể nói rõ là giả thiết của mình là việc check-in, cúng facebook có tính chất nghi thức, đáp ứng nhu cầu nghi thức trong hình hài mới để thấy mình thuộc về một cộng đồng (tưởng tượng), qua đó chống lại sự bất an và cả sự tự do ý chí.
(cont)
Nhãn:
Benedict Anderson,
đọc,
đọc lại,
John Berger,
xã hội
carnet - về đọc sách
Làm sao để trẻ ham đọc sách, có thói quen đọc sách? Nhân mình được bạn hỏi đến vài lần. Không chắc lắm nhưng mình nghĩ đến những điều này đầu tiên:
- Đầu tiên đừng quá kỳ vọng vào việc đọc sách mà không suy nghĩ cặn kẽ về chủ đề này. Người ta nói quá nhiều về sách vở nhưng đó là một biểu tượng mà họ hướng tới - nhiều khi khô cằn, sáo rỗng - hơn là những trải nghiệm đáng giá cần chia sẻ.
- Nhìn nhận việc hình thành thói quen đọc sách như là một trong các phương pháp đa dạng, linh hoạt để tự học, suy tư và bộc lộ, biểu hiện bản thân trong đời sống. Học cách dùng từ điển, học cách bắt chước diễn đạt, làm giàu các tưởng tượng. Nuôi dưỡng những cuộc phiêu lưu tinh thần. Hình thành dần một gu về lối sống, một thiên hướng đạo đức...
- Trẻ thích cái gì thì tạo điều kiện cho nó tự tìm hiểu, để tự mình có được quan điểm và kiến thức cần thiết mà lựa chọn.
- Cuối cùng thì nên coi trọng tính hên xui vì đứa trẻ là một cá nhân độc lập. Mình sống đời mình cho vui, cho hay, truyền cảm hứng cho nó là vừa đẹp.
Bài trên fb lưu lại đây để nhớ. Mình có thói quen vừa viết vừa nghĩ. Chỉ lúc viết kiểu blog mới có động lực sắp xếp ý tưởng nên nhiều lộn xộn. Đôi lúc nói cho xong một mạch, một phía, chứ không cố kết đến cùng.
Còm của a NNH:
- Về bản chất, đọc sách là 1 dạng suy tư. Song sự suy tư này có tính chất thoái ẩn khỏi thế giới, giống như khi làm thơ hay làm nghệ thuật. Có nghĩa là nó không tạo ra tri thức thực tế mà tạo ra năng lực phán đoán thẩm mỹ (đẹp xấu hay dở) và đạo đức (đúng sai) về chiều sâu--tức năng lực theo Heidegger, -gặp gỡ với Tồn tại. Hiện nay nhiều nhà xuất bản hoặc cha mẹ hiểu sai việc đọc sách-cho rằng đọc sách là để thu nhận tri thức đời sống trực tiếp theo mẫu ăn ngô ị ra phân vàng ăn cơm ị ra phân trắng, từ đó xuất bản sách hoặc mua sách về cho con cái theo tinh thần này. Đây là nguyên nhân chính làm trẻ chán đọc sách. Tệ hơn. Làm sự đọc sách bị băng hoại.
Stt: Suy tư/Đọc sách là gì (fb a NNH)
1.Vì mải suy tư, ngửa mặt lên giời, ông già Hy lạp tên là Thales đã ngã lộn cổ xuống giếng-làm nên tràng cười cho bà con cô bác đang đứng xung quanh đó. Nhưng có thật là ông này đáng cười không? Hay chính những kẻ đang cười khoái trá trước cú ngã lộn cổ của ông mới đáng cười? Điều này còn tuỳ vào quan điểm.
2.Suy tư là gì? Heidegger từng bảo "suy tư xét như một việc làm bằng tay"-có nghĩa rằng, suy tư, ở đây, được hiểu như một tiến trình dò dẫm tìm đường trong sương mù mờ ảo, chứ không phải là tiến trình khái niệm hoá-cắt nghĩa minh bạch. Ông bảo
Không giống khoa học, suy tư không mang lại tri thức
Suy tư không sản xuất ra các kiến thức thực dụng
Suy tư không giải quyết các nan đề của vũ trụ
Suy tư không ban tặng trực tiếp cho chúng ta năng lực hành động
Suy tư không sản xuất ra các kiến thức thực dụng
Suy tư không giải quyết các nan đề của vũ trụ
Suy tư không ban tặng trực tiếp cho chúng ta năng lực hành động
3. Sao lại thế, và vì sao lại thế?
Đơn giản thôi-đó là vì, suy tư ở đây, y như nặn tượng, vẽ tranh hay đặc biệt làm thơ-là năng lực riêng có của loài người giúp họ đến gần với Tồn tại để tìm ý nghĩa cho sự hiện hữu. Có nghĩa rằng, suy tư là năng lực đặc biệt của hữu thể người khiến họ có thể phân biệt đúng sai, đẹp xấu, linh thiêng, phàm tục, nhục, vinh, vân vân. Suy tư là khả năng khiến con người trở nên một tâm hồn-theo nghĩa có năng lực phán đoán thẩm mỹ và đạo đức. Nói nôm na, suy tư giúp ta biết cuốn sách hay bộ phim nào đó là hay là dở, chứ không phải chỉ giúp ta hiểu cốt truyện của chúng. Suy tư giúp ta biết ai là tốt ai là xấu chứ không cho ta biết nên đứng về phía ai sẽ có lợi hơn
4. Suy tư, y như cách hiểu của Socrates, Plato, Đức Phật, Aristotle, Kant...đều là sự thoái ẩn khỏi thế giới thực dụng. Xenophon từng kể là Socrates, khi còn ở trong trại lính, đã có lúc, đang tập hành quân ngon trớn, bỗng đứng im bất động suy tư suốt 24 giờ.
5. Nhưng sự thoái ẩn này không phải là sự quy ẩn-theo nghĩa chìm trong cô độc bất động. Con người suy tư là con người hành động-bởi, xét như là một hành động (Hannah Adrent cho rằng suy tư đã chính là hành động chính trị)-khi suy tư- kẻ suy tư không cô độc vì vào lúc suy tư-hắn ta đang đối thoại, tức là vào lúc đó, trong hắn có hai người. Suy tư chính là hiện thể của tình trạng nhị tồn trong một tồn tại. Nó trái với cô đơn, vì cô đơn là sự quy ẩn biến bản thân thành nhất phiến.
6. Như vậy là, suy tư, vừa không phải là sự sản xuất ra tri thức thực hành, nhưng vẫn là hành động.
Như vậy là, suy tư, dù luôn là một sự thoái ẩn, lại không phải là sự quy ẩn-vì thoái ẩn thuộc về thể điệu tồn tại, còn quy ẩn, chính là ngưng tồn tại.
Thể điệu tồn tại của thoái ẩn, đó là sự tiến gần tới Tồn tại để hiểu ra ý nghĩa của hiện hữu, để sau đó trở nên minh bạch và nhạy bén về tốt dở đẹp xấu linh thiêng phàm tục-tức là, để sau đó sẽ nhận chân chính mình trong tồn tại
Thậm chí, như Nietzsche từng bảo
"Suy tư của chúng ta phải toả mùi hương nồng sực/ như cánh đồng lúa mì trong một đêm hè hừng hực"
7. Suy tư ở đây-không cần phải nói, chính là mô hình có tính mẫu thức của việc đọc. Rõ ràng là, người ta đọc sách nào có phải để tìm ra các chi tiết thực dụng, hay các kiến thức chết từ ngàn năm để sử dụng trong hiện tại? Dù không bác bỏ phần nào cách tiếp cận đó, kẻ hèn này cho rằng, cách tiếp cận ấy phải bị hạ xuống thứ yếu . Đọc sách cũng như suy tư, chính là năng lực đặc biệt của con người-giúp hắn tiến gần hơn tới Tồn tại, có nghĩa rằng, giúp hắn hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời hắn. Đọc sách, chính vì thế, là một hình thức thoái ẩn, y như suy tư vậy. Đọc sách, chính vì thế, cũng như suy tư, không phải là một dạng hành vi thực dụng-mà là một thứ đức hạnh. Thành thử, cũng như suy tư, đọc sách tiềm ẩn các niềm vui đặc biệt lớn lao mà không một sự đắc thắng kiểu thực dụng nào có thể so được: Đó là niềm vui của sự vỡ lẽ, của sự đốn ngộ. Ví dụ: Jean Beaufret, một người Pháp hâm mộ Heidegger, và cũng là bạn của Heidegger, từng kể, vào đúng D-day, mùng 6 tháng 6, 1944, -khi quân đồng minh đổ bộ vào Normandy, ông giở sách của Heidegger ra đọc lại, và bỗng, lần đầu tiên, thấy mình hiểu được toàn bộ Heidegger. Ông bảo, niềm vui hiểu được Heidegger này của ông lớn tới mức, vào lúc đó, ông hoàn toàn không hề quan tâm gì tới việc nước Pháp quê hương ông vừa được giải phóng
8. À status này viết ra vì kẻ hèn này có đọc một status khác nói về việc làm sao khiến trẻ đọc sách. Như bà con cô bác thấy đó. Đơn giản thôi. Hãy hiều đúng về sách, về suy tư. Và rồi mọi chuyện sẽ tự đúng theo. Khi nào thấy ai ngã xuống giếng, mà ta tự thấy ta mới là kẻ đáng cười-thì khi đó, mọi chuyện sẽ tự động ổn. Còn trước khi đó, có bỏ tiền tỉ mua sách thì chỉ cũng chỉ giúp các ông chủ nhà xuất bản mua xe vinafst mà thôi
Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019
Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2018
10.3.2018
Lần đầu xem trọn "Vua hài kịch". Một bộ phim về tuổi trẻ. Tự nhiên bật ra câu hỏi nếu những phim của Châu Tinh Trì không có kết dạng happy ending thì tổng thể bộ phim sẽ thành ra như thế nào?
Vẫn đọc "Đế Bá" dù càng ngày nó càng dở như hạch. Vì nó có cái tứ về sơ tâm chạm đến cái day dứt của tuổi trẻ. Chúng ta theo đuổi sự mạnh mẽ nhưng khi mạnh mẽ chỉ vì mạnh mẽ thì sẽ thất lạc mất sơ tâm của chính mình. Rồi một ngày ta liệu còn dám tự hỏi sơ tâm của mình là gì. Mình còn những gì mình từng khát vọng không?
Có những bài hát rồi mình sẽ không nghe được nữa. Tuổi trẻ hầu như chỉ có bạn bè làm vốn liếng nhưng tuổi trẻ luôn thấy cô đơn một cách mơ hồ. Tuổi trẻ đi qua là lúc ta thấy cô độc một cách cụ thể dù ta có thể có nhiều hơn tuổi trẻ rất nhiều. Ta còn theo đuổi điều khiến ta là nữa không. Hay ta chỉ có cái này cái kia.
Vẫn đọc "Đế Bá" dù càng ngày nó càng dở như hạch. Vì nó có cái tứ về sơ tâm chạm đến cái day dứt của tuổi trẻ. Chúng ta theo đuổi sự mạnh mẽ nhưng khi mạnh mẽ chỉ vì mạnh mẽ thì sẽ thất lạc mất sơ tâm của chính mình. Rồi một ngày ta liệu còn dám tự hỏi sơ tâm của mình là gì. Mình còn những gì mình từng khát vọng không?
Có những bài hát rồi mình sẽ không nghe được nữa. Tuổi trẻ hầu như chỉ có bạn bè làm vốn liếng nhưng tuổi trẻ luôn thấy cô đơn một cách mơ hồ. Tuổi trẻ đi qua là lúc ta thấy cô độc một cách cụ thể dù ta có thể có nhiều hơn tuổi trẻ rất nhiều. Ta còn theo đuổi điều khiến ta là nữa không. Hay ta chỉ có cái này cái kia.
Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018
Xã hội diễn cảnh
"60.
Diễn viên ngôi sao (vedette) thể hiện con người sống động thông qua diễn cảnh; khi tập trung nơi mình hình ảnh của một vai trò nào đó, diễn viên ngôi sao thể hiện điều tầm thường vừa nói. Thân phận ngôi sao là sự chuyên môn hóa cái có vẻ như được trải nghiệm (le vécu apparent), đối tượng của sự đồng nhất hóa với cuộc sống bề ngoài và không có chiều sâu; cuộc sống đó phải bù cho sự chia nhỏ các chuyên môn hóa thực sự được trải nghiệm trong sản xuất. Sở dĩ các ngôi sao tồn tại là để thể hiện nhiều loại phong cách sống và phong cách hiểu xã hội, nhờ được tự do hoạt động một cách toàn bộ. Họ là hiện thân của kết quả không thể đạt tới được của lao động xã hội, bằng cách nhại những phụ phẩm (sous-produit) của sự lao động đó; các phụ phẩm này được chuyển, như bằng ma thuật, lên bên trên lao động xã hội như là mục đích của nó: quyền lực và nghỉ dưỡng (vacances), quyết định và tiêu dùng, những điều đó đều nằm ở điểm bắt đầu và điểm kết thúc của một tiến trình không được bàn cãi. Ở nơi kia, đó là quyền lực chính phủ tự nhân cách hóa thành ngôi sao giả (pseudo-vedette); ở nơi này, đó là ngôi sao của sự tiêu dùng bắt mọi người phải ủng hộ mình với tư cách là quyền lực giả (pseudo-pouvoir) trên cái được trải nghiệm (le vécu). Nhưng, các sinh hoạt này của các ngôi sao không thực sự có tính toàn bộ và cũng không đa dạng.".
Guy Debord, Xã hội diễn cảnh.
- Trích một đoạn có vẻ dễ hiểu. Từ các góc độ khác nhau - nhất là góc độ thế giới của thị giác và biểu tượng, Roland Bathes (cả Erich Fromm) đều từng phê phán triệt để xã hội và con người đương đại. Nhưng nếu phải mô tả một hình mẫu mới - chí ít của con người cá nhân mới - thì còn quá nhạt nhòa. Con người nghệ sỹ lý tưởng của E.F quá sơ lược. Nói chung lại quay lại với mệnh đề tự phê phán triệt sẽ quyết định đường hướng cá nhân cho mỗi cá thể.
- Không phải ngẫu nhiên mà Thiền học lại trở lên hấp dẫn trong giai đoạn đó ở xã hội phương Tây. Về hình thức, nó phủ nhận các hình thức cụ thể và hứa hẹn sự tái hòa nhập với hoàn cảnh cụ thể của mỗi thân phận - núi lại là núi.
- Có 1 sơ đồ, đúng hơn là vài từ khóa lặp lại: diễn cảnh, trải nghiệm, quyền lực, nghỉ dưỡng, tính toàn bộ, đa dạng (tính)...
Diễn viên ngôi sao (vedette) thể hiện con người sống động thông qua diễn cảnh; khi tập trung nơi mình hình ảnh của một vai trò nào đó, diễn viên ngôi sao thể hiện điều tầm thường vừa nói. Thân phận ngôi sao là sự chuyên môn hóa cái có vẻ như được trải nghiệm (le vécu apparent), đối tượng của sự đồng nhất hóa với cuộc sống bề ngoài và không có chiều sâu; cuộc sống đó phải bù cho sự chia nhỏ các chuyên môn hóa thực sự được trải nghiệm trong sản xuất. Sở dĩ các ngôi sao tồn tại là để thể hiện nhiều loại phong cách sống và phong cách hiểu xã hội, nhờ được tự do hoạt động một cách toàn bộ. Họ là hiện thân của kết quả không thể đạt tới được của lao động xã hội, bằng cách nhại những phụ phẩm (sous-produit) của sự lao động đó; các phụ phẩm này được chuyển, như bằng ma thuật, lên bên trên lao động xã hội như là mục đích của nó: quyền lực và nghỉ dưỡng (vacances), quyết định và tiêu dùng, những điều đó đều nằm ở điểm bắt đầu và điểm kết thúc của một tiến trình không được bàn cãi. Ở nơi kia, đó là quyền lực chính phủ tự nhân cách hóa thành ngôi sao giả (pseudo-vedette); ở nơi này, đó là ngôi sao của sự tiêu dùng bắt mọi người phải ủng hộ mình với tư cách là quyền lực giả (pseudo-pouvoir) trên cái được trải nghiệm (le vécu). Nhưng, các sinh hoạt này của các ngôi sao không thực sự có tính toàn bộ và cũng không đa dạng.".
Guy Debord, Xã hội diễn cảnh.
- Trích một đoạn có vẻ dễ hiểu. Từ các góc độ khác nhau - nhất là góc độ thế giới của thị giác và biểu tượng, Roland Bathes (cả Erich Fromm) đều từng phê phán triệt để xã hội và con người đương đại. Nhưng nếu phải mô tả một hình mẫu mới - chí ít của con người cá nhân mới - thì còn quá nhạt nhòa. Con người nghệ sỹ lý tưởng của E.F quá sơ lược. Nói chung lại quay lại với mệnh đề tự phê phán triệt sẽ quyết định đường hướng cá nhân cho mỗi cá thể.
- Không phải ngẫu nhiên mà Thiền học lại trở lên hấp dẫn trong giai đoạn đó ở xã hội phương Tây. Về hình thức, nó phủ nhận các hình thức cụ thể và hứa hẹn sự tái hòa nhập với hoàn cảnh cụ thể của mỗi thân phận - núi lại là núi.
- Có 1 sơ đồ, đúng hơn là vài từ khóa lặp lại: diễn cảnh, trải nghiệm, quyền lực, nghỉ dưỡng, tính toàn bộ, đa dạng (tính)...
Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017
ta tưởng tượng từ một tương lai nào đó nhìn về hiện tại
mắt ngày xưa trong sáng
ngậm đa tình dấu duyên
một cười như chờ đợi
hai nỗi buồn tan vơi
bàn tay xưa đếm tháng
bàn tay giờ kể năm
một bên trời mưa hạ
một bên trời phiêu phong
mưa giông giấu lũ trong lòng
gió reo góp gió ru dòng lũ xa...
mắt ngày xưa trong sáng
ngậm đa tình dấu duyên
Khi chúng ta còn đôi mươi, ta tưởng tượng từ một tương lai nào đó nhìn về hiện tại. Khi chúng ta đi qua hầu hết những tháng năm tuổi trẻ, ta tưởng tượng về một ký ức hầu như không có thật. Ký ức hầu hết là tự huyễn. Không hề đáng tin.
Buổi sáng, ngồi một mình trong vườn trường cũ, chỉ một thoáng rất hiếm hoi tôi nhận thấy chút mềm lòng. Điều mỉa mai là từ khi nhận ra tình thế cuộc đời mình, tuyệt đối chưa bao giờ tôi có nhu cầu lưu luyến gì với quá khứ hay tương lai. Điều đó đã giúp tôi đứng vững nhiều năm. Nhưng cũng nhiều năm tôi lờ mờ cay đắng nhận ra sao mà mình lại cứng lòng đến thế.
Việc tổ chức một buổi hội khóa sao cho khỏi vô vị - ở đời nhiều việc biết là vô vị mà vẫn phải ở đó với nó, thành ra là một việc chế tạo ý nghĩa. Nó sử dụng thuần túy các chất liệu của hiện tại nhưng vẽ ra một cảnh tượng hồi cố giả tạo - kiểu tranh bờ hồ. Tất nhiên vẫn có thể dẫn dụ mọi chuyện thoát khỏi tình trạng khánh kiệt tư tưởng này. Nhưng lựa chọn đi với đám đông là lựa chọn chấp nhận thủ đoạn. Và chỉ có thể biện minh bằng kết quả.
Sau cùng, câu chuyện quay về vấn đề nguồn lực của mỗi cá nhân. Cuộc đời này mình có bao nhiêu mà đánh đổi được quá nhiều đến thế. Ngoài ba mươi là anh đã phải lựa chọn. Anh chợt nhận ra quả tình anh có thể làm bất cứ điều gì nhưng anh sẽ không thể làm tất cả mọi thứ. Anh phải lựa chọn, và chấp nhận hệ quả từ hành động lựa chọn này. Anh được chủ động trong hành vi lựa chọn của mình.
ngậm đa tình dấu duyên
một cười như chờ đợi
hai nỗi buồn tan vơi
bàn tay xưa đếm tháng
bàn tay giờ kể năm
một bên trời mưa hạ
một bên trời phiêu phong
mưa giông giấu lũ trong lòng
gió reo góp gió ru dòng lũ xa...
mắt ngày xưa trong sáng
ngậm đa tình dấu duyên
Khi chúng ta còn đôi mươi, ta tưởng tượng từ một tương lai nào đó nhìn về hiện tại. Khi chúng ta đi qua hầu hết những tháng năm tuổi trẻ, ta tưởng tượng về một ký ức hầu như không có thật. Ký ức hầu hết là tự huyễn. Không hề đáng tin.
Buổi sáng, ngồi một mình trong vườn trường cũ, chỉ một thoáng rất hiếm hoi tôi nhận thấy chút mềm lòng. Điều mỉa mai là từ khi nhận ra tình thế cuộc đời mình, tuyệt đối chưa bao giờ tôi có nhu cầu lưu luyến gì với quá khứ hay tương lai. Điều đó đã giúp tôi đứng vững nhiều năm. Nhưng cũng nhiều năm tôi lờ mờ cay đắng nhận ra sao mà mình lại cứng lòng đến thế.
Việc tổ chức một buổi hội khóa sao cho khỏi vô vị - ở đời nhiều việc biết là vô vị mà vẫn phải ở đó với nó, thành ra là một việc chế tạo ý nghĩa. Nó sử dụng thuần túy các chất liệu của hiện tại nhưng vẽ ra một cảnh tượng hồi cố giả tạo - kiểu tranh bờ hồ. Tất nhiên vẫn có thể dẫn dụ mọi chuyện thoát khỏi tình trạng khánh kiệt tư tưởng này. Nhưng lựa chọn đi với đám đông là lựa chọn chấp nhận thủ đoạn. Và chỉ có thể biện minh bằng kết quả.
Sau cùng, câu chuyện quay về vấn đề nguồn lực của mỗi cá nhân. Cuộc đời này mình có bao nhiêu mà đánh đổi được quá nhiều đến thế. Ngoài ba mươi là anh đã phải lựa chọn. Anh chợt nhận ra quả tình anh có thể làm bất cứ điều gì nhưng anh sẽ không thể làm tất cả mọi thứ. Anh phải lựa chọn, và chấp nhận hệ quả từ hành động lựa chọn này. Anh được chủ động trong hành vi lựa chọn của mình.
Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017
về một cuốn sách
- Khi chúng ta viết, hầu như là một quá trình dần dần định hình. Trước đó không hẳn nó - cái được viết ra - là như thế. Còn sau đó thì sao?
Cũng vậy, đừng hy vọng gì vào một sự "hiểu". Đấy là một ảo tưởng. Qua sự đọc, chúng ta mở rộng giới hạn bản ngã của chúng ta - hay đúng hơn là chúng ta trải qua sự trở thành cái gì đó khác đi. Chúng ta viết và chúng ta thay đổi. Chúng ta đọc, chúng ta cũng thay đổi.
- Nhìn chính là một hành vi lựa chọn (J.Berger, từ giờ sẽ in nghiêng). Cái tôi thấy là cái mà tôi bị quy định.
- Sự hiện diện của một phụ nữ luôn thể hiện thái độ của cô ta với bản thân (có tính nội chiếu), và cho thấy mong muốn của cô ta về việc người khác nên đối xử với cô ta thế nào...
- Một phụ nữ sẽ luôn phải hình dung về bản thân, cô ta sống mà luôn phải ý thức về hình ảnh của chính mình.
- Và như thế, cô tiến đến việc coi kẻ quan sát và kẻ bị quan sát tồn tại trong chính bản thân cô như thể hai yếu tố, tuy luôn trái nghịch về chức năng, song lại cùng nhau cấu thiết nên căn tính phụ nữ của cô.
- Chạy đi chạy lại (có ý thức về điều đó hoặc không) giữa hai vai nhưng cùng trong một mối bận tâm thiết thân: mình phải được trông thấy như thế nào?
Tài sản của cô là một vẻ đẹp. Nhiều người nói thế. Cô biết thế. Và cũng biết thế là không đủ. Nhưng mỗi khi tự nhìn nhận mình, cô chỉ thấy riêng điều đó có vẻ chắc chắn. Mọi thứ khác cô không rõ ràng nó là gì, và chúng thường thách thức sự bình an của cô.
- Viết ra là để an cái tâm của mình. Một sự thanh tẩy nhờ nỗ lực thăng hoa qua việc nghệ thuật hóa những mẩu vụn hiện sinh của mình. "Bình an" là vấn đề cảm giác. Khía cạnh chủ yếu được trình bày ra cũng là về phương diện cảm giác. Cái tên là những tính từ của cảm giác.
- Một trật tự của các mảnh ghép. Tuy được cấu tứ lại nhất định cho hợp với hình thức của một tập truyện ngắn, nó có logic trật tự thời gian rất rõ của hành trình trưởng thành của một cô gái. Cô gái ấy (tôi thấy) với mối bận tâm thường trực của mình, xoay xở bời các tình thế nhân sinh - theo hầu như cùng một lối: thấy và bị thấy.
- Khung cảnh chỉ là cái giá treo mối bận tâm. Khung cảnh luôn là các mã-văn hóa khá điển hình. Điển hình của sự đã từng độc đáo (và đã bị bỏ qua).
- Không những thế, với cô tổn thương là có thực. Nó đã xảy ra dẫu từ trước khi nó cụ thể ra là cái gì thì nó đã có hình hài riêng trong một sự e ngại vô cớ kiểu ấu thời.
- Ngược lại bản thân cô, thân thể cô lại rất cụ thể, thường trực tồn tại trong các mô tả trải nghiệm xúc giác.
- Cô vừa sống vừa tìm kiếm. Mỗi khả năng vừa hiện ra cho cô ướm thử thì lập tức cái con mắt của kẻ quan sát lại viện dẫn ra những khả thể khác một cách mỉa mai. Cô sợ sự mỉa mai - nó gây tổn thương ghê gớm vì nó đối lập triệt để với sự tinh khôi bản nguyên.
Dù không thừa nhận, quả thực phần lớn thời gian cô vô thức đẩy cái đẹp về phía bản chất. Tiếc thay, lý trí thông minh và mỉa mai của cô nó canh chừng điều đó.
- Thoạt đầu, có sự ám tả về trưởng thành. Truyện ngắn đầu tiên có cái tên là một mã kép: một đằng là về thái độ, một đằng là về sự thanh tẩy của trật tự hình thức. Con đường có thể là biểu trưng của sự trưởng thành, cũng có thể là của sự chạy trốn thực tại. May thay thực tại của cô gái ấy càng lúc càng đỡ có tính chất mã-văn hóa hơn. Cô từ từ lớn lên với những liên tưởng, chất vấn và xoay xở của mình. Tìm cách định vị mình trong nội tâm, qua người khác rồi dần dần cô đến được với thế gian của những người khác. Hành trình này ai biết nó thế nào.
Cũng vậy, đừng hy vọng gì vào một sự "hiểu". Đấy là một ảo tưởng. Qua sự đọc, chúng ta mở rộng giới hạn bản ngã của chúng ta - hay đúng hơn là chúng ta trải qua sự trở thành cái gì đó khác đi. Chúng ta viết và chúng ta thay đổi. Chúng ta đọc, chúng ta cũng thay đổi.
- Nhìn chính là một hành vi lựa chọn (J.Berger, từ giờ sẽ in nghiêng). Cái tôi thấy là cái mà tôi bị quy định.
- Sự hiện diện của một phụ nữ luôn thể hiện thái độ của cô ta với bản thân (có tính nội chiếu), và cho thấy mong muốn của cô ta về việc người khác nên đối xử với cô ta thế nào...
- Một phụ nữ sẽ luôn phải hình dung về bản thân, cô ta sống mà luôn phải ý thức về hình ảnh của chính mình.
- Và như thế, cô tiến đến việc coi kẻ quan sát và kẻ bị quan sát tồn tại trong chính bản thân cô như thể hai yếu tố, tuy luôn trái nghịch về chức năng, song lại cùng nhau cấu thiết nên căn tính phụ nữ của cô.
- Chạy đi chạy lại (có ý thức về điều đó hoặc không) giữa hai vai nhưng cùng trong một mối bận tâm thiết thân: mình phải được trông thấy như thế nào?
Tài sản của cô là một vẻ đẹp. Nhiều người nói thế. Cô biết thế. Và cũng biết thế là không đủ. Nhưng mỗi khi tự nhìn nhận mình, cô chỉ thấy riêng điều đó có vẻ chắc chắn. Mọi thứ khác cô không rõ ràng nó là gì, và chúng thường thách thức sự bình an của cô.
- Viết ra là để an cái tâm của mình. Một sự thanh tẩy nhờ nỗ lực thăng hoa qua việc nghệ thuật hóa những mẩu vụn hiện sinh của mình. "Bình an" là vấn đề cảm giác. Khía cạnh chủ yếu được trình bày ra cũng là về phương diện cảm giác. Cái tên là những tính từ của cảm giác.
- Một trật tự của các mảnh ghép. Tuy được cấu tứ lại nhất định cho hợp với hình thức của một tập truyện ngắn, nó có logic trật tự thời gian rất rõ của hành trình trưởng thành của một cô gái. Cô gái ấy (tôi thấy) với mối bận tâm thường trực của mình, xoay xở bời các tình thế nhân sinh - theo hầu như cùng một lối: thấy và bị thấy.
- Khung cảnh chỉ là cái giá treo mối bận tâm. Khung cảnh luôn là các mã-văn hóa khá điển hình. Điển hình của sự đã từng độc đáo (và đã bị bỏ qua).
- Không những thế, với cô tổn thương là có thực. Nó đã xảy ra dẫu từ trước khi nó cụ thể ra là cái gì thì nó đã có hình hài riêng trong một sự e ngại vô cớ kiểu ấu thời.
- Ngược lại bản thân cô, thân thể cô lại rất cụ thể, thường trực tồn tại trong các mô tả trải nghiệm xúc giác.
- Cô vừa sống vừa tìm kiếm. Mỗi khả năng vừa hiện ra cho cô ướm thử thì lập tức cái con mắt của kẻ quan sát lại viện dẫn ra những khả thể khác một cách mỉa mai. Cô sợ sự mỉa mai - nó gây tổn thương ghê gớm vì nó đối lập triệt để với sự tinh khôi bản nguyên.
Dù không thừa nhận, quả thực phần lớn thời gian cô vô thức đẩy cái đẹp về phía bản chất. Tiếc thay, lý trí thông minh và mỉa mai của cô nó canh chừng điều đó.
- Thoạt đầu, có sự ám tả về trưởng thành. Truyện ngắn đầu tiên có cái tên là một mã kép: một đằng là về thái độ, một đằng là về sự thanh tẩy của trật tự hình thức. Con đường có thể là biểu trưng của sự trưởng thành, cũng có thể là của sự chạy trốn thực tại. May thay thực tại của cô gái ấy càng lúc càng đỡ có tính chất mã-văn hóa hơn. Cô từ từ lớn lên với những liên tưởng, chất vấn và xoay xở của mình. Tìm cách định vị mình trong nội tâm, qua người khác rồi dần dần cô đến được với thế gian của những người khác. Hành trình này ai biết nó thế nào.
Thứ Hai, 30 tháng 1, 2017
Tại sao gặp nhau cứ phải ăn uống một cái gì?
Nghĩ ra thì cũng buồn cười, có lẽ chỉ có một đôi đang yêu nhau hoặc là những đứa bạn đang độ cấp 1, cấp 2 (lũ chưa có tiền riêng để vào cafe) mới có thể vô tư lựa chọn nói chuyện, trao đổi, chia sẻ mà không cần phải ăn một cái gì đó. Tức là hai trạng thái trên nó không cần môi giới xã hội nào khác - nó bỏ qua một số nghi thức xã hội.
Khía cạnh không gian công cộng dành cho xã hội (VN) hiện nay hầu như đi kèm với việc ăn/uống một cái gì đó (ngoại trừ các hoạt động chính trị ra). Thậm chí có thể đi xa hơn: để chứng minh một sự kiện gặp gỡ không phải chính trị, không phải luyến ái thì nhất thiết phải có đặc điểm sau: (a) một không gian công cộng hay bán công cộng và (b) có chỗ ăn uống. Nếu chỉ bán chỗ ngồi thì hơi kỳ - chắc là không biết tính phí thế nào. (Hãy liên hệ đến các core-working space và câu chuyện ấm trà của các nhóm đa cấp. Thực ra còn có thể nghĩ đến các vườn hoa có thu phí kiểu ở ngoài bãi sông Hồng).
Quay lại câu chuyện: nếu không ăn uống mà ngồi nói chuyện với nhau thì tức là câu chuyện đó phải có đủ sức nặng cho sự tụ hợp của (ít nhất) 2 người. Chúng ta có thể có nhu cầu gì để phải gặp gỡ và thảo luận mà không ăn uống? Học nhóm là một ví dụ. Hội chợ nghệ thuật cũng là một ví dụ. Nhưng hội chợ lại có khía cạnh của việc phải mua/bán một cái gì đấy. Tức là không gian cần chi phí và hội nhóm hay cá nhân cũng cần chi phí.
Nhưng rõ ràng là sẽ có thể có những không gian công cộng miễn phí được thiết kế dành cho cộng đồng và ở đây cụ thể là cho nhiều quy mô nhóm cộng đồng khác nhau. Vấn đề là việc quy hoạch có lẽ là thứ đến sau. Các không gian mở sẽ có trước. Các hoạt động xã hội sẽ có trước. Các thiết chế văn hóa sẽ dần hình thành và được củng cố bằng quy định (quy hoạch) (cái Đình) hay bằng văn hóa (các địa điểm).
Các thiết chế bị mất dần vai trò của mình. Hay vì nó bị biến tướng, không giữ được chức năng của nó? Đây sẽ dẫn đến câu hỏi về cấu trúc xã hội hiện nay.
Trở lại từ đầu: vậy là tôi chán ghét sự tụ họp ăn uống vì nó không có nghị sự rõ ràng, lại sa vào thức nghiện ngập phè phỡn của ăn uống vô tội vạ. Tôi cần trao đổi, trò chuyện chứ không phải ăn uống. Vấn đề là anh/bạn có gì để trao đổi hay không. Nếu có, tôi chấp nhận vừa ăn uống vừa tìm hiểu. Nhưng nếu không phải ăn uống thì tốt hơn.
Kể ra còn có các seminar, các phòng họp, thư viện hay không gian mạng thì sao? Không gian mạng đúng ra là không gian lý tưởng cho các nhóm hội thảo luận và đối thoại nhưng sự thực thì lại đáng nản. Tại vì sao? Liệu có gì liên quan đến bản chất giao tiếp của con người hay không? Ví dụ như các vấn đề xã hội cần bối cảnh xã hội, cần các thành viên, cơ chế thảo luận, sự ràng buộc và cam kết đạo đức, sự thông hiểu giữa các cá nhân...Tất nhiên là còn có môi trường kinh viện của học thuật: các hội thảo, tạp chí khoa học...Nhưng học thuật không bao trùm được đời sống xã hội. Ở tầm mức các nhóm xã hội nhỏ như vậy có thể thấy không khí méo mó, bị chèn ép của một xã hội không có tự do lập hội, tự do ngôn luận.
Câu hỏi chính thành ra phụ, chuyện ăn uống ấy mà - tại sao lại cứ phải là ăn uống? Nó là tập quán xã hội từ thời nguyên thủy? Hay vì xã hội Á Đông lễ lạt, chè chén là truyền thống? Cũng có thể đó là phản ánh nhu cầu làm bận rộn tâm trí, làm bận rộn môi miệng - nghiện ngập là mặt trái của mất kết nối xã hội.
Khía cạnh không gian công cộng dành cho xã hội (VN) hiện nay hầu như đi kèm với việc ăn/uống một cái gì đó (ngoại trừ các hoạt động chính trị ra). Thậm chí có thể đi xa hơn: để chứng minh một sự kiện gặp gỡ không phải chính trị, không phải luyến ái thì nhất thiết phải có đặc điểm sau: (a) một không gian công cộng hay bán công cộng và (b) có chỗ ăn uống. Nếu chỉ bán chỗ ngồi thì hơi kỳ - chắc là không biết tính phí thế nào. (Hãy liên hệ đến các core-working space và câu chuyện ấm trà của các nhóm đa cấp. Thực ra còn có thể nghĩ đến các vườn hoa có thu phí kiểu ở ngoài bãi sông Hồng).
Quay lại câu chuyện: nếu không ăn uống mà ngồi nói chuyện với nhau thì tức là câu chuyện đó phải có đủ sức nặng cho sự tụ hợp của (ít nhất) 2 người. Chúng ta có thể có nhu cầu gì để phải gặp gỡ và thảo luận mà không ăn uống? Học nhóm là một ví dụ. Hội chợ nghệ thuật cũng là một ví dụ. Nhưng hội chợ lại có khía cạnh của việc phải mua/bán một cái gì đấy. Tức là không gian cần chi phí và hội nhóm hay cá nhân cũng cần chi phí.
Nhưng rõ ràng là sẽ có thể có những không gian công cộng miễn phí được thiết kế dành cho cộng đồng và ở đây cụ thể là cho nhiều quy mô nhóm cộng đồng khác nhau. Vấn đề là việc quy hoạch có lẽ là thứ đến sau. Các không gian mở sẽ có trước. Các hoạt động xã hội sẽ có trước. Các thiết chế văn hóa sẽ dần hình thành và được củng cố bằng quy định (quy hoạch) (cái Đình) hay bằng văn hóa (các địa điểm).
Các thiết chế bị mất dần vai trò của mình. Hay vì nó bị biến tướng, không giữ được chức năng của nó? Đây sẽ dẫn đến câu hỏi về cấu trúc xã hội hiện nay.
Trở lại từ đầu: vậy là tôi chán ghét sự tụ họp ăn uống vì nó không có nghị sự rõ ràng, lại sa vào thức nghiện ngập phè phỡn của ăn uống vô tội vạ. Tôi cần trao đổi, trò chuyện chứ không phải ăn uống. Vấn đề là anh/bạn có gì để trao đổi hay không. Nếu có, tôi chấp nhận vừa ăn uống vừa tìm hiểu. Nhưng nếu không phải ăn uống thì tốt hơn.
Kể ra còn có các seminar, các phòng họp, thư viện hay không gian mạng thì sao? Không gian mạng đúng ra là không gian lý tưởng cho các nhóm hội thảo luận và đối thoại nhưng sự thực thì lại đáng nản. Tại vì sao? Liệu có gì liên quan đến bản chất giao tiếp của con người hay không? Ví dụ như các vấn đề xã hội cần bối cảnh xã hội, cần các thành viên, cơ chế thảo luận, sự ràng buộc và cam kết đạo đức, sự thông hiểu giữa các cá nhân...Tất nhiên là còn có môi trường kinh viện của học thuật: các hội thảo, tạp chí khoa học...Nhưng học thuật không bao trùm được đời sống xã hội. Ở tầm mức các nhóm xã hội nhỏ như vậy có thể thấy không khí méo mó, bị chèn ép của một xã hội không có tự do lập hội, tự do ngôn luận.
Câu hỏi chính thành ra phụ, chuyện ăn uống ấy mà - tại sao lại cứ phải là ăn uống? Nó là tập quán xã hội từ thời nguyên thủy? Hay vì xã hội Á Đông lễ lạt, chè chén là truyền thống? Cũng có thể đó là phản ánh nhu cầu làm bận rộn tâm trí, làm bận rộn môi miệng - nghiện ngập là mặt trái của mất kết nối xã hội.
Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016
ngôn ngữ của con người không phải lúc nào cũng hoạt động hoàn toàn theo formal logic
"
(trích 01 comment từ PQT trong 1 stt trên Fb Giang Le)
(trích 01 comment từ PQT trong 1 stt trên Fb Giang Le)
Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016
Trùm chăn luận kiếm. Tiếu ngạo giang hồ (c)
1.
Bây giờ khoảng 3 giờ chiều cuối mùa hè. Mùa hè của tôi thôi chứ đúng ra thì phải gọi là đầu thu. Ký ức thường ám nắng mùa này. Bây giờ dựa gió xiêu xiêu/Thoảng xanh nhạt trắng ven chiều bước đi. Tôi đi bộ, đổi 3 quán cafe quen để tìm chỗ thích hợp. Để viết. Cần viết ra, ghi chép lại, mô tả ra vài điều gì đó của những ngày đang trôi.
Cuốn sổ cũ còn sót vài ghi chép phác thảo cho loạt bài về truyện Kim Dung ngày trước phải tìm mãi mới thấy. Càng nên viết nốt ra trước khi cuốn số sẽ thực sự bị phủi bụi, lãng quên trên nóc giá sách theo đúng nghĩa đen. Có thể sẽ không hoàn chỉnh
Nhân mới đọc mấy bài cùng chủ đề trên soi: http://soi.today/?p=216427
2.
Tiếu ngạo giang hồ (c)
6.
Những lần trước là vòng quanh 1 câu hỏi chính "Làm thế nào mà Quỳ Hoa Bảo Điển lại thành võ công vô địch?". Từ đó dò dẫm tìm kiếm xem Kim Dung, theo mạch thủ pháp của mình, đã vẽ mây nẩy trăng, tả ra, củng cố những nét gì cho Quỳ Hoa Bảo Điển thành ra võ công vô địch. Bây giờ thử đi thẳng vào hệ thống của công phu này xem sao.
Theo thứ tự các phiên bản/tàn bản lưu lạc ngoài giang hồ thì có "Tử Hà thần công" - gắn với Nhạc Bất Quần và "Tịch Tà kiếm phổ" - gắn với Lâm Viễn Đồ, sau đó còn có Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi. Theo thứ tự thì THTC là đầu manh mối, sơ khai nhất; sau đó đến TTKP thì gần như chính là QHBĐ được phổ sang kiếm pháp. Vậy ta sẽ xem lần lượt từng chi tiết truyện liên quan để dựng lại các ẩn ý của Kim Dung xem sẽ đi đến đâu.
Tử Hà thần công chỉ là nhập môn công pháp so với QHBĐ mà đã làm cho Nhạc Bất Quần vang danh thiên hạ, nên NBQ ham hố tìm tòi là chuyện đương nhiên. Trong chuyện đại khái mô tả khi vận dụng THTC thì khuôn mặt chuyển sang màu đỏ tía (tử hà là cái ráng trời chiều màu tím), có tác dụng tăng khí lực, bồi bổ nội thương. Nhưng nhìn rộng ra quanh nhân vật Nhạc Bất Quần này thì cũng có những manh mối nhất định. NBQ dùng kiếm, THTC thì hỗ trợ cho kiếm pháp của y. Sau này TTKP cũng là kiếm, dù lúc đánh nhau với Tả Lãnh Thiền thì đã lòi ra ẩn chiêu dùng kim thêu - cái mà sẽ thành vũ khí chính tông của QHBĐ do ĐPBB dùng. Ta sẽ quay lại chủ đề về vũ khí sau đây, nhưng trước đó là cái món THTC này đã.
Trên quan điểm không có chi tiết nào Kim Dung không có dụng ý, tôi bắt đầu xét cái tên của môn công phu "Tử Hà thần công". Nếu nó không có liên hệ gì với mạch QHBĐ thì chắc chúng ta hẳn đều nghĩ tên quái gì chẳng được. Nhưng hãy xem: ít nhất về mặt trường nghĩa thì "Tử Hà" với "Triêu Dương" - ráng chiều tím với nắng sớm mai là một cặp đối ý nghĩa trong truyện - vì giáo chủ của Triêu Dương thần giáo là ĐPBB với môn QHBĐ. Mà bản thân Quỳ hoa - loài hoa hướng dương, hướng về mặt trời - cũng nằm trong phổ biểu tượng này; cùng với Đông Phương - phương của mặt trời. Hay có thể nói từ Tử Hà thần công đã là dấu chỉ cho con đường đi đến Quỳ hoa bảo điển của nhân vật Nhạc Bất Quần rồi. (Sau này có thể mở rộng ra trong Tịch Tà kiếm phổ cũng đã ẩn chứa cái ý Tà Dương, đối lại với Triêu Dương mà có thể ta sẽ xét thêm sau).
Nhưng từ NBQ đến ĐPBB thì có mối liên hệ gì nữa không? Nếu đúng theo nguyên lý nội kết của Kim Dung thì võ công và tính cách, hành động của nhân vật sẽ tương liên với nhau. Ở đây ta thấy ít nhất là ở phương diện hành động cả hai đều vì bản thân mà phản bội, tàn hại đến cả những người thân thiết của mình - bất chấp tất cả. Theo dấu đến điểm mấu chốt này, cộng với cái tính năng gia tăng nội lực, bồi bổ chữa thương của môn công phu này thì ta có thể nhận ra một dấu hiệu, ám chỉ bổ sung để làm cơ sở đặt tên môn công phu: trong đông y, có một phương thuốc gọi là Tử Hà Sa, lấy nhau thai (nhân bào) làm thuốc, có tác dụng chữa trị các chứng nam nữ hư lao tổn. Mặc dù mối liên hệ là mờ nhạt võ đoán đến đâu, riêng tôi vẫn thấy việc NBQ, kẻ luyện Tử Hà thần công, dùng con gái làm mồi nhử trong các âm mưu tranh đoạt - cái hành động ăn thịt con ấy - là hoàn toàn tương đương với cái vị thuốc thịt người Tử Hà Sa kia. Tất nhiên Kim Dung không cần người đọc mở rộng ra đến như vậy khi theo mạch tác phẩm. Nhưng đọc đi đọc lại thì càng thấy thêm ý vị này cũng không tồi.
Tịch Tà Kiếm Phổ được Lâm Chấn Viễn dùng như thế nào thì không được mô tả, nhưng có thể nhận thấy gián tiếp qua Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần sử dụng. Đặc biệt khi NBQ hạ TLT. Có thể hiểu TTKP chỉ còn khác QHBĐ ở vũ khí mà thôi. Về nội công tâm pháp thì đều phải tự cung nếu không sẽ bị hỏa dục tâm công mà chết. Từ môn bồi bổ dưỡng thương đến môn làm tăng khí lực con người đến độ nếu không tự cung (triệt sản, nhưng vẫn không hẳn triệt được dục như trong trường hợp ĐPBB) thì sẽ mất kiểm soát được dục vọng của mình, là con đường tiến triển nhất quán của tâm pháp QHBĐ. Cũng như từ chỗ phản trắc, tàn hại người thân đến tự tàn hại bản thân cũng là một con đường nhất quán trong hành động của những nhân vật chính luyện môn công phu này. (Lâm Viễn Đồ là ngoại lệ để so sánh vì đây không phải nhân vật chính, nhưng chẳng phải sâu xa cũng chính từ môn võ này với những hành động gian dối, phản bội sư môn của LVĐ mà sau 03 đời thì họ Lâm cũng tuyệt tự?). Ở đây cũng phải làm rõ lại là tôi đang quan tâm phân tích đến một khía cạnh trong thủ pháp sáng tác của Kim Dung để thưởng thức chứ không phải có tham vọng đặt ra vài quy luật cứng nhắc để mổ xẻ tác phẩm theo một lối hiểu duy nhất đúng.
Kiếm là vũ khí của hầu hết các nhân vật chính, nó cũng là vũ khí của Tịch Tà Kiếm Phổ. Nói võ công mà không gắn với vũ khí đặc thù thì rất hãn hữu và phi lý, chỉ dành cho một vài trường hợp đặc biệt được mô tả về sau trong trường phái kiếm hiệp. Lúc đó đại khái lấy tâm làm kiếm, cái gì hoa lá cỏ cây đều là vũ khí...Tất nhiên triết lý này không tồi, nhưng trong mạch truyện này của Kim Dung thì không có ý đấy ở đây. Vậy kiếm có ý vị gì trong tương quan với tính cách và hành động nhân vật của Kim Dung?
Kiếm hay được coi là vương giả chi binh ngay trong văn hóa truyền thống Trung Hoa chứ không nói gì đến riêng trong thế giới kiếm hiệp. Có lẽ rất đơn giản vì nó là vũ khí hiệu quả mà lại vừa tay, có thể đeo theo bên người mà không bất tiện, quá khổ, nặng nề như thương, giáo hay đao...cũng không quá nhỏ như các loại vũ khí ám sát khác mà mất tính biểu tượng cũng như thực chiến. Nhưng bất kể vì lý do gì, từ khi đã có tính chất biểu tượng trong văn hóa quyền lực thì trong thế giới kiếm hiệp, hầu hết các võ phái, các nhân vật chính đều dùng kiếm như là võ đạo tối cao, biểu tượng cho chính khí...Thực ra trong thế giới này thì lý luận về sự tiện dụng vẫn đúng, các nhân vật biểu tượng cho cá nhân độc lập, tự do, lang bạt trên giang hồ trong kiếm hiệp, thử tưởng tượng dựng thành phim thì y chỉ có thể mang kiếm mới đỡ chướng mắt bất tiện nhất so với các loại vũ khí khác. Nhất là khi thế giới giang hồ chưa thoát ly hoàn toàn thế giới xã hội cổ trang truyền thống như trong truyện Kim Dung.
Xét kỹ ra, còn có một số điểm đáng phân tích về kiếm, kiếm có kích thước tương đồng với cánh tay con người: gập lại thì dấu sau cánh tay, mở ra thì bằng thêm 1 tầm tay nữa. Trong tâm lý học, không gian 1 tầm tay với là có liên quan đến cảm nhận không gian của con người. Đây là tầm không gian giao tiếp. Hai người đối thoại với nhau thường đứng trong tầm kích thước này. Bằng hữu cũng là trong tầm kích thước không gian này.
(còn tiếp)
Bây giờ khoảng 3 giờ chiều cuối mùa hè. Mùa hè của tôi thôi chứ đúng ra thì phải gọi là đầu thu. Ký ức thường ám nắng mùa này. Bây giờ dựa gió xiêu xiêu/Thoảng xanh nhạt trắng ven chiều bước đi. Tôi đi bộ, đổi 3 quán cafe quen để tìm chỗ thích hợp. Để viết. Cần viết ra, ghi chép lại, mô tả ra vài điều gì đó của những ngày đang trôi.
Cuốn sổ cũ còn sót vài ghi chép phác thảo cho loạt bài về truyện Kim Dung ngày trước phải tìm mãi mới thấy. Càng nên viết nốt ra trước khi cuốn số sẽ thực sự bị phủi bụi, lãng quên trên nóc giá sách theo đúng nghĩa đen. Có thể sẽ không hoàn chỉnh
Nhân mới đọc mấy bài cùng chủ đề trên soi: http://soi.today/?p=216427
2.
Tiếu ngạo giang hồ (c)
6.
Những lần trước là vòng quanh 1 câu hỏi chính "Làm thế nào mà Quỳ Hoa Bảo Điển lại thành võ công vô địch?". Từ đó dò dẫm tìm kiếm xem Kim Dung, theo mạch thủ pháp của mình, đã vẽ mây nẩy trăng, tả ra, củng cố những nét gì cho Quỳ Hoa Bảo Điển thành ra võ công vô địch. Bây giờ thử đi thẳng vào hệ thống của công phu này xem sao.
Theo thứ tự các phiên bản/tàn bản lưu lạc ngoài giang hồ thì có "Tử Hà thần công" - gắn với Nhạc Bất Quần và "Tịch Tà kiếm phổ" - gắn với Lâm Viễn Đồ, sau đó còn có Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi. Theo thứ tự thì THTC là đầu manh mối, sơ khai nhất; sau đó đến TTKP thì gần như chính là QHBĐ được phổ sang kiếm pháp. Vậy ta sẽ xem lần lượt từng chi tiết truyện liên quan để dựng lại các ẩn ý của Kim Dung xem sẽ đi đến đâu.
Tử Hà thần công chỉ là nhập môn công pháp so với QHBĐ mà đã làm cho Nhạc Bất Quần vang danh thiên hạ, nên NBQ ham hố tìm tòi là chuyện đương nhiên. Trong chuyện đại khái mô tả khi vận dụng THTC thì khuôn mặt chuyển sang màu đỏ tía (tử hà là cái ráng trời chiều màu tím), có tác dụng tăng khí lực, bồi bổ nội thương. Nhưng nhìn rộng ra quanh nhân vật Nhạc Bất Quần này thì cũng có những manh mối nhất định. NBQ dùng kiếm, THTC thì hỗ trợ cho kiếm pháp của y. Sau này TTKP cũng là kiếm, dù lúc đánh nhau với Tả Lãnh Thiền thì đã lòi ra ẩn chiêu dùng kim thêu - cái mà sẽ thành vũ khí chính tông của QHBĐ do ĐPBB dùng. Ta sẽ quay lại chủ đề về vũ khí sau đây, nhưng trước đó là cái món THTC này đã.
Trên quan điểm không có chi tiết nào Kim Dung không có dụng ý, tôi bắt đầu xét cái tên của môn công phu "Tử Hà thần công". Nếu nó không có liên hệ gì với mạch QHBĐ thì chắc chúng ta hẳn đều nghĩ tên quái gì chẳng được. Nhưng hãy xem: ít nhất về mặt trường nghĩa thì "Tử Hà" với "Triêu Dương" - ráng chiều tím với nắng sớm mai là một cặp đối ý nghĩa trong truyện - vì giáo chủ của Triêu Dương thần giáo là ĐPBB với môn QHBĐ. Mà bản thân Quỳ hoa - loài hoa hướng dương, hướng về mặt trời - cũng nằm trong phổ biểu tượng này; cùng với Đông Phương - phương của mặt trời. Hay có thể nói từ Tử Hà thần công đã là dấu chỉ cho con đường đi đến Quỳ hoa bảo điển của nhân vật Nhạc Bất Quần rồi. (Sau này có thể mở rộng ra trong Tịch Tà kiếm phổ cũng đã ẩn chứa cái ý Tà Dương, đối lại với Triêu Dương mà có thể ta sẽ xét thêm sau).
Nhưng từ NBQ đến ĐPBB thì có mối liên hệ gì nữa không? Nếu đúng theo nguyên lý nội kết của Kim Dung thì võ công và tính cách, hành động của nhân vật sẽ tương liên với nhau. Ở đây ta thấy ít nhất là ở phương diện hành động cả hai đều vì bản thân mà phản bội, tàn hại đến cả những người thân thiết của mình - bất chấp tất cả. Theo dấu đến điểm mấu chốt này, cộng với cái tính năng gia tăng nội lực, bồi bổ chữa thương của môn công phu này thì ta có thể nhận ra một dấu hiệu, ám chỉ bổ sung để làm cơ sở đặt tên môn công phu: trong đông y, có một phương thuốc gọi là Tử Hà Sa, lấy nhau thai (nhân bào) làm thuốc, có tác dụng chữa trị các chứng nam nữ hư lao tổn. Mặc dù mối liên hệ là mờ nhạt võ đoán đến đâu, riêng tôi vẫn thấy việc NBQ, kẻ luyện Tử Hà thần công, dùng con gái làm mồi nhử trong các âm mưu tranh đoạt - cái hành động ăn thịt con ấy - là hoàn toàn tương đương với cái vị thuốc thịt người Tử Hà Sa kia. Tất nhiên Kim Dung không cần người đọc mở rộng ra đến như vậy khi theo mạch tác phẩm. Nhưng đọc đi đọc lại thì càng thấy thêm ý vị này cũng không tồi.
Tịch Tà Kiếm Phổ được Lâm Chấn Viễn dùng như thế nào thì không được mô tả, nhưng có thể nhận thấy gián tiếp qua Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần sử dụng. Đặc biệt khi NBQ hạ TLT. Có thể hiểu TTKP chỉ còn khác QHBĐ ở vũ khí mà thôi. Về nội công tâm pháp thì đều phải tự cung nếu không sẽ bị hỏa dục tâm công mà chết. Từ môn bồi bổ dưỡng thương đến môn làm tăng khí lực con người đến độ nếu không tự cung (triệt sản, nhưng vẫn không hẳn triệt được dục như trong trường hợp ĐPBB) thì sẽ mất kiểm soát được dục vọng của mình, là con đường tiến triển nhất quán của tâm pháp QHBĐ. Cũng như từ chỗ phản trắc, tàn hại người thân đến tự tàn hại bản thân cũng là một con đường nhất quán trong hành động của những nhân vật chính luyện môn công phu này. (Lâm Viễn Đồ là ngoại lệ để so sánh vì đây không phải nhân vật chính, nhưng chẳng phải sâu xa cũng chính từ môn võ này với những hành động gian dối, phản bội sư môn của LVĐ mà sau 03 đời thì họ Lâm cũng tuyệt tự?). Ở đây cũng phải làm rõ lại là tôi đang quan tâm phân tích đến một khía cạnh trong thủ pháp sáng tác của Kim Dung để thưởng thức chứ không phải có tham vọng đặt ra vài quy luật cứng nhắc để mổ xẻ tác phẩm theo một lối hiểu duy nhất đúng.
Kiếm là vũ khí của hầu hết các nhân vật chính, nó cũng là vũ khí của Tịch Tà Kiếm Phổ. Nói võ công mà không gắn với vũ khí đặc thù thì rất hãn hữu và phi lý, chỉ dành cho một vài trường hợp đặc biệt được mô tả về sau trong trường phái kiếm hiệp. Lúc đó đại khái lấy tâm làm kiếm, cái gì hoa lá cỏ cây đều là vũ khí...Tất nhiên triết lý này không tồi, nhưng trong mạch truyện này của Kim Dung thì không có ý đấy ở đây. Vậy kiếm có ý vị gì trong tương quan với tính cách và hành động nhân vật của Kim Dung?
Kiếm hay được coi là vương giả chi binh ngay trong văn hóa truyền thống Trung Hoa chứ không nói gì đến riêng trong thế giới kiếm hiệp. Có lẽ rất đơn giản vì nó là vũ khí hiệu quả mà lại vừa tay, có thể đeo theo bên người mà không bất tiện, quá khổ, nặng nề như thương, giáo hay đao...cũng không quá nhỏ như các loại vũ khí ám sát khác mà mất tính biểu tượng cũng như thực chiến. Nhưng bất kể vì lý do gì, từ khi đã có tính chất biểu tượng trong văn hóa quyền lực thì trong thế giới kiếm hiệp, hầu hết các võ phái, các nhân vật chính đều dùng kiếm như là võ đạo tối cao, biểu tượng cho chính khí...Thực ra trong thế giới này thì lý luận về sự tiện dụng vẫn đúng, các nhân vật biểu tượng cho cá nhân độc lập, tự do, lang bạt trên giang hồ trong kiếm hiệp, thử tưởng tượng dựng thành phim thì y chỉ có thể mang kiếm mới đỡ chướng mắt bất tiện nhất so với các loại vũ khí khác. Nhất là khi thế giới giang hồ chưa thoát ly hoàn toàn thế giới xã hội cổ trang truyền thống như trong truyện Kim Dung.
Xét kỹ ra, còn có một số điểm đáng phân tích về kiếm, kiếm có kích thước tương đồng với cánh tay con người: gập lại thì dấu sau cánh tay, mở ra thì bằng thêm 1 tầm tay nữa. Trong tâm lý học, không gian 1 tầm tay với là có liên quan đến cảm nhận không gian của con người. Đây là tầm không gian giao tiếp. Hai người đối thoại với nhau thường đứng trong tầm kích thước này. Bằng hữu cũng là trong tầm kích thước không gian này.
(còn tiếp)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





