Tôi là người tự học, không dấu dốt, biết đến đâu thì cố gắng viết lại xem có mạch lạc không. Đây là những ghi chép sau khi đọc bản dịch "Trí thức và Truyền thông" của
anh Gauxx (tên thật ^^) cùng những bài viết trước đó.
-------------------------
"Hai
quan điểm khác biệt này tồn tại trong phần lớn trí thức Việt Nam, những người
hiếm khi chạm được vào những nguồn tài chính lớn và thường đồng nhất văn
hóa đọc (reading) với văn minh." (Tôi gạch dưới).
- Điều đáng chú ý thứ nhất và cần làm rõ là sự phân biệt văn hóa đọc với văn minh. Theo ngữ cảnh có thể suy luận rằng ở đây hàm ý khái niệm văn minh bao trùm lên khái niệm văn hóa đọc. Sự khác biệt này có thể
tương đồng với sự phân biệt giữa ngành Xã hội học với ngành Tâm lý học của
Esmile Durkheim - (Các quy tắc của phương
pháp xã hội học). Văn hóa đọc cho
dù được mở rộng nghĩa tối đa trên nền tảng ngành truyền thông thì vẫn chưa thể
là các sự kiện xã hội - tức là thuộc
về cấu trúc thực thể lớn hơn của văn minh (khái niệm có thuộc tính xã hội).
- Cũng vậy, khi David G. Marr đề cập tới những nguồn tài chính lớn thì hẳn có ý
ám chỉ tới cái cơ chế ngầm, thậm chí nền tảng, chi phối ngành truyền thông? Tức
là có thể cơ chế thực sự của truyền thông không dựa trên những thao tác đọc trí
năng mà liên quan đến khả năng thao túng dư luận dựa trên những cơ chế có tính
chất của "sự kiện xã hội" - (Các đặc điểm khu biệt của sự kiện xã hội: 1-Ở
bên ngoài ý thức cá nhân. 2- Gây ra hay có thể gây ra sự tác động có tính cưỡng
bức đến các ý thức ấy - ED, sdd).
"Khi
thảo luận về mối quan hệ nhà nước-xã hội ở Việt Nam, liệu chúng ta có thể nói rằng
giới trí thức với tư cách một nhóm xã hội có khả năng đối thoại với
chính quyền? "
- Điểm
thú vị là trong phát biểu này đã mặc nhiên lựa chọn đứng về phe trí thức-phản biện của cuộc tranh luận
thời danh hồi cuối năm ngoái về khái niệm trí thức. Ở đây tiềm ẩn hai câu hỏi
thú vị:
(1) - Định
nghĩa về nhóm xã hội: hẳn sẽ dùng phương pháp của xã hội học để định nghĩa. Việc
định rõ cấu trúc và điều kiện hình thành nhóm xã hội theo tiêu chí nào sẽ cho
phép lý thuyết đo lường có khả năng triển khai theo những hướng cụ thể khác
nhau.
(2) - Việc
ra đời định nghĩa một giới riêng (trí thức) trong quan hệ đối lập với chính quyền có sự khác biệt với tính chất
đảng phái không chỉ ở trong đặc điểm cấu trúc mà là từ trong cách tiếp cận về cấu
trúc xã hội. Lựa chọn định nghĩa này bao hàm một tính mục đích - luôn luôn định
nghĩa là có tính mục đích. Mục đích này có thể liên quan đến ý niệm nền tảng về
động lực phát triển xã hội dựa trên đa nguyên và quyền tự do lựa chọn?
Tới đây
có thể nhận thấy rất rõ cách tiếp cận của David G. Marr chịu ảnh hưởng của những
lý thuyết MSD và AS qua những từ khóa quan trọng: chính quyền-xã hội-truyền
thông-công chúng, agenda setting.
"Kể
cả khi đảng muốn thực hiện cả hai cùng lúc, thì có vẻ như một thế hệ mới công
dân mạng sẽ tìm được cách thoát khỏi sự kiểm soát và xúc tiến cái agendas của
riêng họ."
- Xúc tiến
cái agendas của họ tức là "khuếch
trương những ý tưởng mới, thử nghiệm những kiến thức, kinh nghiệm hay, thảo luận
và đánh giá kết quả một cách mở rộng và thường xuyên" như những gì trí thức
giai đoạn 1920s-1930s đã làm (dưới mô hình quản lý nhà nước thuộc địa của
Pháp!). Cũng chính họ (trí thức giai đoạn đó) là lực lượng tạo ra sản phẩm báo
chí và tiêu thụ chúng. Qua đó tác động tới nền tảng văn hóa (và nền tảng chính
trị) của xã hội. Đến đây thì rất rõ ràng cái tiềm năng cạnh tranh vai trò dẫn dắt
xã hội của trí thức (phản biện) với chính quyền từ phương diện tư tưởng sang
phương diện chính trị. Nhất là khi báo chí truyền thông còn có thể là công cụ
liên kết nhóm và gây ảnh hưởng. Nó là lành mạnh và bình thường ở bên ngoài những
xã hội toàn trị!
Nhưng
cũng chính vì cần tiếp cận xã hội dưới nguyên tắc của xã hội học nên dễ thấy là
tư duy top-down tiếp cận vai trò chức năng của nhóm xã hội trí thức như trên
(vai trò của tranh luận, đối lập, tự do lựa chọn) với chất lượng phát triển xã
hội có xu hướng ôm đồm khó kiểm nghiệm lý thuyết (@Gauxx). Cần thêm vào đó là
tiếp cận bottom-up xuất phát từ nhận thức "communication thực ra chính là
một cơ chế của văn hóa và không tách rời văn hóa".
Tóm lại,
sự lũng đoạn của báo chí lá cải dẫn đến nguy cơ bùng nổ và biến đổi khôn lường
hiện tượng này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ tiêu cực:
1 - Tha hóa tư tưởng toàn xã hội: xói mòn các giá trị, chuẩn mực hiện thời. Hệ quả
là những biểu tượng chính trị của hệ giá
trị, chuẩn mực ấy (chính quyền, đảng cầm quyền) cũng chịu chung cơn lũ xói
mòn và rỗng nghĩa. (Việc tái hồi những thần tượng quá cũ kỹ trong tấm áo đạo đức
thực tế cho thấy sự rệu rã của xã hội hiện thời. Đạo đức (thường gắn với tình cảm
tôn giáo) là thứ làm cho luật pháp (quyền lực) trở nên hiển nhiên). Tất yếu dẫn
đến nhu cầu thay đổi, tìm cái mới, cái
khác (thường được mong là cái tốt hơn).
2 - Sự tha hóa đi kèm với nó là mất khả năng tư
duy độc lập, thiếu
óc phê phán, tinh thần phản tư...dẫn đến nguy cơ dễ bị thao túng tâm trí. Trong
trường hợp bị chi phối bởi các nhóm lợi ích nhỏ hoặc yếu tố ngoại xâm (diễn biến
hòa bình, sic) thì đó còn là nguy cơ của một dân tộc.
3 - Cơ chế hiện thời của báo chí lá cải ở VN (với đặc điểm "viết bố láo, bịa đặt, viết
chủ quan áp đặt, viết không thành có, có thành có rất nhiều, viết xúc phạm cá
nhân, xúc phạm giới, vi phạm đạo đức nói chung.") còn có gây những hậu quả
xấu: triệt tiêu tính chính xác của thông tin, khả năng tranh luận, đạo đức. Qua
đó dung dưỡng tư duy bầy đàn, bản năng...là mảnh đất cho phương thức ám thị tà
đạo thao túng tâm trí. Những xung năng tăm tối của đám đông được nuôi dưỡng và
chờ chực nguy cơ bùng phát thành bạo loạn không thể kiểm soát được (Tâm lý học
đám đông)? Kể ra điều này cũng khó nói cho phân minh. Những sự kiện tàn bạo nhất
nhân loại đều chẳng phải đều xảy ra do những dân tộc vốn là trung tâm văn minh
nhân loại như Pháp, Đức, Nhật, Trung Hoa?
Và như vậy
liệu truyền thông có thực đã đủ là cơ chế văn hóa chủ yếu của xã hội hay còn những
cơ chế ngầm khác chi phối đám đông công chúng? Thao túng và khai minh có nhất
thiết sử dụng chung một cơ chế nền tảng?