Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại.

Một cuốn trong bộ sách rất hay của Pháp đã dịch ở VN. Giới thiệu mọi người chương cuối.
-----------------------------------------------

Que sais _ je?
Luc Benoist
Signes, symboles et mythes.
Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại.

(Kết luận)
Cách Tư Duy Thủ Công.

Khoa học bắt nguồn từ phương pháp loại suy, tức là đưa vào thiên nhiên những mối quan hệ trong lao động của con người.
(S.Wei).



Bằng kinh nghiệm, chúng ta biết rằng ý nghĩ và tình cảm của con người chỉ có thể được truyền trực tiếp và bằng trực giác trong những hoàn cảnh đặc biệt. Thông thường chúng ta bị buộc phải vay mượn các phương thức diễn đạt mà chúng ta đã phân tích nhiều trong cuốn sách này, và nếu như chúng ta tìm cách rút gọn các phương thức biểu trưng thành một yếu tố, chúng sẽ trở thành một tổ hợp các cử chỉ. Nhưng các phương thức và cử chỉ ấy lại thường trái ngược nhau.


Trên thực tế, người ta thường nghe thấy có hai kiểu người đối lập nhau: con người của hành động là những người làm việc chân tay, họ ôm lấy chất liệu vô sinh hay chất sống, cải tạo hay biến đổi nó, và con người của lời nói là những người biến lời nói thành công việc của mình và chỉ đạo người khác, sống bằng từ ngữ và biểu trưng. Bài nghiên cứu của chúng tôi muốn chứng minh rằng hiện tượng lưỡng phân này mang tính giả tạo. Mọi suy nghĩ đều mang tính thủ công chẳng khác gì bàn tay. Chỉ riêng tay là hoạt động trước vật thụ động. Các nhà điêu khắc tạc tượng đá cho nhà thờ không hề “suy nghĩ” kém sâu sắc hơn những nhà logic học kinh viện. Đó là những hình thức khác nhau của cùng một công việc phải hoàn thành. Bởi vì mọi cách thể hiện đều chỉ ở bên ngoài, ngay cả khi cách thể hiện đó có tham vọng cho thấy cốt lõi bên trong. Siêu hình học trừu tượng nhất cũng được rút gọn lại trong môn hình học ẩn nhằm cụ thể hóa tư duy, hay đúng hơn là thích ứng với tư duy không gian từ khi nó xuất hiện.


Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn phương tiện với mục đích. Khi Decscartes rút gọn thế giới lại thành một tổ hợp các vận động trong không gian bằng phương pháp loại suy, và muốn đồng nhất hóa mọi hiện tượng với cái chỉ là biểu trưng của nó, sai lầm mà trong tôn giáo gọi là sự tôn sùng, thì cách thể hiện thực tế bằng đại số mà ông đưa ra chỉ là cách ghi mới và tiện lợi hơn, cũng như những nhà trọ mà ở đó khách nghỉ chỉ có thể dùng những gì anh ta mang theo, cũng ít thông tin như những bức chân dung người máy nơi mọi người đều nhận ra những nét của mình.


Biểu tượng tạo nên một ảo ảnh giữa sự vật và ý nghĩ, giống như người phụ trách phục trang trên sân khấu khóac cho ý nghĩ mới nhất của chúng ta bộ quần áo cũ của các chú hề, sau khi đã sửa chữa theo yêu cầu của các nhân vật mà chúng thể hiện. Thực tế ẩn dưới bộ quần áo giả trang đó là không diễn đạt được. Giữa thuyết duy danh dựa vào kinh nghiệm theo đó chỉ có từ ngữ, tức là phục trang giống với sự vật, và chủ nghĩa hiện thực của Platon dựa trên mật độ không thay đổi của bản chất, biểu tượng đóng vai trò cầu nối làm sống động mọi hình thức bề ngoài, giống như diễn xuất của diễn viên biến lời thoại của họ thành cảm xúc, thành những cảnh đời xúc động.


Sự biến hóa này diễn ra trên tất cả các bình diện. Eldington đã nói:”Cái mà người ta gọi là sự việc chính là cách diễn giải một quan sát...Vật lý học không nghiên cứu tính chất không thể dò xét được của vật chất, mà chỉ nghiên cứu những gì máy móc ghi nhận được, ghi nhận này lại không liên quan đến tính chất ấy như liên hệ giữa một số điện thoại và người chủ thuê bao.” Theo Hilbert, khẳng định này có thể áp dụng vào tóan học, vì trong đại số, bản chất riêng của các sinh vật không được tính đến. Chỉ quan hệ giữa chúng mới đóng vai trò quan trọng, tức là cái mà logic hình học topo xét đến.


Chúng ta làm biến dạng hiện tượng khi truyền đạt nó và khi muốn thể hiện nó. Chúng ta không thể khách quan mà không từ bỏ ý kiến của chính mình và chúng ta chỉ giữ lại từ sự vật được nói tới cái mà chúng ta tự đo bằng những đơn vị quan sát, nếu như có thể nói như vậy. Nhưng có bao nhiêu đơn vị thì có bấy nhiêu ý thức. Mọi cách thể hiện đều mang tính cá nhân và không loại trừ những khả năng khác.


Khi rút gọn mọi thứ lại thành vận động, người ta đã loại bỏ thế giới, giống như Descartes, đối với chúng ta điều này làm nên giá trị của thế giới, giúp ta thưởng thức được màu sắc, hương thơm, âm thanh, mùi vị của hoa quả trên thế giới, tóm lại là tất cả sự phong phú của thế giới mà ta cảm nhận được, nếu không có thế giới thì chính không gian cũng không tồn tại, bởi vì Einstein đã cho chúng ta biết rằng không gian chỉ tồn tại vì có những sự vật nằm trong đó.


Nhưng nếu biểu trưng, giống như vật có phép thần thông, làm tái hiện lại được thời gian hay một tình cảm nào đó đã qua, nhờ hình ảnh còn nhớ được của một nhân chứng vắng mặt hay đi xa từ lâu, thì những hình ảnh bằng từ ngữ hay có hình dạng chưa bao giờ được hiểu toàn bộ, như tác giả của chúng đã suy nghĩ hay trải qua, nhất là nếu tác giả sống cách chúng ta hàng thế kỷ. Mỗi người đều là tù binh của thời đại mình, và bản thân tóan học cũng mang tính lịch sử. Con người chìm đắm hoàn toàn trong đại dương lịch sử. Trí óc con người bị hạn chế vì ngôn ngữ mẹ đẻ. Con người sống và tư duy trong phần được bọc kín của thế giới mà nền văn hóa của anh ta tìm hiểu được và cho phép anh ta đặt tên. Sự hiện thân luôn luôn mới phải làm sống lại được mọi cách thể hiện thường được chấp nhận để người nhận hiểu được. Giữa khái niệm logic cho rằng mỗi con người đều sẽ phải chết và cái chết đột ngột của mẹ mình là một cú sốc, lúc đó chúng ta phát hiện ra điều khủng khiếp dường như làm ta biến đổi bằng phép thuật. Kierkegaard đã diễn đạt điều này một cách tuyệt vời khi nói: “Tôi chỉ hiểu chân lý khi nó trở nên sống động trong tôi”


Trực giác không rõ ràng của ý nghĩ về mẹ không bao giờ có thể trở thành logic đơn thuần. Bao giờ cũng vẫn còn một cái gì đó mang tính truyền thống, quá khứ đã có được. Gonseth nói:”Trong công trình xây dựng trừu tượng nào cũng có tàn dự trực giác, không thể loại bỏ được, nhờ đó mà nó trở nên có giá trị và có ý nghĩa”. Giống như đối với tảng băng, phần biểu hiện ra và thấy rõ là dấu hiệu báo động của một thực tế không đo đếm được và không nhìn thấy được.


Như vậy, bản thân các biểu trưng cũng có giới hạn. Nhưng trước khi được cố định, các hình ảnh trong tâm trí ấy đã là chỉ dẫn bên trong của chúng ta, là vật chất của cuộc sống. Điệu bộ gây xúc động, bộ phim liên tục, sân khấu rối bóng âm thầm làm sống động ý thức của chúng ta ấy chỉ có thể được sinh ra và tồn tại nếu trước đó chúng ta đã thiết lập được hệ dấu hiệu có thể hiểu được và nếu chúng ta có khả năng giải phóng lời hát của mình giống như Orphée. Một nền văn minh được xác định chính bằng sự chuẩn hóa các dấu hiệu đó, bằng bảng ngôn ngữ biểu trưng và nghi lễ đó.


Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Những câu chuyện kể

Một người sau khi mất đi thì di âm là những gì? Là những câu chuyện kể giữa những người thân quen. Có những câu chuyện thảng hoặc như nắng vãn. Có khi âm ỉ như những ngày mưa dầm. Nhưng phần lớn thì sẽ chìm vào quên lãng. Thỉnh thoảng trở lại trong những mộng mị, điềm triệu. Phần lớn thì trong dạng thức phải làm người sống e sợ. Đấy là trong phần tâm thức của người đã lớn. Còn một phần khác kiên cố hơn, như đá tảng mờ xám, là trong phần ký ức thơ ấu. Ký ức về ông bà mình phần nhiều là như vậy.

Tôi nhớ hồi nhỏ bà ngoại hay kể chuyện cho tôi nghe. Có câu chuyện về bà nội của bà. Một cụ già ngoài chín mươi tuổi vùng bán sơn địa nghèo mạt ăn trầu bằng cối. Bà nội thương cháu gái duy nhất mồ côi mẹ từ bé đùm bọc nhau. Rồi một ngày bà nội ra đi nhẹ nhàng ngay trong vòng tay của cháu nhỏ giữa giấc ngủ say...Tôi không biết gì hơn ngoài màn sương mờ ấy. Cũng không thấy mẹ tôi kể thêm gì. Nhưng trong thế giới thơ ấu của tôi, trong những chuyện kể lầm rầm đêm hè đã có một người bà xa xưa - bà của bà ngoại.

Bây giờ tôi cũng không hay kể về bà ngoại nữa. Vì không biết kể thế nào, kể với ai. Lũ nhỏ thì lại gắn bó với những ông bà của chúng nó. Bà ngoại tôi mất đã 5 năm. Chừng đó thời gian đủ để những ký ức về bà lắng xuống như lớp trầm tích dưới đáy sông cả. Bạn bè anh em của bà ngoại cũng hầu như đã mất hết. Lũ cháu chúng tôi đã là những người lớn, ít gặp nhau và hầu như không biết kể chuyện.

Những âm thanh rầm rì đêm hè ngày xưa vì vậy cứ vang vang, vảng vất trong tâm trí đứa cháu

"...Bà ngoại mồ côi mẹ từ nhỏ. Không có anh em. Thân thiết với 2 người em con dì. Bây giờ các ông mất cả rồi. Bà Bật cũng mất. Bà giờ chả còn ai thân thiết cùng trang lứa. Nằm thiêm thiếp cả ngày trong buồng nhỏ. Nhiều lúc không phân biệt được sáng chiều. Đã ăn chưa cũng không nhớ. Mong mỏi duy nhất là được đem về trong xã chôn cùng ông. "Ở ngoài này toàn ma lạ sợ lắm, chả biết lối nào mà đi".
Chục năm trước bà về quê xây mộ cho bố mẹ. Bây giờ cũng chả còn họ hàng gần. Các con bà không về nữa. Mình chưa bao giờ về quê bà. Hồi trước bà bảo khi nào cháu đi học ĐH rồi chở bà về quê chơi. Quê bà là cả 1 xứ sở trong mình với những câu chuyện ăm ắp ngày nhỏ. Bà thường bắt đầu bằng câu "Dạo đấy vào viền tháng chạp..."-chữ viền là tiếng địa phương. Bây giờ thì bà chả đi đâu được. Mình vẫn chưa về quê bà bao giờ. Lại sắp đến viền tháng chạp..."

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Dòng máu xanh thuần chủng

1.
Từ một điểm nhìn rất xa châu Âu và thế giới lấy nó làm trung tâm, việc truyền thông tràn ngập tin về sự hân hoan đón chào "hoàng tử bé" (chữ của BBC Vietnam) là một điều hơi buồn cười với tôi. Mấy chục năm sau khi R.Barthes viết về "dòng máu xanh" trong cuộc du ngoạn trên biển của giới quý tộc châu Âu thì mọi chuyện vẫn thế. Người ta hồ hởi với một cái gì đó biểu trưng của nòi-thuần-chủng. Hoàng tử bé của S.Exupéry là một hoài vọng về mất mát, về sự tha-hóa. Trong thế giới mất mát và đổ vỡ niềm tin thì cuộc trình diễn truyền thông về "dòng máu xanh" có thể hiểu được và rốt cuộc chỉ là phiên bản mới của một gameshow - nơi người ta đặt cược, tán nhảm và hồ hởi tụ tập mà thôi!

2.
Một số ý kiến cho rằng khi lên mạng xu hướng "tốt khoe xấu che" là có vấn đề, theo ý tiêu cực. Thực ra việc gì cũng có thể nhìn theo nhiều góc độ khác nhau. Mà tốt nhất hãy nói từ góc độ của chính mình thì tôi thấy việc tự-biểu-hiện trên mạng là một hành vi có thể diễn ra trong một tâm thế phản tư rốt ráo. Trong chiều hướng đó, việc lựa chọn thông tin để biểu hiện là phụ thuộc mục đích khởi thủy (cho dù đặt được nó ra từ đầu là một việc hiếm).

Nói, luôn luôn là nói với ai, về cái gì, ở đâu và trong lúc nào. Nếu lập ngôn theo phương thế đó thì việc lựa chọn "trao nhau một điều gì đó có ích, lợi lạc" là quan trọng. Hoặc giả ít nhất không lây nhiễm phiền não thêm cho bạn bè. Tự-mình giải quyết vấn đề của mình. Hơn nữa, ngay từ đầu phải ý thức được bản chất cũng như khiếm khuyết của hình thức tương tác trên mạng. Nó KHÁC với những hình thức tương tác truyền thống. Nó không thay thế được những liên kết thực của con người mà bổ sung vào đó (ngay lập tức cũng gây vấn đề ở đó). [Noam Chomsky: Internet: từ quan điểm quyền lực nó quá dân chủ. Mặt khác: nó làm người dân chệch hướng và phân tán: các bạn ngồi trước màn hình máy tính một mình/đẩy tình cảm con người ra khỏi con người. Họ gửi cho các bạn bất kỳ ý tưởng nào mà họ thậm chí chưa nghĩ kỹ, bất kỳ lúc nào họ bị thôi thúc. (Nhận diện quyền lực, tr401)]

Nếu không phải như vậy thì mọi chuyện chỉ còn là kiểu rông càn nói vu vơ giữa chợ. Khổng Tử nói đại ý nghe (bàn tán) chuyện đầu đường xó chợ là tự bỏ cái Đức của mình đi.

Việc rạch chia đôi hai bờ này cũng chỉ có tính giả lập. Thực tế chúng ta sẽ luôn xoay xở giữa những vòng xoáy của phản tư. Đó là điều không thể tránh khỏi được vào lúc này.

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013

Beo 14 tháng

Bố về đón Beo sau 1 tuần gửi ở quê với ông bà. Thằng bé 14 tháng những ngày trên HN chưa bao giờ ngồi trong lòng bố mà không ngọ nguậy hôm ấy cười rất hiền, chui vào lòng mình ngồi im đến hơn mười phút.


Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

đây. này. vậy. đấy

Tháng tư đây.
Thanh Minh này.
Lữ thứ vậy.

Thời gian một vài tiếng buổi tối một mình thì cũng có đấy mà không thể viết lăng nhăng gì được lên blog. Rốt cuộc là tại thiếu cảm hứng. Mà thứ này nó thường chỉ đến những lúc vô sự. Muốn vô sự thì phải bớt mưu cầu, ham hố. Khổ thế cơ chứ. Sống nửa vời tiêu chuẩn kép nó thế đấy ^^

Thôi tự hẹn mình đánh nốt chuyến hàng này rồi ta sắp xếp lại cuộc đời.

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc đẹp, ngồi một mình

1.
Bài này ngày xưa viết cho Gấu. Bây giờ thì Beo lại đang chập chững bước đi.

"Beo và Gấu gầm ghì tha thiết
Bờ ghít ôi! Cô bước hai chân"

Đọc lại thấy tình cảm làm bố hẵng còn nhiều, nhưng nuôi đến đứa thứ hai thì kinh nghiệm nó đã thành quy trình rồi. Bảo sao bọn con thứ con út nó quậy hơn những thằng cà đẫn (mình cũng cà đẫn).

2.
Mỗi ngày nuôi con thì lại thêm nhiều kinh nghiệm hơn.

Erich Fromm cho rằng tình yêu của bà mẹ trưởng thành ở khả năng dành cho con khả năng sống độc lập. Những ngày dự định cho con đi nhà trẻ bố mẹ đã rất lo lắng vì con vẫn còn chưa biết tự bảo vệ bản thân. Nhưng nếu con đi học con sẽ lớn khôn lên rất nhiều. Và trách nhiệm của bố mẹ là phải cho con có những điều kiện tốt nhất để phát triển chứ không phải bao bọc con mãi. 

Nhưng cứ nghĩ đến những lúc nâng niu con ở nhà mà lại lo lắng khi đưa con đi ra ngoài xã hội-lòng người ai chả như vậy.

Ở giai đoạn tuổi này con sẽ phải vượt qua nhiều thử thách: con đã chập chững biết đi nhưng chỉ đang bập bẹ biết nói. Thế giới của con là thế giới của quan sát và bắt chước. Thật khó để bố mẹ và mọi người hiểu được mong muốn của con. Vậy đấy, chỉ hơi lớn khôn một chút là con người phải tập chấp nhận sự thực về những điều khó chịu trong cuộc sống để vượt qua. Con sẽ ốm nhiều lần, sẽ vấp ngã, sẽ bị đói, bị đau mà không phải lúc nào cũng được chăm sóc vì không ai hiểu con. Con sẽ phải nhìn ra bên ngoài gia đình để học hỏi và lớn lên.

Bố mẹ muốn con lớn lên trong sự cảm nhận về tình thương yêu và thái độ trân trọng sự sống độc lập của con. Nên những ngày này mỗi khi con khóc hờn quá lâu bố mẹ thấy thật phân vân và day dứt khi phải quát nạt đánh đòn con. Chỉ là tỏ thái độ cho con biết cái gì là "được phép" và "không được phép". Và con bắt đầu biết có cái nhìn vừa hờn vừa tủi với bố mẹ. Như hôm nay con đang ốm mà bố mẹ vẫn phải nạt con để con dứt cơn hờn đến hơn một giờ. Và trong giấc ngủ con vẫn nấc lên hờn tủi.

Hỡi ôi, nuôi con mới biết lòng cha mẹ. Cha mẹ sinh con trời sinh tính, đã làm hết sức hết lòng rồi thì nhiên hậu sau này có lẽ phận làm cha làm mẹ đau lòng nhất là ở chỗ con cái không hiểu tấm lòng của mình.

Cổ nhân nói: Cùng lo thì dễ thân, cùng thương thì dễ giận. Nhận rõ sự thực về cuộc nhân sinh, gắng hết sức hết lòng cốt cũng chỉ là để khỏi phải ân hận chứ làm sao tránh được không đau lòng trong cõi nhân gian này?




Bức hình lịch sử. Chuẩn_bị_làm_ông_bố_hai_con_giai tắm rửa sạch sẽ, mặc đẹp ngồi một mình trong phòng chờ Beo xuất hiện. Beo bảo "từ từ, bà nội đã dặn phải đến giờ Dần cơ". Bố chờ 8 tiếng còng cả lưng ^^


Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Nắng xuống thì sương tan

Mỗi dịp như Tết là mỗi dịp hay để chiêm nghiệm sự đa dạng chồng chập của cõi ta bà thiên long bát bộ. Loại như mình là loại có nhiều căn tính nhập nhằng lẫn với nhau: một cybercitizen, một thị dân trung lưu, một người nhà quê li hương. Mối quan hệ giữa chúng là kiểu một vòng xoáy ốc tiến hóa - vừa có tương liên ruột rà lại vừa phủ định nhau một cách khắc nghiệt, rất biện chứng (LOL).

Từ cuối năm đến nay phải trả nợ đời nên hơi bận. Cứ nghĩ đến thế giới blog, những người bạn trên mạng, những điều mình chú tâm (sao có thể gọi khác đi được?)...như một điều gì đó dang dở, lẩn khuất. Như thể mình đã làm người bỏ cuộc. Thôi thì cứ nghĩ là trời đất xoay vần, ngày tháng luân chuyển, cuộc đời nắng xuống thì sương tan thế nào chả còn lúc quay lại. Cái giống loanh quanh, cái nòi tình chừa thế quái nào được ^^

Đầu năm đi chúc Tết, gặp lại thầy giáo cũ đã sống đời tu hành rồi làm linh mục đến giờ đã là 12 năm ở Pháp. Nghĩ cũng hay, mình có quen hai người - quen là đã từng trò chuyện trực diện về chuyện sống_ở_đời với nhau - trong vòng 15 năm. Bẵng đi chừng ấy năm, giờ một sư ông một cha xứ, còn mình thì vẫn làm người bình thường sống đời bình thường của mình. Gặp lại nhau, dù trên mạng hay ngoài đời, cái cốt yếu mình quan tâm là chuyện sống_ở_đời năm xưa giờ ra sao. Cảm nhận là rốt cuộc đường vẫn chỉ có thể là dưới chân mỗi người. Điều hơi nuối tiếc là tại sao chúng ta không thể dùng ngôn ngữ bình thường để nói với nhau? Quá nhiều biệt ngữ.


Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

chuyện táo ngày tết

"Tất nhiên, phong cách hầu như bao giờ cũng là cái cớ nhằm né tránh những động cơ sâu xa của vở kịch: bảo một vở hài kịch của Goldoni có phong cách thuần túy "Italia" (những trò hề, những kịch điệu bộ, những cung cách khúm núm và cách ăn nói láu ta láu táu), đó là cách dễ dãi để được miễn trách nhiệm về nội dung xã hội hoặc lịch sử của tác phẩm, là cách để tháo ngòi nổ xung đột gay gắt của những quan hệ công dân, nói tóm lại đó là huyễn hoặc"

(Trích Hai huyền thoại về nền sân khấu trẻ, tập Những huyền thoại, Roland Barthes, bản dịch Phùng Văn Tửu, Nxb Tri Thức, 2008).


Một nghi thức trừ tà của xã hội

Khởi đầu là một vở hài kịch châm biếm nhỏ trên truyền hình cuối năm thành công đầy ấn tượng, từ nhiều năm nay chương trình Táo quân Tết đêm Giao thừa (Gặp nhau cuối năm) đã thành lệ, thành khuôn thước hình thức để mỗi năm công chúng phỏng đoán, chờ đợi xem năm nay các Táo sẽ đem những chuyện gì ra biếm giễu. Một cách vô tình, sự chờ đợi này tạo ra sức ép kép: một mặt chương trình truyền hình này phải bao quát phản ánh đại diện được những vấn đề thời sự của đất nước trong năm, mặt kia các nhà sản xuất phải nỗ lực tìm kiếm đem lại những thứ ấn tượng mới mẻ hấp dẫn cho công chúng - sức ép cho số mới đến ngay từ sau khi đóng lại số cũ và kéo dài cả năm, như chính những người trong cuộc thổ lộ. Sự cải biên đổi mới mỗi năm ấy không nhiều nhưng liên tục và dần dà vở hài kịch truyền hình nhỏ đã trở thành một cái gì đó quen thuộc nhưng không nghiễm nhiên và vẫn đang tự vấn về hình thức của mình, về khả năng tiếp tục duy trì hay đình bản của chính mình. Đều đặn trong những đêm 30 Tết với tính chất bản tổng kết kế toán được mất cuối năm, trong thời khắc mà người ta dù "feeling lost and feeling blue" nhưng chung cuộc sẽ là tâm lý kiêng việc kiêng sinh sự sự sinh và dành những hy vọng cho một chu kỳ mới, chương trình Táo quân Tết đã đóng vai trò một nghi thức trừ tà cuối năm của xã hội mang đầy tính chất huyễn hoặc; với những lá bùa của nó (những đĩa CD sao chép buổi ghi hình) sẽ còn hiệu nghiệm và len lỏi trong dân gian theo bước chân những người bán rong.(*)


Xét về cấu trúc và phong cách, Táo quân Tết mang nhiều dấu vết rõ ràng ảnh hưởng từ sân khấu chèo, một cảnh chèo toàn những vai hề (áo dài)! Từ cấu trúc cảnh trí sân khấu kịch nhiều tính ước lệ đến bảng phân vai của những tính cách bản chất đến kết cấu nội dung tốt nhiều hơn xấu, thiện thắng ác, đại đoàn viên... Kịch mô phỏng hành động chứ không mô phỏng con người (Aristotle). Nếu như ở vở hài kịch khởi đầu được xây dựng dựa trên các hành động tình huống xung đột gắn với những tình tiết có lịch sử riêng trong xã hội, trong hình thức mới mẻ của mình, nó đả kích, châm biếm hiện thực xã hội; thì cùng với việc kéo dài rập khuôn, trở thành một chương trình truyền hình, cấu trúc đã bị đóng khuôn và các nhân vật Táo đã được rút gọn thành các bản chất phi lịch sử, nổi bật lên trong cấu trúc tung hứng ứng biến, những tình huống được lựa chọn xoay xở cho khớp, Táo quân Tết đã trở thành một cấu trúc các khái niệm được sắp xếp theo mô dạng một huyền thoại như cách nói của Roland Barthes. 

Ở bên trên bình diện nghĩa đa tạp của tình huống, lặp đi lặp lại mỗi năm là cấu trúc hai lớp: một bộ ba kiểu quan năng (Cái nhìn quan phòng, Hành vi phản ứng, Xúc cảm trực thời) xao động vòng quanh các Bản chất, ở những tình huống kịch tính đa dạng giòn giã như pháo. Trong khoảng thời gian hầu như rảnh rỗi vô sự chờ Giao thừa, Buổi chầu là phần thời gian rỗi rãi của dân văn phòng mà Nam Tào (Xuân Bắc) là tay kế toán thạo việc, Bắc Đẩu (Công Lý) là cô thư ký đồng bóng và Ngọc Hoàng (Quốc Khánh) là anh trưởng phòng lõi đời cùng nhau chém gió, buôn dưa lê những chuyện trong nhà ngoài phố theo cái nhịp đời sống tiểu tư sản của họ: chuyện đi đường, chuyện con cái đi học, tiền điện, tiền xăng. Những chuyện ấy có cái kịch tính cá nhân chốc lát, nhiều bức xúc và lây lan bất chấp nhân quả logic nhưng chung cuộc là vô thưởng vô phạt, sao cũng được miễn là được nói ra, xả ra thật nhiều, thật chi tiết và cường điệu.

Quy cách bó buộc đơn điệu về tư tưởng sẽ cần được bù trừ bằng khối lượng hình thức, các tình tiết khoa trương đến bão hòa. Một tập đại thành dân ca hò vè đến nhạc phim sẽ được huy động. Phục trang, phụ kiện...danh mục các đồ vật liên tục được đưa vào sân khấu - không chỉ còn từ hai bên cánh gà mà từ trong phông tiến ra, từ trên cao đu dây xuống, trong khói trong mù và tiếng nhạc. Công chúng chờ đợi thưởng thức một đoạn ca thật dài thật mùi của Tự Long, cái hẩy tay hất tóc phát gớm của Công Lý hay điệu bộ oặt dẹo liến thoắng của Vân Dung. Các diễn viên sẽ thực sự rất vất vả, đổ mồi hôi và tận hiến những cao trào ngẫu hứng bột phát và công chúng cũng chỉ chờ đợi những tình tiết ấy, để hưởng ứng, sao nhại và truyền khẩu râm ran trong những câu chuyện trà thuốc mấy ngày Tết. Phản ứng xã hội sẽ được cô đặc lại trong những câu nói tâm đắc, trúng, độc kiểu "Thông và Dục, Táo đầu gấu hàng đầu thiên đình" (mô phỏng quảng cáo phản cảm bình lọc nước Kangaroo) và thế là những xung đột gay gắt của quan hệ công dân coi như đã được tháo ngòi nổ. Những bức xúc đã được đặt cho một cái tên và được biểu hiện theo kiểu hiển nhiên, tan loãng vào đám đông vô danh.

Mấy từ vựng

Xuân Bắc: Nam Tào, anh Tào, tay kế toán trẻ Thiên Đình thạo việc và ranh mãnh, chuyên gia tung hứng đưa đẩy. Bột phát nhưng ứng biến, điều chỉnh nhanh. Là biểu trưng kiểu hành vi phản ứng.

Công Lý: Bắc Đẩu, Đẩu, cô thư ký văn phòng đồng bóng, đa sự, bốp chát, dễ xoa dịu bằng phỉnh nịnh. Kiểu loại xúc cảm trực thời.

Quốc Khánh: Ngọc Hoàng, anh Hoàng, anh trưởng phòng tẩm ngẩm, ủ ê, vừa vừa phai phải. Nói lời cuối kiểu mô tả.

Chí Trung: Táo Giao thông, Thông, lĩnh vực của vận động, liên lạc, vận chuyển kết nối. Biến báo, được chăng hay chớ, thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm, giọng em thiên hạ.

Vân Dung: Táo Y tế, cô Tế, một lĩnh vực không có gì thay đổi, không có gì nhiều để nói (nói không ăn thua). Trong hiệu ứng ngược của biểu trưng, phần bù hình thức là nói to, lánh lót, liến thoắng, loăng quăng, ngoằn nghoèo, dẹo.

Những vấn đề xã hội phức tạp đa chiều, nơi phải có ai đó chịu trách nhiệm, phải thay đổi hoặc bị thay đổi đã chuyển hóa thành các vai Táo vốn được mô tả trong chiều kích cá nhân, như những tính cách điển hình của những người làm công ăn lương có khổ, có công. Qua sự chiêu dụ của thủ pháp nhân cách hóa, dung tục hóa, đời thường hóa mọi sự, công chúng sẽ thấy mình trong những bung xung đó và chấp nhận nguyên trạng. Ở đâu đó, "người dân" luôn là một đám mờ nhạt, ý kiến vụt chạc.(**)

Comming out

Trong các vai diễn, Đẩu là nhân vật có sự chuyển đổi rõ nét nhất trong hành trạng, tính khí - một quá trình comming out theo đúng nghĩa đen. Là biểu trưng của cảm xúc trực thời, Đẩu đã có thể hoàn toàn thoải mái thể hiện cảm xúc của mình trong cách thức "khó coi". Cô hồn nữ tính đã thành đồng bóng thuần túy một cách thoải mái, nghiễm nhiên. Công chúng thân mến, những bức xúc của anh chị nó thực ra là khó coi lắm, và vì vậy nó đáng ngờ.

Câu chuyện của Đẩu là một biểu trưng kép: trong tiến trình comming out của giới thứ ba, thay vì những đấu tranh nỗ lực để đặt được chủ đề của mình vào chương trình nghị sự trong truyền thông của xã hội thì kết quả lại chỉ là những ám chỉ bông lơn, tục gớm trước cái cười mỉm của thiên hạ. Ở bình diện những câu chuyện chung của xã hội một năm cũng vậy, được nêu ra để bông lơn, chỉ lởn vởn, mù mờ như tà khí mà ánh sáng lấp lánh, ấm áp và những bè đồng ca chào xuân sau rốt sẽ thanh tẩy tất cả! Chiều tắm nước mùi già, tối xem tàn buổi chầu truyền hình, ai ai cũng đã cảm thấy nhẹ nhõm (cái nhẹ nhõm phải từng bị táo mới hiểu), có thể ra sân đêm ba mươi xem pháo hoa một lát rồi đi ngủ. Hết giao thừa, năm mới đến một lúc thì đi ngủ.
----------------




(*) Nghe kể có chuyện có ông bộ trưởng rất thân tình với CT, năm nọ đã mời cả đội Táo về nhà diễn và nhậu vui xuân. Nói chung tiết mục Táo quân là bán được.

(**) Một phép so sánh: thử tưởng tượng nếu Đoàn Văn Vươn nhận được một chỗ trong vở để tìm kiếm tên gọi chính xác cho tội danh của mình: giết người hay phòng vệ quá mức?

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Nhớ lại. Nothing

Nhớ lại thời Gấu tập nói.
---------------------

1.
Dạo này thường viết về đêm. Lý do cũng đơn giản: phải chẳng vì cái gì cả thì mới viết được. Giờ ban ngày có vì cái gì rồi nên đêm đến mới linh tinh được. Chẳng vì cái gì, chẳng có gì cũng đang an ủi bác Gauxx nhà bên kia. Mỗi lần xem phần Map overlay của Google Analytics tôi thích theo rõi xem ai ở đâu đã đọc blog của mình. Những chấm trên bản đồ địa cầu gợi liên tưởng đến cái nhìn những đốm sáng dưới mặt đất khi bay đêm của S.Éxupery trong Terre des homme. Tôi chú ý những thành phố chỉ có một người thường xuyên theo rõi blog mình và tưởng tượng về họ, trong những thành phố ước lệ-đâu đó ở VN, đâu đó ở các châu lục xa lạ. Tưởng tượng cứu rỗi cuộc sống nhiều ngang với những tác dụng phụ của nó. Chúng ta có thể hiểu được thế giới không là một câu hỏi khó và khá rắc rối. Nhưng chúng ta đang cảm nhận thế giới và cần nuôi dưỡng khả năng cảm nhận thế giới vì đó là cách chúng ta đi đến cuộc đời này. Hai bố con tôi chơi trò bắt chước tiếng chó sủa khi xem ảnh con chó trên xe ô tô thò đầu ra. Gấu đang tập nói và đó là hầu hết vốn liếng về chó của Gấu lúc này. Âu âu âu âu...Hehe, bố chợt nghĩ rằng những bài viết khuya của bố rất giống những tiếng tru đêm Gấu ạ. Auuuuuu...

2.
Ngẫu nhiên thế quái nào ô tô cũng đang là chủ đề của Hà Nội tối nay qua bài viết của 2 bác VMC (Khai giảng trường con nhà giàu) và TQ (Bốn bánh bay lên đỉnh). Bây giờ bạn bè gặp nhau chủ đề ô tô cũng thường là sôi nổi nhất. Các bác sĩ phu chơi hoa lan (không nói 2 bác trên :), mình nghĩ câu chuyện nhàn đàm tối nay nên hướng vấn đề về phía không phải là cái ô tô mà là ý nghĩa của việc đã sở hữu nó chứ nhỉ? Đó là câu hỏi về ý nghĩa: một lúc nào đó chúng ta sẽ suy nghĩ về ý nghĩa. Việc câu hỏi đó buột ra trong lúc ngồi ô tô hẳn là một tình huống thiết thân hơn rất nhiều trường hợp đau đáu sau khi đọc một cuốn sách 1ooo trang? Tất nhiên ô tô chỉ là một ẩn dụ và có thể thay nó bằng bất cứ cái gì. Nói chuyện với bạn cũ, vấn đề ý nghĩa cứ lởn vởn khăm khẳm xung quanh. Sẽ tốt hơn nếu bạn nhìn nó một cách trực diện và chân thành. Khả năng cao là khá hẫng hụt. Hơi buồn cười khi được/bị nghĩ là "chuyên về văn hóa". Nếu văn hóa là cách thái ứng xử với xung-quanh và với chính mình thì không thể có chuyên gia văn hóa mà chỉ có con người - Người-thật-là-người như cách diễn dịch của Nhượng Tống - và văn hóa không phải là để làm dáng theo sở thích hay trào lưu. Do vậy theo mình văn hóa là thứ có thể mày mò tự học nhưng nhất định không nên chỉ là học lỏm. Một cái nhìn chăm chú, có thể nói như thế nếu không thích dùng chữ Học trong trường hợp này.

3.
Nhưng nếu không có ý nghĩa (tuyệt đối) thì sao? Thì cũng chỉ là không có ý nghĩa thôi mà! Câu hỏi về ý nghĩa sẽ trở thành câu hỏi về tính chính đáng của nhu cầu phải có một ý nghĩa. Trong phương pháp luận NCKH người ta có tiêu chuẩn về vấn đề nghiên cứu là: vấn đề nên phát biểu dạng câu hỏi và câu hỏi tốt thì không phải là dạng câu trả lời tiềm năng. Trong trường hợp này chúng ta sẽ cùng nhau chuyển thẳng sang vấn đề về sự bận tâm ("vì nó được hình thành về mặt thời gian, tồn tại con người là sự "bận tâm" (Sorge) xét về cấu trúc"-MH).

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

carnets. Phương tiện là tùy duyên tiếp vật


Nếu giao tiếp là trao đổi cho nhau một_điều_gì_có_nghĩa thì chúng ta giao tiếp thật nản. Và từ đó nhìn sang Silent Party thì điều đó rất rõ nghĩa.
Giống như khi triết học ngôn ngữ phân biệt diễn ngôn với lời nó ở chỗ nó trao đổi luận cứ chứ không chỉ thông tin. Đó là 1 phía của sự triệt để của lời.
Ở phía ngược lại, hãy tham khảo cuốn "Thiền trong nghệ thuật bắn cung" - nó mô tả tinh vi lĩnh vực những phạm trù, mệnh đề bất khả quy giản mà qua đó nó phải dựa vào những thứ tri thức sống, tri thức làm (Lyotard) như là nghệ thuật...những thực hành có tính đào luyện.
Con người cá nhân luận sẽ được vượt qua để thành chủ thể có đào luyện.

Hay quan sát một buổi offline, hay gặp bạn cũ chẳng hạn: chúng ta ko nói chuyện thực sự, chúng ta tìm những thứ tầm tầm (cái này rất hay để khai triển), tức là kiểu thăm dò nhau, tránh xung đột - nhưng vì sao? Là để duy trì kết nối thực tế của những chủ thể có thân xác. Có lẽ ngôn ngữ hình thể của chúng ta cũng đã có cuộc trao đổi nào đó.
Nếu ghi âm lại một cuộc tám chuyện bạn bè, sẽ nhận ra rất rõ họ có trao đổi không? Hầu hết là những khuôn mẫu. Và nếu nhìn từ góc độ tín hiệu học thì may ra: họ trao đổi những tín hiệu văn hóa nhất định, nhưng không chủ ý.
Do vậy, Silent Party mở ra một thách thức trải nghiệm hay để mở đầu. Tôi có đọc ở đâu đó về phép tu của Mật Tông (Kim Cang Thừa): họ có lần bịt mắt 3 tháng và có lần bịt tai 3 tháng để đào sâu trải nghiệm...

Tất nhiên ta hiểu rằng cũng như khi McLuhan coi phương tiện truyền thông nối dài khả năng tri giác của con người, ở đây là chuyện tắt bớt tri giác đi, ta sẽ thấy sự phiến diện của nhận thức và vai trò của cái Tâm nhận thức siêu hình. Tức là vẫn phải từ cái ý thức chủ định của chủ thể trước đã rồi những khả thể mới đến. Phép tu phải có hậu cảnh tín niệm, một event phải có 1 hậu cảnh lý thuyết nhất định thì cuộc chơi trình diễn tập thể (ko phân định nghệ sỹ - khán giả) mới có cơ hội trở thành 1 cái gì đó. Nhưng từ góc độ một trò chơi, miễn ngay từ đầu đã có một ấn tượng trực thời gây shock thì đã rất sáng tạo.

Các dự án trên Fb dựa căn bản vào tính lây truyền mạnh mẽ của nó qua các chủ thể (ảo). Nó cho ta 2 khả năng: hoặc bị lôi cuốn, biến mất, đánh mất mình trong khả năng phản tư (giữ khoảng cách với chính mình) do đó là nạn nhân của hiệu ứng PR. Nhìn từ góc độ này thì nó không có gì mới để đáng nói cả.
Trong góc độ thứ 2, tính lây lan của Fb tuy vậy vẫn không làm mất cái chủ quyền chủ thể có căn tính. Theo góc độ này thì quả thực mạng xã hội giúp ta thêm 1 không gian công để tụ hội và trao_đổi hay kết_nối. Điều này cần pha trộn với kết nối thực nữa.
Ta tìm kiếm dễ hơn và ta có thể phán đoán giá trị, nhưng ta cần kiểm nghiệm thực tế. Sau đó đánh giá chúng và không gian mạng lại giúp ta nối dài các trao đổi, và do vậy nó chuyên sâu hơn.
Thực tế các buổi sự kiện tôi tham dự gần đây cho thấy rất rõ sự khác biệt giữa hoàn cảnh nói lý tưởng và hoàn cảnh nói thực tế.
Nó bất cân xứng, do vậy việc tổ chức các dự án dựa vào mạng xã hội có ưu điểm đầu tiên là nó mở rộng công bằng, chủ động của các bên.
------------
(từ một trao đổi ngắn online về mạng xã hội với anh Gauxx)

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

C(q)uốc lủi tại dân gian


Một ngôn ngữ của cộng đồng

Khi đến một vùng đất lạ, nếu muốn tỏ ra thân thiện thì có thể nói chuyện với những người mới gặp lần đầu về một loại rượu ngon nổi tiếng của địa phương ấy. Nếu anh có thể kể ra cái quán đó, chỗ đó uống rượu hay lắm, hợp lắm thì sẽ gây ấn tượng rất tốt. Nhưng anh còn thuộc những lề lối của dân nhậu nơi ấy, như là uống xong phải bắt tay ở Tây Bắc, xoay tua ở miền Tây...thì anh hầu như sẽ được coi trọng trong lần sơ giao.

"Vô tửu bất thành lễ", hành vi xã giao phổ biến này ngầm biểu thị rằng anh thừa nhận, anh biết và đã từng tham dự vào những nghi thức giao tiếp của một cộng đồng ở trung tâm căn tính của nó. Và thứ rượu nấu trong dân có gắn tên riêng kia là một ký hiệu quan trọng để nhận thấy, mở ra những tương tác giao tình song phương.

Rượu quê mà có tên riêng nổi danh trên toàn quốc thì cũng không phải là nhiều, người lịch duyệt bình thường có thể kể được chừng trên dưới chục cái tên khác nhau là đã khá lắm - thường là gắn với các địa danh, các tên làng tên đất, những làng Vân, Bàu Đá, Gò Đen... Nhưng bộ căn cước của rượu quê còn có rất nhiều cấp độ, gắn đến từng chòm xóm, những cộng đồng nhỏ, nơi mọi người đều biết nhau và cùng đồng ý rượu nhà ông A hay bà B là ngon nhất! Thường thì trong làng xóm sẽ có một vài nhà tự nấu rượu và cung cấp cho một phạm vi hẹp bà con lối xóm. Một kiểu nghề thủ công lúc nông nhàn, nếu ai muốn mua nhiều thì phải đặt trước, thậm chí là mang đúng loại gạo nếp ngon mình muốn nấu đến đặt cũng được. Những loại rượu quê tự nấu này có một thị trường nhỏ, khu biệt trong một cộng đồng nơi mọi người đều quen biết, có mối liên hệ qua lại với nhau. Rượu không đơn giản chỉ là một loại thức uống mà hiển nhiên trong những tập tục, lễ tiết, gắn với mọi nhịp điệu đời sống văn hóa cộng đồng nông thôn những tiết lễ giỗ chạp, "đám cưới, đám ma, tân gia, nhập trạch".

Người ta uống rượu quê tự nấu không hẳn vì nó rẻ. Lý do hay được nêu ra nhất đấy là vì nguồn gốc có tính chất tự nhiên của nó khác với rượu nhà máy hạng trung bình khác "sốc", "nặng", "gắt", "hóa chất". Và để đối chứng thì còn thêm lý do "rượu này là rượu nếp nhà ông A nấu đấy!". Trong một lĩnh vực sản xuất mà chất lượng của sản phẩm phụ thuộc hoàn toàn vào bí quyết thứ men gia truyền, kinh nghiệm của người làm và cả nguyên vật liệu quan trọng là nguồn nước được sử dụng thì một lần nữa, cái tiêu chuẩn biết được, tin được, đã được chiết xuất từ văn hóa cộng đồng tiền đô thị hóa rồi ngưng tụ trong tập quán uống rượu nhà quê. Cái chất cảm "trong vắt", "sủi tăm", "sánh", "êm", "đượm"...của rượu nấu biểu đạt tính tinh chất, nguồn cội từ trung tâm cái căn tính quan trọng nhất của làng quê: men, gạo (của đất) và nước nguồn thông qua sự trung giới của lửa và bởi năng lực của người làng mình.

Cùng nhau uống một chén rượu cũng tức là chuyển những tín hiệu xã giao sang bình diện cốt lõi, thực chứng bằng cảm nghiệm thân thể và từ đó Lời được thốt ra theo một kiểu xuất tiết ít chủ tâm(*) từ một trung tâm sâu thẳm hơn, thành thực hơn (trong quan niệm của đại chúng). "Rượu vào lời ra", những lời nói trong cuộc rượu phần nhiều là những khuôn mẫu có tính chất tiên kiến cá nhân - để nói ra, biểu thị ra hơn là để nghe. Nhìn từ ngoài, nó giống như một nghi thức kiểu nhập đồng mà ở đó các thành viên cùng hòa vào một nhịp chung ở một bình diện khác có tính chất cộng thông hơn là những trao đổi thông tin.


Giữa đám đông cô đơn và dưới ánh sáng của tiêu dùng

Rượu nhà quê có một lối lên thành phố, thâm nhập vào thành phố theo kiểu li hương: nó được mang theo hay được trao tặng, gửi gắm như một thứ quà quê cho những người con của gia tộc, quê xứ nơi thành thị. Đến chơi nhà một ai đó, khi gia chủ tự tay rót cốc rượu được giới thiệu là rượu ngon ở quê mình thì chính là cái hình ảnh biểu trưng sống động của một dòng chảy từ nguồn cội văn hóa đã liền lạc liên lỉ trong cả không gian lẫn thời gian đời người. Những quán "rượu dân tộc" cũng là một hình ảnh nối dài của con đường li hương này. Nhưng trong xã hội đô thị hiện đại, nó sớm lẫn lộn trong trạng thái bị nhại, bị phóng đại và đáng ngờ. Cộng đồng luôn là một khái niệm không quá rộng rãi về không gian.

Nhưng rượu quê còn có một đời sống tha hương khác, tiêu điều hơn, xơ xác, lạc lõng và lạt lẽo trong đô thị. Đó là thứ rượu không nhãn mác, vô danh, rẻ tiền len lỏi khắp các quán ăn, quán nhậu bình dân ở thành phố, chủ yếu ở vùng ngoại vi. Loại rượu này không được thị dân trung lưu ưa chuộng, ít đáng tin bằng rượu Vodka nhà máy. Nó không còn thuộc về một cộng đồng có căn cước nào cả, nhạt nhẽo và rẻ tiền đích thực trong xã hội đô thị của những cá nhân lạc lõng, những thành phần phi căn tính. Bị coi thường, bị làm giả từ chính những hóa chất công nghiệp, gây hại và là nguy cơ tiềm ẩn phải chấp nhận khi không được lựa chọn. Và từ bị nghi ngờ và coi thường đến bị cấm đoán chỉ còn là vấn đề thời điểm. Điều mỉa mai là ở chỗ thứ rượu hạ đẳng này được so sánh với chính những dòng rượu công nghiệp đại chúng khác - những thức uống "sốc", "nặng", "gắt", "hóa chất"...bây giờ dẫu sao còn có một căn cước tối thiểu để đặt lòng tin cho con người đô thị.


Lủi tại dân gian

Cùng với tiến trình đô thị hóa là quá trình phân rã của xã hội truyền thống mang tính cộng đồng chuyển sang xã hội tiêu thụ đại chúng. Có lẽ thứ rượu nhà quê tự nấu, cái biểu đạt cho văn hóa cộng đồng nhỏ thân quen lẫn nhau với nhịp điệu đời sống chậm rãi, bình ổn sẽ khó lòng mà minh định được là còn chiếm bao nhiêu trong con số 90% lượng rượu nấu thủ công của 350 triệu lít rượu được người Việt tiêu dùng mỗi năm (**). Việc kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn là trách nhiệm của chính quyền. Tự bản thân những cơ sở sản xuất thủ công lớn, sản xuất kinh doanh đại trà cũng phải nhận thức được việc đăng kiểm nhãn hàng của mình - nó đã đặt bước chân đầu tiên vào trình độ đô thị hóa rồi. Nhưng còn thứ rượu nấu của nhà quê, thứ "cao gạo" trong vắt, sủi tăm và sóng sánh, cốt cách nguồn cội của cộng đồng làng quê thì sẽ phải ứng xử ra sao? Rượu đã được cất hàng nghìn năm trong những làng xóm. Rượu cũng đã bị cấm ngặt nhiều lần. Nhưng nếu "văn hóa là cái còn lại" thì với tư cách là cái biểu đạt của văn hóa cộng đồng dân gian, có lẽ lại một lần nữa, rượu nhà quê sẽ chẳng mất đi đâu cả - Nó chỉ lủi tại dân gian như nó đã từng là như thế.
-----------------


(*) - Bắt chiếc chữ của R.Barthes, Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, nxb Tri Thức. Cũng phải nhận rằng bài viết này lấy cảm hứng và chịu ảnh hưởng từ bài viết về rượu vang của ổng ^^ (Về ý uống rượu hay nói thật tôi cho là không phải: rượu chỉ làm người ta nói ra những điều bình thường không nói. Điều đó vẫn khác với nói Thật).

(**) - http://vi.wikipedia.org/wiki/R%C6%B0%E1%BB%A3u_tr%E1%BA%AFng#cite_note-docbao-9

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland.2

a.
Chương 6, Nhận thức, sáng tạo, thấu tỏ

- Nghệ thuật truyền thông: nó có thể truyền thông cảm xúc và sự xúc động, hoặc tư duy và ý tưởng. (248)

- Diễn giải đóng vai trò quan trọng bởi nó tường giải việc nghệ thuật làm thế bằng cách nào. Nghệ thuật có được ý nghĩa phần nào từ chính văn cảnh của nó. (248)

- Dẫu không một diễn giải nào là "đúng" theo nghĩa tuyệt đối, dường như có một số diễn giải nghệ thuật tốt hơn những cái khác. (250)

- Các diễn giải tốt nhất luôn tập trung vào cả phong cách mô dạng lẫn nội dung tác phẩm (của Bacon). (255)

* Lý thuyết biểu lộ:
- Nghệ thuật biểu lộ và truyền thông sự xúc động tới công chúng.
- Tuy nhiên nỗi xúc động không cố định trong nghệ sỹ - "tính biểu lộ nằm trong tác phẩm"
- Vả lại nghệ thuật có thể biểu lộ, truyền tải các ý tưởng cũng như cảm xúc
                    -> Mở rộng định nghĩa cảm xúc
                    -> Mối quan hệ với chính mình trong sáng tác của nghệ sỹ (xem thêm Bohm về sự thông đạt - On dialogue)

*Lý thuyết nhận thức: thuyết dụng hành
- John Dewey: (i) tri thức sử dụng (knowledge how), (ii) tri thức cảm xúc (emotional knowledge).
- Nghệ thuật là công cụ - tạo khả năng nắm bắt thực tại - phong phú tri giác - truyền thông những thứ bất khả quy giản thành mệnh đề.

- Nelson Goodman: Các ngôn ngữ nghệ thuật (Languages of Art) - chịu ảnh hưởng từ ngành tâm lý học tri giác (perceptual psychology).


Chương 7, Số hóa và sự truyền bá

[Mở rộng khả năng tri giác và thay đổi có tính cách điều kiện, sự phản tư]

- Walter Benjamin: anh hoa (aura) bị uế tạp - quyền năng tôn giáo/sự duy nhất.
                       + Điện ảnh nới rộng khả năng tri giác.

- Marshall McLuhan: "phương tiện truyền thông chính là thông điệp"
                       + Truyền hình: khuyến khích kiểu tư duy phi tuyến tính và theo lối tranh khảm.
                       + nhấn mạnh xúc giác/thính giác/biểu lộ nét mặt.

- Bill Viola: [phản đối ý kiến truyền thông mở rộng khả năng tri giác] nghệ sỹ phải làm việc trước đã, rồi mới đạt tới sự tri giác nâng cao.

- Jean Baudrillard: công chúng không chỉ lơ đãng mà biến mất (trước màn hình vi tính, trong những đường hầm).
                        + Hiện thực phì đại (thậm phồn?): hyperreal
                        + Bản đội lốt (simulution): đám cưới trong những cảnh quay phim...

* Không gian số: 2 lựa chọn
- Sự vắng rỗng, cái ác vô hình/sự tự quyến dụ trước đám đông thông qua bản đội lốt...
- (hay) nơi chốn cho kết nối cộng đồng cũng như sự khám phá cảm giác - đem lại ích lợi, trí tuệ, sáng tạo...

*Kết luận:
- Richard Anderson: "nghệ thuật là ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa, được mã hóa khéo léo trong một chất liệu gợi cảm và gây xúc động"

- Robert Irwin: "nghệ thuật là một khảo sát liên tiếp vào nhận thức tri giác của chúng ta và là một nới rộng liên tiếp cho nhận thức của chúng ta về thế giới xung quanh"

[Xem thêm]
- Diawa Raffman: Ngôn ngữ, âm nhạc, và trí tuệ (Language, Music, and Mind)


b.
Ở phần trước tôi thử cố gắng viết theo kiểu tóm tắt điểm sách có mạch lạc. Nhưng trong mạch lạc có cái gì đó bị thất thoát. Nên ở phần này tôi xếp bên cạnh một dạng bản chép tay (carnets) - để_ngắm_nghía. Vừa hay ngẫu nhiên đọc lại ghi chép "Bên cạnh đúng-sai" ngày trước thấy có nhiều điểm thú vị để suy nghĩ thêm. Nhét thêm một đống labels để lấy từ khóa tìm sách đọc ^^