Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

carnet - về đọc sách

Làm sao để trẻ ham đọc sách, có thói quen đọc sách? Nhân mình được bạn hỏi đến vài lần. Không chắc lắm nhưng mình nghĩ đến những điều này đầu tiên:
- Đầu tiên đừng quá kỳ vọng vào việc đọc sách mà không suy nghĩ cặn kẽ về chủ đề này. Người ta nói quá nhiều về sách vở nhưng đó là một biểu tượng mà họ hướng tới - nhiều khi khô cằn, sáo rỗng - hơn là những trải nghiệm đáng giá cần chia sẻ.
- Nhìn nhận việc hình thành thói quen đọc sách như là một trong các phương pháp đa dạng, linh hoạt để tự học, suy tư và bộc lộ, biểu hiện bản thân trong đời sống. Học cách dùng từ điển, học cách bắt chước diễn đạt, làm giàu các tưởng tượng. Nuôi dưỡng những cuộc phiêu lưu tinh thần. Hình thành dần một gu về lối sống, một thiên hướng đạo đức...
- Trẻ thích cái gì thì tạo điều kiện cho nó tự tìm hiểu, để tự mình có được quan điểm và kiến thức cần thiết mà lựa chọn.
- Cuối cùng thì nên coi trọng tính hên xui vì đứa trẻ là một cá nhân độc lập. Mình sống đời mình cho vui, cho hay, truyền cảm hứng cho nó là vừa đẹp.

Bài trên fb lưu lại đây để nhớ. Mình có thói quen vừa viết vừa nghĩ. Chỉ lúc viết kiểu blog mới có động lực sắp xếp ý tưởng nên nhiều lộn xộn. Đôi lúc nói cho xong một mạch, một phía, chứ không cố kết đến cùng.

Còm của a NNH:
- Về bản chất, đọc sách là 1 dạng suy tư. Song sự suy tư này có tính chất thoái ẩn khỏi thế giới, giống như khi làm thơ hay làm nghệ thuật. Có nghĩa là nó không tạo ra tri thức thực tế mà tạo ra năng lực phán đoán thẩm mỹ (đẹp xấu hay dở) và đạo đức (đúng sai) về chiều sâu--tức năng lực theo Heidegger, -gặp gỡ với Tồn tại. Hiện nay nhiều nhà xuất bản hoặc cha mẹ hiểu sai việc đọc sách-cho rằng đọc sách là để thu nhận tri thức đời sống trực tiếp theo mẫu ăn ngô ị ra phân vàng ăn cơm ị ra phân trắng, từ đó xuất bản sách hoặc mua sách về cho con cái theo tinh thần này. Đây là nguyên nhân chính làm trẻ chán đọc sách. Tệ hơn. Làm sự đọc sách bị băng hoại.

Stt: Suy tư/Đọc sách là gì (fb a NNH)


1.Vì mải suy tư, ngửa mặt lên giời, ông già Hy lạp tên là Thales đã ngã lộn cổ xuống giếng-làm nên tràng cười cho bà con cô bác đang đứng xung quanh đó. Nhưng có thật là ông này đáng cười không? Hay chính những kẻ đang cười khoái trá trước cú ngã lộn cổ của ông mới đáng cười? Điều này còn tuỳ vào quan điểm.
2.Suy tư là gì? Heidegger từng bảo "suy tư xét như một việc làm bằng tay"-có nghĩa rằng, suy tư, ở đây, được hiểu như một tiến trình dò dẫm tìm đường trong sương mù mờ ảo, chứ không phải là tiến trình khái niệm hoá-cắt nghĩa minh bạch. Ông bảo
Không giống khoa học, suy tư không mang lại tri thức
Suy tư không sản xuất ra các kiến thức thực dụng
Suy tư không giải quyết các nan đề của vũ trụ
Suy tư không ban tặng trực tiếp cho chúng ta năng lực hành động
3. Sao lại thế, và vì sao lại thế?
Đơn giản thôi-đó là vì, suy tư ở đây, y như nặn tượng, vẽ tranh hay đặc biệt làm thơ-là năng lực riêng có của loài người giúp họ đến gần với Tồn tại để tìm ý nghĩa cho sự hiện hữu. Có nghĩa rằng, suy tư là năng lực đặc biệt của hữu thể người khiến họ có thể phân biệt đúng sai, đẹp xấu, linh thiêng, phàm tục, nhục, vinh, vân vân. Suy tư là khả năng khiến con người trở nên một tâm hồn-theo nghĩa có năng lực phán đoán thẩm mỹ và đạo đức. Nói nôm na, suy tư giúp ta biết cuốn sách hay bộ phim nào đó là hay là dở, chứ không phải chỉ giúp ta hiểu cốt truyện của chúng. Suy tư giúp ta biết ai là tốt ai là xấu chứ không cho ta biết nên đứng về phía ai sẽ có lợi hơn
4. Suy tư, y như cách hiểu của Socrates, Plato, Đức Phật, Aristotle, Kant...đều là sự thoái ẩn khỏi thế giới thực dụng. Xenophon từng kể là Socrates, khi còn ở trong trại lính, đã có lúc, đang tập hành quân ngon trớn, bỗng đứng im bất động suy tư suốt 24 giờ.
5. Nhưng sự thoái ẩn này không phải là sự quy ẩn-theo nghĩa chìm trong cô độc bất động. Con người suy tư là con người hành động-bởi, xét như là một hành động (Hannah Adrent cho rằng suy tư đã chính là hành động chính trị)-khi suy tư- kẻ suy tư không cô độc vì vào lúc suy tư-hắn ta đang đối thoại, tức là vào lúc đó, trong hắn có hai người. Suy tư chính là hiện thể của tình trạng nhị tồn trong một tồn tại. Nó trái với cô đơn, vì cô đơn là sự quy ẩn biến bản thân thành nhất phiến.
6. Như vậy là, suy tư, vừa không phải là sự sản xuất ra tri thức thực hành, nhưng vẫn là hành động.
Như vậy là, suy tư, dù luôn là một sự thoái ẩn, lại không phải là sự quy ẩn-vì thoái ẩn thuộc về thể điệu tồn tại, còn quy ẩn, chính là ngưng tồn tại.
Thể điệu tồn tại của thoái ẩn, đó là sự tiến gần tới Tồn tại để hiểu ra ý nghĩa của hiện hữu, để sau đó trở nên minh bạch và nhạy bén về tốt dở đẹp xấu linh thiêng phàm tục-tức là, để sau đó sẽ nhận chân chính mình trong tồn tại
Thậm chí, như Nietzsche từng bảo
"Suy tư của chúng ta phải toả mùi hương nồng sực/ như cánh đồng lúa mì trong một đêm hè hừng hực"
7. Suy tư ở đây-không cần phải nói, chính là mô hình có tính mẫu thức của việc đọc. Rõ ràng là, người ta đọc sách nào có phải để tìm ra các chi tiết thực dụng, hay các kiến thức chết từ ngàn năm để sử dụng trong hiện tại? Dù không bác bỏ phần nào cách tiếp cận đó, kẻ hèn này cho rằng, cách tiếp cận ấy phải bị hạ xuống thứ yếu . Đọc sách cũng như suy tư, chính là năng lực đặc biệt của con người-giúp hắn tiến gần hơn tới Tồn tại, có nghĩa rằng, giúp hắn hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời hắn. Đọc sách, chính vì thế, là một hình thức thoái ẩn, y như suy tư vậy. Đọc sách, chính vì thế, cũng như suy tư, không phải là một dạng hành vi thực dụng-mà là một thứ đức hạnh. Thành thử, cũng như suy tư, đọc sách tiềm ẩn các niềm vui đặc biệt lớn lao mà không một sự đắc thắng kiểu thực dụng nào có thể so được: Đó là niềm vui của sự vỡ lẽ, của sự đốn ngộ. Ví dụ: Jean Beaufret, một người Pháp hâm mộ Heidegger, và cũng là bạn của Heidegger, từng kể, vào đúng D-day, mùng 6 tháng 6, 1944, -khi quân đồng minh đổ bộ vào Normandy, ông giở sách của Heidegger ra đọc lại, và bỗng, lần đầu tiên, thấy mình hiểu được toàn bộ Heidegger. Ông bảo, niềm vui hiểu được Heidegger này của ông lớn tới mức, vào lúc đó, ông hoàn toàn không hề quan tâm gì tới việc nước Pháp quê hương ông vừa được giải phóng
8. À status này viết ra vì kẻ hèn này có đọc một status khác nói về việc làm sao khiến trẻ đọc sách. Như bà con cô bác thấy đó. Đơn giản thôi. Hãy hiều đúng về sách, về suy tư. Và rồi mọi chuyện sẽ tự đúng theo. Khi nào thấy ai ngã xuống giếng, mà ta tự thấy ta mới là kẻ đáng cười-thì khi đó, mọi chuyện sẽ tự động ổn. Còn trước khi đó, có bỏ tiền tỉ mua sách thì chỉ cũng chỉ giúp các ông chủ nhà xuất bản mua xe vinafst mà thôi






Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2018

10.3.2018

Lần đầu xem trọn "Vua hài kịch". Một bộ phim về tuổi trẻ. Tự nhiên bật ra câu hỏi nếu những phim của Châu Tinh Trì không có kết dạng happy ending thì tổng thể bộ phim sẽ thành ra như thế nào?

Vẫn đọc "Đế Bá" dù càng ngày nó càng dở như hạch. Vì nó có cái tứ về sơ tâm chạm đến cái day dứt của tuổi trẻ. Chúng ta theo đuổi sự mạnh mẽ nhưng khi mạnh mẽ chỉ vì mạnh mẽ thì sẽ thất lạc mất sơ tâm của chính mình. Rồi một ngày ta liệu còn dám tự hỏi sơ tâm của mình là gì. Mình còn những gì mình từng khát vọng không?

Có những bài hát rồi mình sẽ không nghe được nữa. Tuổi trẻ hầu như chỉ có bạn bè làm vốn liếng nhưng tuổi trẻ luôn thấy cô đơn một cách mơ hồ. Tuổi trẻ đi qua là lúc ta thấy cô độc một cách cụ thể dù ta có thể có nhiều hơn tuổi trẻ rất nhiều. Ta còn theo đuổi điều khiến ta là nữa không. Hay ta chỉ có cái này cái kia.


Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018

Xã hội diễn cảnh

"60.
Diễn viên ngôi sao (vedette) thể hiện con người sống động thông qua diễn cảnh; khi tập trung nơi mình hình ảnh của một vai trò nào đó, diễn viên ngôi sao thể hiện điều tầm thường vừa nói. Thân phận ngôi sao là sự chuyên môn hóa cái có vẻ như được trải nghiệm (le vécu apparent), đối tượng của sự đồng nhất hóa với cuộc sống bề ngoài và không có chiều sâu; cuộc sống đó phải bù cho sự chia nhỏ các chuyên môn hóa thực sự được trải nghiệm trong sản xuất. Sở dĩ các ngôi sao tồn tại là để thể hiện nhiều loại phong cách sống và phong cách hiểu xã hội, nhờ được tự do hoạt động một cách toàn bộ. Họ là hiện thân của kết quả không thể đạt tới được của lao động xã hội, bằng cách nhại những phụ phẩm (sous-produit) của sự lao động đó; các phụ phẩm này được chuyển, như bằng ma thuật, lên bên trên lao động xã hội như là mục đích của nó: quyền lực và nghỉ dưỡng (vacances), quyết định và tiêu dùng, những điều đó đều nằm ở điểm bắt đầu và điểm kết thúc của một tiến trình không được bàn cãi. Ở nơi kia, đó là quyền lực chính phủ tự nhân cách hóa thành ngôi sao giả (pseudo-vedette); ở nơi này, đó là ngôi sao của sự tiêu dùng bắt mọi người phải ủng hộ mình với tư cách là quyền lực giả (pseudo-pouvoir) trên cái được trải nghiệm (le vécu). Nhưng, các sinh hoạt này của các ngôi sao không thực sự có tính toàn bộ và cũng không đa dạng.".

Guy Debord, Xã hội diễn cảnh.

- Trích một đoạn có vẻ dễ hiểu. Từ các góc độ khác nhau - nhất là góc độ thế giới của thị giác và biểu tượng, Roland Bathes (cả Erich Fromm) đều từng phê phán triệt để xã hội và con người đương đại. Nhưng nếu phải mô tả một hình mẫu mới - chí ít của con người cá nhân mới - thì còn quá nhạt nhòa. Con người nghệ sỹ lý tưởng của E.F quá sơ lược. Nói chung lại quay lại với mệnh đề tự phê phán triệt sẽ quyết định đường hướng cá nhân cho mỗi cá thể.

- Không phải ngẫu nhiên mà Thiền học lại trở lên hấp dẫn trong giai đoạn đó ở xã hội phương Tây. Về hình thức, nó phủ nhận các hình thức cụ thể và hứa hẹn sự tái hòa nhập với hoàn cảnh cụ thể của mỗi thân phận - núi lại là núi.

- Có 1 sơ đồ, đúng hơn là vài từ khóa lặp lại: diễn cảnh, trải nghiệm, quyền lực, nghỉ dưỡng, tính toàn bộ, đa dạng (tính)...

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

ta tưởng tượng từ một tương lai nào đó nhìn về hiện tại

mắt ngày xưa trong sáng
ngậm đa tình dấu duyên
một cười như chờ đợi
hai nỗi buồn tan vơi

bàn tay xưa đếm tháng
bàn tay giờ kể năm
một bên trời mưa hạ
một bên trời phiêu phong

mưa giông giấu lũ trong lòng
gió reo góp gió ru dòng lũ xa...

mắt ngày xưa trong sáng
ngậm đa tình dấu duyên

Khi chúng ta còn đôi mươi, ta tưởng tượng từ một tương lai nào đó nhìn về hiện tại. Khi chúng ta đi qua hầu hết những tháng năm tuổi trẻ, ta tưởng tượng về một ký ức hầu như không có thật. Ký ức hầu hết là tự huyễn. Không hề đáng tin.

Buổi sáng, ngồi một mình trong vườn trường cũ, chỉ một thoáng rất hiếm hoi tôi nhận thấy chút mềm lòng. Điều mỉa mai là từ khi nhận ra tình thế cuộc đời mình, tuyệt đối chưa bao giờ tôi có nhu cầu lưu luyến gì với quá khứ hay tương lai. Điều đó đã giúp tôi đứng vững nhiều năm. Nhưng cũng nhiều năm tôi lờ mờ cay đắng nhận ra sao mà mình lại cứng lòng đến thế.

Việc tổ chức một buổi hội khóa sao cho khỏi vô vị - ở đời nhiều việc biết là vô vị mà vẫn phải ở đó với nó, thành ra là một việc chế tạo ý nghĩa. Nó sử dụng thuần túy các chất liệu của hiện tại nhưng vẽ ra một cảnh tượng hồi cố giả tạo - kiểu tranh bờ hồ. Tất nhiên vẫn có thể dẫn dụ mọi chuyện thoát khỏi tình trạng khánh kiệt tư tưởng này. Nhưng lựa chọn đi với đám đông là lựa chọn chấp nhận thủ đoạn. Và chỉ có thể biện minh bằng kết quả.

Sau cùng, câu chuyện quay về vấn đề nguồn lực của mỗi cá nhân. Cuộc đời này mình có bao nhiêu mà đánh đổi được quá nhiều đến thế. Ngoài ba mươi là anh đã phải lựa chọn. Anh chợt nhận ra quả tình anh có thể làm bất cứ điều gì nhưng anh sẽ không thể làm tất cả mọi thứ. Anh phải lựa chọn, và chấp nhận hệ quả từ hành động lựa chọn này. Anh được chủ động trong hành vi lựa chọn của mình.

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

về một cuốn sách

- Khi chúng ta viết, hầu như là một quá trình dần dần định hình. Trước đó không hẳn nó - cái được viết ra - là như thế. Còn sau đó thì sao?

Cũng vậy, đừng hy vọng gì vào một sự "hiểu". Đấy là một ảo tưởng. Qua sự đọc, chúng ta mở rộng giới hạn bản ngã của chúng ta - hay đúng hơn là chúng ta trải qua sự trở thành cái gì đó khác đi. Chúng ta viết và chúng ta thay đổi. Chúng ta đọc, chúng ta cũng thay đổi.

- Nhìn chính là một hành vi lựa chọn (J.Berger, từ giờ sẽ in nghiêng). Cái tôi thấy là cái mà tôi bị quy định.

- Sự hiện diện của một phụ nữ luôn thể hiện thái độ của cô ta với bản thân (có tính nội chiếu), và cho thấy mong muốn của cô ta về việc người khác nên đối xử với cô ta thế nào...

- Một phụ nữ sẽ luôn phải hình dung về bản thân, cô ta sống mà luôn phải ý thức về hình ảnh của chính mình.

- Và như thế, cô tiến đến việc coi kẻ quan sát và kẻ bị quan sát tồn tại trong chính bản thân cô như thể hai yếu tố, tuy luôn trái nghịch về chức năng, song lại cùng nhau cấu thiết nên căn tính phụ nữ của cô.

- Chạy đi chạy lại (có ý thức về điều đó hoặc không) giữa hai vai nhưng cùng trong một mối bận tâm thiết thân: mình phải được trông thấy như thế nào?

Tài sản của cô là một vẻ đẹp. Nhiều người nói thế. Cô biết thế. Và cũng biết thế là không đủ. Nhưng mỗi khi tự nhìn nhận mình, cô chỉ thấy riêng điều đó có vẻ chắc chắn. Mọi thứ khác cô không rõ ràng nó là gì, và chúng thường thách thức sự bình an của cô.

- Viết ra là để an cái tâm của mình. Một sự thanh tẩy nhờ nỗ lực thăng hoa qua việc nghệ thuật hóa những mẩu vụn hiện sinh của mình. "Bình an" là vấn đề cảm giác. Khía cạnh chủ yếu được trình bày ra cũng là về phương diện cảm giác. Cái tên là những tính từ của cảm giác.

- Một trật tự của các mảnh ghép. Tuy được cấu tứ lại nhất định cho hợp với hình thức của một tập truyện ngắn, nó có logic trật tự thời gian rất rõ của hành trình trưởng thành của một cô gái. Cô gái ấy (tôi thấy) với mối bận tâm thường trực của mình, xoay xở bời các tình thế nhân sinh - theo hầu như cùng một lối: thấy và bị thấy.

- Khung cảnh chỉ là cái giá treo mối bận tâm. Khung cảnh luôn là các mã-văn hóa khá điển hình. Điển hình của sự đã từng độc đáo (và đã bị bỏ qua).

- Không những thế, với cô tổn thương là có thực. Nó đã xảy ra dẫu từ trước khi nó cụ thể ra là cái gì thì nó đã có hình hài riêng trong một sự e ngại vô cớ kiểu ấu thời.

- Ngược lại bản thân cô, thân thể cô lại rất cụ thể, thường trực tồn tại trong các mô tả trải nghiệm xúc giác.

- Cô vừa sống vừa tìm kiếm. Mỗi khả năng vừa hiện ra cho cô ướm thử thì lập tức cái con mắt của kẻ quan sát lại viện dẫn ra những khả thể khác một cách mỉa mai. Cô sợ sự mỉa mai - nó gây tổn thương ghê gớm vì nó đối lập triệt để với sự tinh khôi bản nguyên.

Dù không thừa nhận, quả thực phần lớn thời gian cô vô thức đẩy cái đẹp về phía bản chất. Tiếc thay, lý trí thông minh và mỉa mai của cô nó canh chừng điều đó.

- Thoạt đầu, có sự ám tả về trưởng thành. Truyện ngắn đầu tiên có cái tên là một mã kép: một đằng là về thái độ, một đằng là về sự thanh tẩy của trật tự hình thức. Con đường có thể là biểu trưng của sự trưởng thành, cũng có thể là của sự chạy trốn thực tại. May thay thực tại của cô gái ấy càng lúc càng đỡ có tính chất mã-văn hóa hơn. Cô từ từ lớn lên với những liên tưởng, chất vấn và xoay xở của mình. Tìm cách định vị mình trong nội tâm, qua người khác rồi dần dần cô đến được với thế gian của những người khác. Hành trình này ai biết nó thế nào.



Thứ Hai, 30 tháng 1, 2017

Tại sao gặp nhau cứ phải ăn uống một cái gì?

Nghĩ ra thì cũng buồn cười, có lẽ chỉ có một đôi đang yêu nhau hoặc là những đứa bạn đang độ cấp 1, cấp 2 (lũ chưa có tiền riêng để vào cafe) mới có thể vô tư lựa chọn nói chuyện, trao đổi, chia sẻ mà không cần phải ăn một cái gì đó. Tức là hai trạng thái trên nó không cần môi giới xã hội nào khác - nó bỏ qua một số nghi thức xã hội.

Khía cạnh không gian công cộng dành cho xã hội (VN) hiện nay hầu như đi kèm với việc ăn/uống một cái gì đó (ngoại trừ các hoạt động chính trị ra). Thậm chí có thể đi xa hơn: để chứng minh một sự kiện gặp gỡ không phải chính trị, không phải luyến ái thì nhất thiết phải có đặc điểm sau: (a) một không gian công cộng hay bán công cộng và (b) có chỗ ăn uống. Nếu chỉ bán chỗ ngồi thì hơi kỳ - chắc là không biết tính phí thế nào. (Hãy liên hệ đến các core-working space và câu chuyện ấm trà của các nhóm đa cấp. Thực ra còn có thể nghĩ đến các vườn hoa có thu phí kiểu ở ngoài bãi sông Hồng).

Quay lại câu chuyện: nếu không ăn uống mà ngồi nói chuyện với nhau thì tức là câu chuyện đó phải có đủ sức nặng cho sự tụ hợp của (ít nhất) 2 người. Chúng ta có thể có nhu cầu gì để phải gặp gỡ và thảo luận mà không ăn uống? Học nhóm là một ví dụ. Hội chợ nghệ thuật cũng là một ví dụ. Nhưng hội chợ lại có khía cạnh của việc phải mua/bán một cái gì đấy. Tức là không gian cần chi phí và hội nhóm hay cá nhân cũng cần chi phí.

Nhưng rõ ràng là sẽ có thể có những không gian công cộng miễn phí được thiết kế dành cho cộng đồng và ở đây cụ thể là cho nhiều quy mô nhóm cộng đồng khác nhau. Vấn đề là việc quy hoạch có lẽ là thứ đến sau. Các không gian mở sẽ có trước. Các hoạt động xã hội sẽ có trước. Các thiết chế văn hóa sẽ dần hình thành và được củng cố bằng quy định (quy hoạch) (cái Đình) hay bằng văn hóa (các địa điểm).

Các thiết chế bị mất dần vai trò của mình. Hay vì nó bị biến tướng, không giữ được chức năng của nó? Đây sẽ dẫn đến câu hỏi về cấu trúc xã hội hiện nay.

Trở lại từ đầu: vậy là tôi chán ghét sự tụ họp ăn uống vì nó không có nghị sự rõ ràng, lại sa vào thức nghiện ngập phè phỡn của ăn uống vô tội vạ. Tôi cần trao đổi, trò chuyện chứ không phải ăn uống. Vấn đề là anh/bạn có gì để trao đổi hay không. Nếu có, tôi chấp nhận vừa ăn uống vừa tìm hiểu. Nhưng nếu không phải ăn uống thì tốt hơn.

Kể ra còn có các seminar, các phòng họp, thư viện hay không gian mạng thì sao? Không gian mạng đúng ra là không gian lý tưởng cho các nhóm hội thảo luận và đối thoại nhưng sự thực thì lại đáng nản. Tại vì sao? Liệu có gì liên quan đến bản chất giao tiếp của con người hay không? Ví dụ như các vấn đề xã hội cần bối cảnh xã hội, cần các thành viên, cơ chế thảo luận, sự ràng buộc và cam kết đạo đức, sự thông hiểu giữa các cá nhân...Tất nhiên là còn có môi trường kinh viện của học thuật: các hội thảo, tạp chí khoa học...Nhưng học thuật không bao trùm được đời sống xã hội. Ở tầm mức các nhóm xã hội nhỏ như vậy có thể thấy không khí méo mó, bị chèn ép của một xã hội không có tự do lập hội, tự do ngôn luận.

Câu hỏi chính thành ra phụ, chuyện ăn uống ấy mà - tại sao lại cứ phải là ăn uống? Nó là tập quán xã hội từ thời nguyên thủy? Hay vì xã hội Á Đông lễ lạt, chè chén là truyền thống? Cũng có thể đó là phản ánh nhu cầu làm bận rộn tâm trí, làm bận rộn môi miệng - nghiện ngập là mặt trái của mất kết nối xã hội.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

ngôn ngữ của con người không phải lúc nào cũng hoạt động hoàn toàn theo formal logic

"
    Tòa KHÔNG dựa trên [formal] logic khi diễn giải điều này vì theo Tòa, ngôn ngữ của con người, ngay cả của người chuyên viết luật, không phải lúc nào cũng hoạt động HOÀN TOÀN theo formal logic. Tòa còn dựa theo ngữ cảnh, tập tục ngôn ngữ, cách hiểu tự nhiên (natural reading), cách viết đặc thù trong toàn đoạn, và tựu trung là "plausibility". Đây quả là 1 đoạn rất thích thú và cho thấy tầm cỡ của các quan tòa quốc tế vượt xa lối suy nghĩ chuyên môn hẹp của những đầu óc thông thường. Đối với họ, formal logic chỉ là 1 trong nhiều tools để diễn giải ngôn ngữ của con người.

    "495. The Tribunal is conscious, however, that formal logic accords IMPERFECTLY WITH LINGUISTIC USAGE at the best of times, even among legal drafters, and is hesitant to accord decisive weight to logical construction alone. Here, it could well be argued that a NATURAL READING of the phrase would include an IMPLIED second negation, omitted only to reduce the length of an already somewhat cumbersome clause”...
"

(trích 01 comment từ PQT trong 1 stt trên Fb Giang Le)

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

Trùm chăn luận kiếm. Tiếu ngạo giang hồ (c)

1.
Bây giờ khoảng 3 giờ chiều cuối mùa hè. Mùa hè của tôi thôi chứ đúng ra thì phải gọi là đầu thu. Ký ức thường ám nắng mùa này. Bây giờ dựa gió xiêu xiêu/Thoảng xanh nhạt trắng ven chiều bước đi. Tôi đi bộ, đổi 3 quán cafe quen để tìm chỗ thích hợp. Để viết. Cần viết ra, ghi chép lại, mô tả ra vài điều gì đó của những ngày đang trôi.

Cuốn sổ cũ còn sót vài ghi chép phác thảo cho loạt bài về truyện Kim Dung ngày trước phải tìm mãi mới thấy. Càng nên viết nốt ra trước khi cuốn số sẽ thực sự bị phủi bụi, lãng quên trên nóc giá sách theo đúng nghĩa đen. Có thể sẽ không hoàn chỉnh

Nhân mới đọc mấy bài cùng chủ đề trên soi: http://soi.today/?p=216427

2.
Tiếu ngạo giang hồ (c)


6.
Những lần trước là vòng quanh 1 câu hỏi chính "Làm thế nào mà Quỳ Hoa Bảo Điển lại thành võ công vô địch?". Từ đó dò dẫm tìm kiếm xem Kim Dung, theo mạch thủ pháp của mình, đã vẽ mây nẩy trăng, tả ra, củng cố những nét gì cho Quỳ Hoa Bảo Điển thành ra võ công vô địch. Bây giờ thử đi thẳng vào hệ thống của công phu này xem sao.

Theo thứ tự các phiên bản/tàn bản lưu lạc ngoài giang hồ thì có "Tử Hà thần công" - gắn với Nhạc Bất Quần và "Tịch Tà kiếm phổ" - gắn với Lâm Viễn Đồ, sau đó còn có Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi. Theo thứ tự thì THTC là đầu manh mối, sơ khai nhất; sau đó đến TTKP thì gần như chính là QHBĐ được phổ sang kiếm pháp. Vậy ta sẽ xem lần lượt từng chi tiết truyện liên quan để dựng lại các ẩn ý của Kim Dung xem sẽ đi đến đâu.

Tử Hà thần công chỉ là nhập môn công pháp so với QHBĐ mà đã làm cho Nhạc Bất Quần vang danh thiên hạ, nên NBQ ham hố tìm tòi là chuyện đương nhiên. Trong chuyện đại khái mô tả khi vận dụng THTC thì khuôn mặt chuyển sang màu đỏ tía (tử hà là cái ráng trời chiều màu tím), có tác dụng tăng khí lực, bồi bổ nội thương. Nhưng nhìn rộng ra quanh nhân vật Nhạc Bất Quần này thì cũng có những manh mối nhất định. NBQ dùng kiếm, THTC thì hỗ trợ cho kiếm pháp của y. Sau này TTKP cũng là kiếm, dù lúc đánh nhau với Tả Lãnh Thiền thì đã lòi ra ẩn chiêu dùng kim thêu - cái mà sẽ thành vũ khí chính tông của QHBĐ do ĐPBB dùng. Ta sẽ quay lại chủ đề về vũ khí sau đây, nhưng trước đó là cái món THTC này đã.

Trên quan điểm không có chi tiết nào Kim Dung không có dụng ý, tôi bắt đầu xét cái tên của môn công phu "Tử Hà thần công". Nếu nó không có liên hệ gì với mạch QHBĐ thì chắc chúng ta hẳn đều nghĩ tên quái gì chẳng được. Nhưng hãy xem: ít nhất về mặt trường nghĩa thì "Tử Hà" với "Triêu Dương" - ráng chiều tím với nắng sớm mai là một cặp đối ý nghĩa trong truyện - vì giáo chủ của Triêu Dương thần giáo là ĐPBB với môn QHBĐ. Mà bản thân Quỳ hoa - loài hoa hướng dương, hướng về mặt trời - cũng nằm trong phổ biểu tượng này; cùng với Đông Phương - phương của mặt trời. Hay có thể nói từ Tử Hà thần công đã là dấu chỉ cho con đường đi đến Quỳ hoa bảo điển của nhân vật Nhạc Bất Quần rồi. (Sau này có thể mở rộng ra trong Tịch Tà kiếm phổ cũng đã ẩn chứa cái ý Tà Dương, đối lại với Triêu Dương mà có thể ta sẽ xét thêm sau).

Nhưng từ NBQ đến ĐPBB thì có mối liên hệ gì nữa không? Nếu đúng theo nguyên lý nội kết của Kim Dung thì võ công và tính cách, hành động của nhân vật sẽ tương liên với nhau. Ở đây ta thấy ít nhất là ở phương diện hành động cả hai đều vì bản thân mà phản bội, tàn hại đến cả những người thân thiết của mình - bất chấp tất cả. Theo dấu đến điểm mấu chốt này, cộng với cái tính năng gia tăng nội lực, bồi bổ chữa thương của môn công phu này thì ta có thể nhận ra một dấu hiệu, ám chỉ bổ sung để làm cơ sở đặt tên môn công phu: trong đông y, có một phương thuốc gọi là Tử Hà Sa, lấy nhau thai (nhân bào) làm thuốc, có tác dụng chữa trị các chứng nam nữ hư lao tổn. Mặc dù mối liên hệ là mờ nhạt võ đoán đến đâu, riêng tôi vẫn thấy việc NBQ, kẻ luyện Tử Hà thần công, dùng con gái làm mồi nhử trong các âm mưu tranh đoạt - cái hành động ăn thịt con ấy - là hoàn toàn tương đương với cái vị thuốc thịt người Tử Hà Sa kia. Tất nhiên Kim Dung không cần người đọc mở rộng ra đến như vậy khi theo mạch tác phẩm. Nhưng đọc đi đọc lại thì càng thấy thêm ý vị này cũng không tồi.

Tịch Tà Kiếm Phổ được Lâm Chấn Viễn dùng như thế nào thì không được mô tả, nhưng có thể nhận thấy gián tiếp qua Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần sử dụng. Đặc biệt khi NBQ hạ TLT. Có thể hiểu TTKP chỉ còn khác QHBĐ ở vũ khí mà thôi. Về nội công tâm pháp thì đều phải tự cung nếu không sẽ bị hỏa dục tâm công mà chết. Từ môn bồi bổ dưỡng thương đến môn làm tăng khí lực con người đến độ nếu không tự cung (triệt sản, nhưng vẫn không hẳn triệt được dục như trong trường hợp ĐPBB) thì sẽ mất kiểm soát được dục vọng của mình, là con đường tiến triển nhất quán của tâm pháp QHBĐ. Cũng như từ chỗ phản trắc, tàn hại người thân đến tự tàn hại bản thân cũng là một con đường nhất quán trong hành động của những nhân vật chính luyện môn công phu này. (Lâm Viễn Đồ là ngoại lệ để so sánh vì đây không phải nhân vật chính, nhưng chẳng phải sâu xa cũng chính từ môn võ này với những hành động gian dối, phản bội sư môn của LVĐ mà sau 03 đời thì họ Lâm cũng tuyệt tự?). Ở đây cũng phải làm rõ lại là tôi đang quan tâm phân tích đến một khía cạnh trong thủ pháp sáng tác của Kim Dung để thưởng thức chứ không phải có tham vọng đặt ra vài quy luật cứng nhắc để mổ xẻ tác phẩm theo một lối hiểu duy nhất đúng.

Kiếm là vũ khí của hầu hết các nhân vật chính, nó cũng là vũ khí của Tịch Tà Kiếm Phổ. Nói võ công mà không gắn với vũ khí đặc thù thì rất hãn hữu và phi lý, chỉ dành cho một vài trường hợp đặc biệt được mô tả về sau trong trường phái kiếm hiệp. Lúc đó đại khái lấy tâm làm kiếm, cái gì hoa lá cỏ cây đều là vũ khí...Tất nhiên triết lý này không tồi, nhưng trong mạch truyện này của Kim Dung thì không có ý đấy ở đây. Vậy kiếm có ý vị gì trong tương quan với tính cách và hành động nhân vật của Kim Dung?

Kiếm hay được coi là vương giả chi binh ngay trong văn hóa truyền thống Trung Hoa chứ không nói gì đến riêng trong thế giới kiếm hiệp. Có lẽ rất đơn giản vì nó là vũ khí hiệu quả mà lại vừa tay, có thể đeo theo bên người mà không bất tiện, quá khổ, nặng nề như thương, giáo hay đao...cũng không quá nhỏ như các loại vũ khí ám sát khác mà mất tính biểu tượng cũng như thực chiến. Nhưng bất kể vì lý do gì, từ khi đã có tính chất biểu tượng trong văn hóa quyền lực thì trong thế giới kiếm hiệp, hầu hết các võ phái, các nhân vật chính đều dùng kiếm như là võ đạo tối cao, biểu tượng cho chính khí...Thực ra trong thế giới này thì lý luận về sự tiện dụng vẫn đúng, các nhân vật biểu tượng cho cá nhân độc lập, tự do, lang bạt trên giang hồ trong kiếm hiệp, thử tưởng tượng dựng thành phim thì y chỉ có thể mang kiếm mới đỡ chướng mắt bất tiện nhất so với các loại vũ khí khác. Nhất là khi thế giới giang hồ chưa thoát ly hoàn toàn thế giới xã hội cổ trang truyền thống như trong truyện Kim Dung.

Xét kỹ ra, còn có một số điểm đáng phân tích về kiếm, kiếm có kích thước tương đồng với cánh tay con người: gập lại thì dấu sau cánh tay, mở ra thì bằng thêm 1 tầm tay nữa. Trong tâm lý học, không gian 1 tầm tay với là có liên quan đến cảm nhận không gian của con người. Đây là tầm không gian giao tiếp. Hai người đối thoại với nhau thường đứng trong tầm kích thước này. Bằng hữu cũng là trong tầm kích thước không gian này.

(còn tiếp)

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

một buổi trưa trên đời

Trong khoảnh khắc chập chờn của trưa hè, thứ ánh sáng mới lên sau bão lan vào giấc mộng. Lọt qua kiểm duyệt của ý thức, cảm xúc vỡ loang những gì vốn tưởng rất hiển nhiên. Dang dở, bàng hoàng...hay là kiểu gì đó như thể xót xa.

Tất cả đã biến đổi. Triệt để hoang tàn và dang dở. Sau đó chỉ còn là xa lạ. Lối vào vẫn nhỏ, những khu dự án quây rào tôn, cỏ mọc ngang người như ngày xưa. Nhưng cả con ngõ nhỏ giờ đã thành hoang phế. Hầu hết đã bị phá bỏ, dở dang - vết người cư ngụ hãy còn hiển hiện. Một hai người già của những hộ cuối cùng dẫn cháu ngồi chơi vơ vẩn dưới gốc cây trứng cá già. Căn nhà cũ đã bỏ không. Căn nhà mới xây ngoài khu tái định cư cũng khóa cửa bỏ không. Hiểu vô thường là một chuyện, tràn ngập trong cảm thức đó lại là một chiều sâu hoàn toàn khác - không phải ở bình diện này nữa.

Không, tuyệt đối không phải vấn đề cá nhân. Chỉ là nó ở mối tương liên sát sao quá.

Cuộc rượu ngà ngà, Ben lẩm bẩm kể về những thứ tuyệt vời như vợ đây, cô con gái 4 tuổi xinh đẹp đây...hẳn là món quà từ trên kia gửi cho đấy. Nhưng sao tao vẫn luôn có cảm giác cuộc đời nó sao sao ấy. Muốn như nhảy mẹ xuống sông kia mà phó mặc. Có cái gì đó không đúng lắm...

Chuyện của mày ấy mà, tao nghĩ nó là midlife crisis mà thôi. Ngay từ khi còn rất trẻ, tức là gần hai mươi năm trước ấy Ben ạ, bọn tao cũng đã từng rất thường nói chuyện với nhau về những thứ như thế. Nhưng giờ thì vẫn thế, có gì mới mẻ đâu - chúng ta như thể sống ở 2 thế giới. Một rất ổn, và một kia thì như thế ta đã để quên, đánh mất, phản bội cái khỉ gì đó.


Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Về trò chuyện

Trò chuyện chỉ có khả năng trở nên hữu ích khi đó là trò chuyện giữa hai người. Ít nhất với khả năng trò chuyện của tôi thì là như vậy. Nhưng không phải gặp mặt nào cũng là trò chuyện - "mỗi người thăm thẳm một chiêm bao".

Thậm chí hầu như tôi nghi ngờ khả năng thông giao của trò chuyện, ngay cả với những người được coi là thân thiện và biết nhau nhiều nhất. Có điều gì đó từ bản chất của phương thức giao tiếp, nhận thức của con người hơn là vấn đề ý tứ cá nhân. Chúng ta có gì để-nói và một diễn ngôn thì nói được gì?

Hầu hết những suy nghĩ của tôi về chủ đề này nằm tản mạn trong các label như "đọc", "bằng hữu", "đọc lại", "bạn"....Đấy là cách khả dĩ nhất đến nay mà tôi thấy: sắp xếp các mảnh rời và nhìn vào giữa những chệch choạc hay đồng điệu để từ đó gợi ra một tầng phía sau của thông hiểu. Có thể gọi nó là phương thức chỉ hiệu (từ của F.J).

Mỗi lần gặp bạn, tức là những người ít nhất tôi nghĩ chúng tôi sẽ có nhiều khả năng trò_chuyện_về_điều_gì_đó, rốt cuộc tôi thường lựa chọn bắt đầu bằng những điều tầm phào nhất. Hai người dọ dẫm trao đổi, một kiểu khai quang, chuẩn bị cho một đối thoại. Nhưng rồi hầu hết sẽ trượt đi ngoài ý muốn. Điều muốn chia sẻ nhất thường không được nói ra. Và nếu có chạm đến thì cũng thật khó để biết nói thế nào. Chỉ có thể trong một sự chiêm nghiệm, quan sát theo dõi nhau trong thiện chí, tư lường nghiêm mật, tâm tình bao dung thoáng đạt, may ra mới có gì đó để trao đổi. Một loại tương tác giao tình, hành động tương liên.

Nhưng quy chiếu về một đối tượng đặc biệt, một ai đó thân thiết nhất, là một sai lầm. Hành động dạng thông diễn không thể có tính cách sở hữu được. Nó có tiềm năng vô hạn và vô ngã.

Mặt khác, tôi nghĩ không thể nhấc lên khỏi bình diện cá nhân của câu chuyện. Mỗi câu chuyện đều là câu chuyện của ai đó, với một lịch sử riêng. Nên cuộc đời thú vị không thể chỉ là ngồi ngẫm nghĩ lan man, viết tản mạn và mong chờ những ai đó cũng viết cũng đọc được. Vẫn cần những quán cafe, những buổi chiều, những bóng người, những tay bắt mặt cười, những trò chuyện chú tâm. Cho dù rốt cuộc cũng chẳng biết nói gì cho phải.



  

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

trong thân thiện và chia sẻ

nghe quế kể lại, vân cũng mô tả cho bạn ấy rằng vân lại một lần nữa trải qua cảm giác rơi xuống lòng nước khi nhận kết luận về căn bệnh. chỉ có tuấn anh với mình biết bơi một chút mà đến chiếc thuyền thứ hai lật úp rồi cả bọn vẫn không hẳn hoàn toàn biết mình vừa trải qua may mắn như thế nào. khi bạn gọi mình lúc đó, mình chỉ có thể hô lên từ xa với bạn là cứ bình tĩnh. ừ, ở dưới nước mà giữ được bình tĩnh thì khả năng sống sót đã cao hơn rất nhiều. ngày đó chúng mình mới 15, 16, còn nghĩ cuộc đời giống như trò chơi. chúng mình đang lớn, vài năm nữa sẽ lên đại học (hẳn thế) và khám phá thế gian.

bọn mình cả hai đều chuyển trường, chuyển hướng. mình thuần túy đi theo một cảm xúc nhất thời mà thành ra một con đường khác. lá thư đầu tiên mình nhận được, bạn nói để chứng minh rằng tình bạn cùng tổ 3 của chúng ta không phải là thoáng qua. vậy là bắt đầu một tình bạn giản dị, chân thành và thân thiện. mình có nhiều bạn, mỗi tình bạn là một sắc thái khác biệt. mối quan hệ thân tình nhưng đơn sơ của chúng ta trong nhiều năm đã là một vốn liếng xã hội đầu tiên của mình, từ đứa trẻ vị thành niên bước vào cuộc đời. có thể nói, bắt đầu từ bạn, mình trải nghiệm sớm sự rộng lớn đa dạng của không gian nhân sinh. ở đâu đó xa kia, có ai đó là bạn bè của mình, thường thư từ chuyện trò với nhau. thế giới quanh ta này có thể mở rộng ra được, có thể kết nối được. trong thân thiện và chia sẻ.

chúng ta đã đi những ngả đường khác nhau, theo những cách cũng khác nhau vời vợi. không biết sao, từ rất sớm mình đụng phải cái thắc mắc về khoảnh khắc tối hậu. mình đã dành nhiều năm tuổi trẻ, là đúng cái độ đôi mươi ấy đấy, để tìm kiếm một cách sống khả dĩ, một câu trả lời khả dĩ. không tìm được cái gì cụ thể cả, nhưng vốn liếng bấy nhiêu có trong mấy điều mình tìm cách mô tả với bạn trưa hôm đấy thôi vân ạ. sống và quan sát chính sự sống ấy bằng con mắt nữa phía trên, bên ngoài. thấy biết mà không theo. chỉ là thấy biết.

bạn vẫn kiên cường và gắng tin tưởng. thằng bé cứ rúc vào cạnh mẹ. giọt nước mắt lặng lẽ trong khóe mắt bạn, mình thấy biết mà chẳng lựa được lời. lời không giúp được gì chúng ta. ai rồi cũng sớm muộn nhận ra cái biền biệt của sống là sống tự mình. là đi tự mình trên con đường rừng vậy. khi buột miệng dặn bạn "cứ bình tĩnh", mình tự thấy ngớ ngẩn. ý mình hẳn định nói là cứ bình thản, nhưng lại nói thành như thế đấy. thấy biết đến độ nào đó thì sẽ bình thản được. nhưng nói cho cùng thì cũng không sao vân ạ, cái vụ này mình nói được nhưng làm thì cũng chả được bao nhiêu đâu.

mình không có nhu cầu ở thế giới thần kỳ linh ứng. có hay không có là không liên quan đến lối sống của mình. cuộc đời bạn làm mình càng thấy cái liên tưởng của mình về thế giới thần linh giả định ấy giống như thế này: chúng sinh là những con muỗi vo ve có cả kiếm sống từ máu thần linh, chúng tưởng chúng được ban phước và phải khéo cầu nguyện - bằng những tiếng vo ve. cũng giống thái độ của con người với muỗi, cơ bản điều ấy làm phiền, khó chịu. cho đến lúc nào đó thì bộp một cái là xong. là đến thời điểm gọi là số phận của chúng sinh chúng ta. thôi, cười vui với nhau một chuyện hài hước như vậy. bạn không may rồi, con muỗi hiền lành, thân thiện mà chăm chỉ kiên cường ạ. chỉ là bộp một phát thôi. hãy rộng mở và thanh thản đi tiếp đi. không có gì có thể mô tả được ý niệm tuyệt đối không cả. nhất định còn đâu đó một điều gì đó có thể mở rộng được, kết nối được. trong thân thiện và chia sẻ.

hình ảnh khuôn mặt bạn thất thần gọi mình "t ơi" khi chiếc thuyền lật úp trên hồ cũng là cảm giác đầu tiên mình nghĩ đến khi nhận được tin bạn sẽ phải đối diện với khoảnh khắc dữ dội nhất của cuộc đời bạn.