Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc đẹp, ngồi một mình

1.
Bài này ngày xưa viết cho Gấu. Bây giờ thì Beo lại đang chập chững bước đi.

"Beo và Gấu gầm ghì tha thiết
Bờ ghít ôi! Cô bước hai chân"

Đọc lại thấy tình cảm làm bố hẵng còn nhiều, nhưng nuôi đến đứa thứ hai thì kinh nghiệm nó đã thành quy trình rồi. Bảo sao bọn con thứ con út nó quậy hơn những thằng cà đẫn (mình cũng cà đẫn).

2.
Mỗi ngày nuôi con thì lại thêm nhiều kinh nghiệm hơn.

Erich Fromm cho rằng tình yêu của bà mẹ trưởng thành ở khả năng dành cho con khả năng sống độc lập. Những ngày dự định cho con đi nhà trẻ bố mẹ đã rất lo lắng vì con vẫn còn chưa biết tự bảo vệ bản thân. Nhưng nếu con đi học con sẽ lớn khôn lên rất nhiều. Và trách nhiệm của bố mẹ là phải cho con có những điều kiện tốt nhất để phát triển chứ không phải bao bọc con mãi. 

Nhưng cứ nghĩ đến những lúc nâng niu con ở nhà mà lại lo lắng khi đưa con đi ra ngoài xã hội-lòng người ai chả như vậy.

Ở giai đoạn tuổi này con sẽ phải vượt qua nhiều thử thách: con đã chập chững biết đi nhưng chỉ đang bập bẹ biết nói. Thế giới của con là thế giới của quan sát và bắt chước. Thật khó để bố mẹ và mọi người hiểu được mong muốn của con. Vậy đấy, chỉ hơi lớn khôn một chút là con người phải tập chấp nhận sự thực về những điều khó chịu trong cuộc sống để vượt qua. Con sẽ ốm nhiều lần, sẽ vấp ngã, sẽ bị đói, bị đau mà không phải lúc nào cũng được chăm sóc vì không ai hiểu con. Con sẽ phải nhìn ra bên ngoài gia đình để học hỏi và lớn lên.

Bố mẹ muốn con lớn lên trong sự cảm nhận về tình thương yêu và thái độ trân trọng sự sống độc lập của con. Nên những ngày này mỗi khi con khóc hờn quá lâu bố mẹ thấy thật phân vân và day dứt khi phải quát nạt đánh đòn con. Chỉ là tỏ thái độ cho con biết cái gì là "được phép" và "không được phép". Và con bắt đầu biết có cái nhìn vừa hờn vừa tủi với bố mẹ. Như hôm nay con đang ốm mà bố mẹ vẫn phải nạt con để con dứt cơn hờn đến hơn một giờ. Và trong giấc ngủ con vẫn nấc lên hờn tủi.

Hỡi ôi, nuôi con mới biết lòng cha mẹ. Cha mẹ sinh con trời sinh tính, đã làm hết sức hết lòng rồi thì nhiên hậu sau này có lẽ phận làm cha làm mẹ đau lòng nhất là ở chỗ con cái không hiểu tấm lòng của mình.

Cổ nhân nói: Cùng lo thì dễ thân, cùng thương thì dễ giận. Nhận rõ sự thực về cuộc nhân sinh, gắng hết sức hết lòng cốt cũng chỉ là để khỏi phải ân hận chứ làm sao tránh được không đau lòng trong cõi nhân gian này?




Bức hình lịch sử. Chuẩn_bị_làm_ông_bố_hai_con_giai tắm rửa sạch sẽ, mặc đẹp ngồi một mình trong phòng chờ Beo xuất hiện. Beo bảo "từ từ, bà nội đã dặn phải đến giờ Dần cơ". Bố chờ 8 tiếng còng cả lưng ^^


Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Nắng xuống thì sương tan

Mỗi dịp như Tết là mỗi dịp hay để chiêm nghiệm sự đa dạng chồng chập của cõi ta bà thiên long bát bộ. Loại như mình là loại có nhiều căn tính nhập nhằng lẫn với nhau: một cybercitizen, một thị dân trung lưu, một người nhà quê li hương. Mối quan hệ giữa chúng là kiểu một vòng xoáy ốc tiến hóa - vừa có tương liên ruột rà lại vừa phủ định nhau một cách khắc nghiệt, rất biện chứng (LOL).

Từ cuối năm đến nay phải trả nợ đời nên hơi bận. Cứ nghĩ đến thế giới blog, những người bạn trên mạng, những điều mình chú tâm (sao có thể gọi khác đi được?)...như một điều gì đó dang dở, lẩn khuất. Như thể mình đã làm người bỏ cuộc. Thôi thì cứ nghĩ là trời đất xoay vần, ngày tháng luân chuyển, cuộc đời nắng xuống thì sương tan thế nào chả còn lúc quay lại. Cái giống loanh quanh, cái nòi tình chừa thế quái nào được ^^

Đầu năm đi chúc Tết, gặp lại thầy giáo cũ đã sống đời tu hành rồi làm linh mục đến giờ đã là 12 năm ở Pháp. Nghĩ cũng hay, mình có quen hai người - quen là đã từng trò chuyện trực diện về chuyện sống_ở_đời với nhau - trong vòng 15 năm. Bẵng đi chừng ấy năm, giờ một sư ông một cha xứ, còn mình thì vẫn làm người bình thường sống đời bình thường của mình. Gặp lại nhau, dù trên mạng hay ngoài đời, cái cốt yếu mình quan tâm là chuyện sống_ở_đời năm xưa giờ ra sao. Cảm nhận là rốt cuộc đường vẫn chỉ có thể là dưới chân mỗi người. Điều hơi nuối tiếc là tại sao chúng ta không thể dùng ngôn ngữ bình thường để nói với nhau? Quá nhiều biệt ngữ.


Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

chuyện táo ngày tết

"Tất nhiên, phong cách hầu như bao giờ cũng là cái cớ nhằm né tránh những động cơ sâu xa của vở kịch: bảo một vở hài kịch của Goldoni có phong cách thuần túy "Italia" (những trò hề, những kịch điệu bộ, những cung cách khúm núm và cách ăn nói láu ta láu táu), đó là cách dễ dãi để được miễn trách nhiệm về nội dung xã hội hoặc lịch sử của tác phẩm, là cách để tháo ngòi nổ xung đột gay gắt của những quan hệ công dân, nói tóm lại đó là huyễn hoặc"

(Trích Hai huyền thoại về nền sân khấu trẻ, tập Những huyền thoại, Roland Barthes, bản dịch Phùng Văn Tửu, Nxb Tri Thức, 2008).


Một nghi thức trừ tà của xã hội

Khởi đầu là một vở hài kịch châm biếm nhỏ trên truyền hình cuối năm thành công đầy ấn tượng, từ nhiều năm nay chương trình Táo quân Tết đêm Giao thừa (Gặp nhau cuối năm) đã thành lệ, thành khuôn thước hình thức để mỗi năm công chúng phỏng đoán, chờ đợi xem năm nay các Táo sẽ đem những chuyện gì ra biếm giễu. Một cách vô tình, sự chờ đợi này tạo ra sức ép kép: một mặt chương trình truyền hình này phải bao quát phản ánh đại diện được những vấn đề thời sự của đất nước trong năm, mặt kia các nhà sản xuất phải nỗ lực tìm kiếm đem lại những thứ ấn tượng mới mẻ hấp dẫn cho công chúng - sức ép cho số mới đến ngay từ sau khi đóng lại số cũ và kéo dài cả năm, như chính những người trong cuộc thổ lộ. Sự cải biên đổi mới mỗi năm ấy không nhiều nhưng liên tục và dần dà vở hài kịch truyền hình nhỏ đã trở thành một cái gì đó quen thuộc nhưng không nghiễm nhiên và vẫn đang tự vấn về hình thức của mình, về khả năng tiếp tục duy trì hay đình bản của chính mình. Đều đặn trong những đêm 30 Tết với tính chất bản tổng kết kế toán được mất cuối năm, trong thời khắc mà người ta dù "feeling lost and feeling blue" nhưng chung cuộc sẽ là tâm lý kiêng việc kiêng sinh sự sự sinh và dành những hy vọng cho một chu kỳ mới, chương trình Táo quân Tết đã đóng vai trò một nghi thức trừ tà cuối năm của xã hội mang đầy tính chất huyễn hoặc; với những lá bùa của nó (những đĩa CD sao chép buổi ghi hình) sẽ còn hiệu nghiệm và len lỏi trong dân gian theo bước chân những người bán rong.(*)


Xét về cấu trúc và phong cách, Táo quân Tết mang nhiều dấu vết rõ ràng ảnh hưởng từ sân khấu chèo, một cảnh chèo toàn những vai hề (áo dài)! Từ cấu trúc cảnh trí sân khấu kịch nhiều tính ước lệ đến bảng phân vai của những tính cách bản chất đến kết cấu nội dung tốt nhiều hơn xấu, thiện thắng ác, đại đoàn viên... Kịch mô phỏng hành động chứ không mô phỏng con người (Aristotle). Nếu như ở vở hài kịch khởi đầu được xây dựng dựa trên các hành động tình huống xung đột gắn với những tình tiết có lịch sử riêng trong xã hội, trong hình thức mới mẻ của mình, nó đả kích, châm biếm hiện thực xã hội; thì cùng với việc kéo dài rập khuôn, trở thành một chương trình truyền hình, cấu trúc đã bị đóng khuôn và các nhân vật Táo đã được rút gọn thành các bản chất phi lịch sử, nổi bật lên trong cấu trúc tung hứng ứng biến, những tình huống được lựa chọn xoay xở cho khớp, Táo quân Tết đã trở thành một cấu trúc các khái niệm được sắp xếp theo mô dạng một huyền thoại như cách nói của Roland Barthes. 

Ở bên trên bình diện nghĩa đa tạp của tình huống, lặp đi lặp lại mỗi năm là cấu trúc hai lớp: một bộ ba kiểu quan năng (Cái nhìn quan phòng, Hành vi phản ứng, Xúc cảm trực thời) xao động vòng quanh các Bản chất, ở những tình huống kịch tính đa dạng giòn giã như pháo. Trong khoảng thời gian hầu như rảnh rỗi vô sự chờ Giao thừa, Buổi chầu là phần thời gian rỗi rãi của dân văn phòng mà Nam Tào (Xuân Bắc) là tay kế toán thạo việc, Bắc Đẩu (Công Lý) là cô thư ký đồng bóng và Ngọc Hoàng (Quốc Khánh) là anh trưởng phòng lõi đời cùng nhau chém gió, buôn dưa lê những chuyện trong nhà ngoài phố theo cái nhịp đời sống tiểu tư sản của họ: chuyện đi đường, chuyện con cái đi học, tiền điện, tiền xăng. Những chuyện ấy có cái kịch tính cá nhân chốc lát, nhiều bức xúc và lây lan bất chấp nhân quả logic nhưng chung cuộc là vô thưởng vô phạt, sao cũng được miễn là được nói ra, xả ra thật nhiều, thật chi tiết và cường điệu.

Quy cách bó buộc đơn điệu về tư tưởng sẽ cần được bù trừ bằng khối lượng hình thức, các tình tiết khoa trương đến bão hòa. Một tập đại thành dân ca hò vè đến nhạc phim sẽ được huy động. Phục trang, phụ kiện...danh mục các đồ vật liên tục được đưa vào sân khấu - không chỉ còn từ hai bên cánh gà mà từ trong phông tiến ra, từ trên cao đu dây xuống, trong khói trong mù và tiếng nhạc. Công chúng chờ đợi thưởng thức một đoạn ca thật dài thật mùi của Tự Long, cái hẩy tay hất tóc phát gớm của Công Lý hay điệu bộ oặt dẹo liến thoắng của Vân Dung. Các diễn viên sẽ thực sự rất vất vả, đổ mồi hôi và tận hiến những cao trào ngẫu hứng bột phát và công chúng cũng chỉ chờ đợi những tình tiết ấy, để hưởng ứng, sao nhại và truyền khẩu râm ran trong những câu chuyện trà thuốc mấy ngày Tết. Phản ứng xã hội sẽ được cô đặc lại trong những câu nói tâm đắc, trúng, độc kiểu "Thông và Dục, Táo đầu gấu hàng đầu thiên đình" (mô phỏng quảng cáo phản cảm bình lọc nước Kangaroo) và thế là những xung đột gay gắt của quan hệ công dân coi như đã được tháo ngòi nổ. Những bức xúc đã được đặt cho một cái tên và được biểu hiện theo kiểu hiển nhiên, tan loãng vào đám đông vô danh.

Mấy từ vựng

Xuân Bắc: Nam Tào, anh Tào, tay kế toán trẻ Thiên Đình thạo việc và ranh mãnh, chuyên gia tung hứng đưa đẩy. Bột phát nhưng ứng biến, điều chỉnh nhanh. Là biểu trưng kiểu hành vi phản ứng.

Công Lý: Bắc Đẩu, Đẩu, cô thư ký văn phòng đồng bóng, đa sự, bốp chát, dễ xoa dịu bằng phỉnh nịnh. Kiểu loại xúc cảm trực thời.

Quốc Khánh: Ngọc Hoàng, anh Hoàng, anh trưởng phòng tẩm ngẩm, ủ ê, vừa vừa phai phải. Nói lời cuối kiểu mô tả.

Chí Trung: Táo Giao thông, Thông, lĩnh vực của vận động, liên lạc, vận chuyển kết nối. Biến báo, được chăng hay chớ, thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm, giọng em thiên hạ.

Vân Dung: Táo Y tế, cô Tế, một lĩnh vực không có gì thay đổi, không có gì nhiều để nói (nói không ăn thua). Trong hiệu ứng ngược của biểu trưng, phần bù hình thức là nói to, lánh lót, liến thoắng, loăng quăng, ngoằn nghoèo, dẹo.

Những vấn đề xã hội phức tạp đa chiều, nơi phải có ai đó chịu trách nhiệm, phải thay đổi hoặc bị thay đổi đã chuyển hóa thành các vai Táo vốn được mô tả trong chiều kích cá nhân, như những tính cách điển hình của những người làm công ăn lương có khổ, có công. Qua sự chiêu dụ của thủ pháp nhân cách hóa, dung tục hóa, đời thường hóa mọi sự, công chúng sẽ thấy mình trong những bung xung đó và chấp nhận nguyên trạng. Ở đâu đó, "người dân" luôn là một đám mờ nhạt, ý kiến vụt chạc.(**)

Comming out

Trong các vai diễn, Đẩu là nhân vật có sự chuyển đổi rõ nét nhất trong hành trạng, tính khí - một quá trình comming out theo đúng nghĩa đen. Là biểu trưng của cảm xúc trực thời, Đẩu đã có thể hoàn toàn thoải mái thể hiện cảm xúc của mình trong cách thức "khó coi". Cô hồn nữ tính đã thành đồng bóng thuần túy một cách thoải mái, nghiễm nhiên. Công chúng thân mến, những bức xúc của anh chị nó thực ra là khó coi lắm, và vì vậy nó đáng ngờ.

Câu chuyện của Đẩu là một biểu trưng kép: trong tiến trình comming out của giới thứ ba, thay vì những đấu tranh nỗ lực để đặt được chủ đề của mình vào chương trình nghị sự trong truyền thông của xã hội thì kết quả lại chỉ là những ám chỉ bông lơn, tục gớm trước cái cười mỉm của thiên hạ. Ở bình diện những câu chuyện chung của xã hội một năm cũng vậy, được nêu ra để bông lơn, chỉ lởn vởn, mù mờ như tà khí mà ánh sáng lấp lánh, ấm áp và những bè đồng ca chào xuân sau rốt sẽ thanh tẩy tất cả! Chiều tắm nước mùi già, tối xem tàn buổi chầu truyền hình, ai ai cũng đã cảm thấy nhẹ nhõm (cái nhẹ nhõm phải từng bị táo mới hiểu), có thể ra sân đêm ba mươi xem pháo hoa một lát rồi đi ngủ. Hết giao thừa, năm mới đến một lúc thì đi ngủ.
----------------




(*) Nghe kể có chuyện có ông bộ trưởng rất thân tình với CT, năm nọ đã mời cả đội Táo về nhà diễn và nhậu vui xuân. Nói chung tiết mục Táo quân là bán được.

(**) Một phép so sánh: thử tưởng tượng nếu Đoàn Văn Vươn nhận được một chỗ trong vở để tìm kiếm tên gọi chính xác cho tội danh của mình: giết người hay phòng vệ quá mức?

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Nhớ lại. Nothing

Nhớ lại thời Gấu tập nói.
---------------------

1.
Dạo này thường viết về đêm. Lý do cũng đơn giản: phải chẳng vì cái gì cả thì mới viết được. Giờ ban ngày có vì cái gì rồi nên đêm đến mới linh tinh được. Chẳng vì cái gì, chẳng có gì cũng đang an ủi bác Gauxx nhà bên kia. Mỗi lần xem phần Map overlay của Google Analytics tôi thích theo rõi xem ai ở đâu đã đọc blog của mình. Những chấm trên bản đồ địa cầu gợi liên tưởng đến cái nhìn những đốm sáng dưới mặt đất khi bay đêm của S.Éxupery trong Terre des homme. Tôi chú ý những thành phố chỉ có một người thường xuyên theo rõi blog mình và tưởng tượng về họ, trong những thành phố ước lệ-đâu đó ở VN, đâu đó ở các châu lục xa lạ. Tưởng tượng cứu rỗi cuộc sống nhiều ngang với những tác dụng phụ của nó. Chúng ta có thể hiểu được thế giới không là một câu hỏi khó và khá rắc rối. Nhưng chúng ta đang cảm nhận thế giới và cần nuôi dưỡng khả năng cảm nhận thế giới vì đó là cách chúng ta đi đến cuộc đời này. Hai bố con tôi chơi trò bắt chước tiếng chó sủa khi xem ảnh con chó trên xe ô tô thò đầu ra. Gấu đang tập nói và đó là hầu hết vốn liếng về chó của Gấu lúc này. Âu âu âu âu...Hehe, bố chợt nghĩ rằng những bài viết khuya của bố rất giống những tiếng tru đêm Gấu ạ. Auuuuuu...

2.
Ngẫu nhiên thế quái nào ô tô cũng đang là chủ đề của Hà Nội tối nay qua bài viết của 2 bác VMC (Khai giảng trường con nhà giàu) và TQ (Bốn bánh bay lên đỉnh). Bây giờ bạn bè gặp nhau chủ đề ô tô cũng thường là sôi nổi nhất. Các bác sĩ phu chơi hoa lan (không nói 2 bác trên :), mình nghĩ câu chuyện nhàn đàm tối nay nên hướng vấn đề về phía không phải là cái ô tô mà là ý nghĩa của việc đã sở hữu nó chứ nhỉ? Đó là câu hỏi về ý nghĩamột lúc nào đó chúng ta sẽ suy nghĩ về ý nghĩa. Việc câu hỏi đó buột ra trong lúc ngồi ô tô hẳn là một tình huống thiết thân hơn rất nhiều trường hợp đau đáu sau khi đọc một cuốn sách 1ooo trang? Tất nhiên ô tô chỉ là một ẩn dụ và có thể thay nó bằng bất cứ cái gì. Nói chuyện với bạn cũ, vấn đề ý nghĩa cứ lởn vởn khăm khẳm xung quanh. Sẽ tốt hơn nếu bạn nhìn nó một cách trực diện và chân thành. Khả năng cao là khá hẫng hụt. Hơi buồn cười khi được/bị nghĩ là "chuyên về văn hóa". Nếu văn hóa là cách thái ứng xử với xung-quanh và với chính mình thì không thể có chuyên gia văn hóa mà chỉ có con người - Người-thật-là-người như cách diễn dịch của Nhượng Tống - và văn hóa không phải là để làm dáng theo sở thích hay trào lưu. Do vậy theo mình văn hóa là thứ có thể mày mò tự học nhưng nhất định không nên chỉ là học lỏm. Một cái nhìn chăm chú, có thể nói như thế nếu không thích dùng chữ Học trong trường hợp này.

3.
Nhưng nếu không có ý nghĩa (tuyệt đối) thì sao? Thì cũng chỉ là không có ý nghĩa thôi mà! Câu hỏi về ý nghĩa sẽ trở thành câu hỏi về tính chính đáng của nhu cầu phải có một ý nghĩa. Trong phương pháp luận NCKH người ta có tiêu chuẩn về vấn đề nghiên cứu là: vấn đề nên phát biểu dạng câu hỏi và câu hỏi tốt thì không phải là dạng câu trả lời tiềm năng. Trong trường hợp này chúng ta sẽ cùng nhau chuyển thẳng sang vấn đề về sự bận tâm ("vì nó được hình thành về mặt thời gian, tồn tại con người là sự "bận tâm" (Sorge) xét về cấu trúc"-MH).

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

carnets. Phương tiện là tùy duyên tiếp vật


Nếu giao tiếp là trao đổi cho nhau một_điều_gì_có_nghĩa thì chúng ta giao tiếp thật nản. Và từ đó nhìn sang Silent Party thì điều đó rất rõ nghĩa.
Giống như khi triết học ngôn ngữ phân biệt diễn ngôn với lời nó ở chỗ nó trao đổi luận cứ chứ không chỉ thông tin. Đó là 1 phía của sự triệt để của lời.
Ở phía ngược lại, hãy tham khảo cuốn "Thiền trong nghệ thuật bắn cung" - nó mô tả tinh vi lĩnh vực những phạm trù, mệnh đề bất khả quy giản mà qua đó nó phải dựa vào những thứ tri thức sống, tri thức làm (Lyotard) như là nghệ thuật...những thực hành có tính đào luyện.
Con người cá nhân luận sẽ được vượt qua để thành chủ thể có đào luyện.

Hay quan sát một buổi offline, hay gặp bạn cũ chẳng hạn: chúng ta ko nói chuyện thực sự, chúng ta tìm những thứ tầm tầm (cái này rất hay để khai triển), tức là kiểu thăm dò nhau, tránh xung đột - nhưng vì sao? Là để duy trì kết nối thực tế của những chủ thể có thân xác. Có lẽ ngôn ngữ hình thể của chúng ta cũng đã có cuộc trao đổi nào đó.
Nếu ghi âm lại một cuộc tám chuyện bạn bè, sẽ nhận ra rất rõ họ có trao đổi không? Hầu hết là những khuôn mẫu. Và nếu nhìn từ góc độ tín hiệu học thì may ra: họ trao đổi những tín hiệu văn hóa nhất định, nhưng không chủ ý.
Do vậy, Silent Party mở ra một thách thức trải nghiệm hay để mở đầu. Tôi có đọc ở đâu đó về phép tu của Mật Tông (Kim Cang Thừa): họ có lần bịt mắt 3 tháng và có lần bịt tai 3 tháng để đào sâu trải nghiệm...

Tất nhiên ta hiểu rằng cũng như khi McLuhan coi phương tiện truyền thông nối dài khả năng tri giác của con người, ở đây là chuyện tắt bớt tri giác đi, ta sẽ thấy sự phiến diện của nhận thức và vai trò của cái Tâm nhận thức siêu hình. Tức là vẫn phải từ cái ý thức chủ định của chủ thể trước đã rồi những khả thể mới đến. Phép tu phải có hậu cảnh tín niệm, một event phải có 1 hậu cảnh lý thuyết nhất định thì cuộc chơi trình diễn tập thể (ko phân định nghệ sỹ - khán giả) mới có cơ hội trở thành 1 cái gì đó. Nhưng từ góc độ một trò chơi, miễn ngay từ đầu đã có một ấn tượng trực thời gây shock thì đã rất sáng tạo.

Các dự án trên Fb dựa căn bản vào tính lây truyền mạnh mẽ của nó qua các chủ thể (ảo). Nó cho ta 2 khả năng: hoặc bị lôi cuốn, biến mất, đánh mất mình trong khả năng phản tư (giữ khoảng cách với chính mình) do đó là nạn nhân của hiệu ứng PR. Nhìn từ góc độ này thì nó không có gì mới để đáng nói cả.
Trong góc độ thứ 2, tính lây lan của Fb tuy vậy vẫn không làm mất cái chủ quyền chủ thể có căn tính. Theo góc độ này thì quả thực mạng xã hội giúp ta thêm 1 không gian công để tụ hội và trao_đổi hay kết_nối. Điều này cần pha trộn với kết nối thực nữa.
Ta tìm kiếm dễ hơn và ta có thể phán đoán giá trị, nhưng ta cần kiểm nghiệm thực tế. Sau đó đánh giá chúng và không gian mạng lại giúp ta nối dài các trao đổi, và do vậy nó chuyên sâu hơn.
Thực tế các buổi sự kiện tôi tham dự gần đây cho thấy rất rõ sự khác biệt giữa hoàn cảnh nói lý tưởng và hoàn cảnh nói thực tế.
Nó bất cân xứng, do vậy việc tổ chức các dự án dựa vào mạng xã hội có ưu điểm đầu tiên là nó mở rộng công bằng, chủ động của các bên.
------------
(từ một trao đổi ngắn online về mạng xã hội với anh Gauxx)

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

C(q)uốc lủi tại dân gian


Một ngôn ngữ của cộng đồng

Khi đến một vùng đất lạ, nếu muốn tỏ ra thân thiện thì có thể nói chuyện với những người mới gặp lần đầu về một loại rượu ngon nổi tiếng của địa phương ấy. Nếu anh có thể kể ra cái quán đó, chỗ đó uống rượu hay lắm, hợp lắm thì sẽ gây ấn tượng rất tốt. Nhưng anh còn thuộc những lề lối của dân nhậu nơi ấy, như là uống xong phải bắt tay ở Tây Bắc, xoay tua ở miền Tây...thì anh hầu như sẽ được coi trọng trong lần sơ giao.

"Vô tửu bất thành lễ", hành vi xã giao phổ biến này ngầm biểu thị rằng anh thừa nhận, anh biết và đã từng tham dự vào những nghi thức giao tiếp của một cộng đồng ở trung tâm căn tính của nó. Và thứ rượu nấu trong dân có gắn tên riêng kia là một ký hiệu quan trọng để nhận thấy, mở ra những tương tác giao tình song phương.

Rượu quê mà có tên riêng nổi danh trên toàn quốc thì cũng không phải là nhiều, người lịch duyệt bình thường có thể kể được chừng trên dưới chục cái tên khác nhau là đã khá lắm - thường là gắn với các địa danh, các tên làng tên đất, những làng Vân, Bàu Đá, Gò Đen... Nhưng bộ căn cước của rượu quê còn có rất nhiều cấp độ, gắn đến từng chòm xóm, những cộng đồng nhỏ, nơi mọi người đều biết nhau và cùng đồng ý rượu nhà ông A hay bà B là ngon nhất! Thường thì trong làng xóm sẽ có một vài nhà tự nấu rượu và cung cấp cho một phạm vi hẹp bà con lối xóm. Một kiểu nghề thủ công lúc nông nhàn, nếu ai muốn mua nhiều thì phải đặt trước, thậm chí là mang đúng loại gạo nếp ngon mình muốn nấu đến đặt cũng được. Những loại rượu quê tự nấu này có một thị trường nhỏ, khu biệt trong một cộng đồng nơi mọi người đều quen biết, có mối liên hệ qua lại với nhau. Rượu không đơn giản chỉ là một loại thức uống mà hiển nhiên trong những tập tục, lễ tiết, gắn với mọi nhịp điệu đời sống văn hóa cộng đồng nông thôn những tiết lễ giỗ chạp, "đám cưới, đám ma, tân gia, nhập trạch".

Người ta uống rượu quê tự nấu không hẳn vì nó rẻ. Lý do hay được nêu ra nhất đấy là vì nguồn gốc có tính chất tự nhiên của nó khác với rượu nhà máy hạng trung bình khác "sốc", "nặng", "gắt", "hóa chất". Và để đối chứng thì còn thêm lý do "rượu này là rượu nếp nhà ông A nấu đấy!". Trong một lĩnh vực sản xuất mà chất lượng của sản phẩm phụ thuộc hoàn toàn vào bí quyết thứ men gia truyền, kinh nghiệm của người làm và cả nguyên vật liệu quan trọng là nguồn nước được sử dụng thì một lần nữa, cái tiêu chuẩn biết được, tin được, đã được chiết xuất từ văn hóa cộng đồng tiền đô thị hóa rồi ngưng tụ trong tập quán uống rượu nhà quê. Cái chất cảm "trong vắt", "sủi tăm", "sánh", "êm", "đượm"...của rượu nấu biểu đạt tính tinh chất, nguồn cội từ trung tâm cái căn tính quan trọng nhất của làng quê: men, gạo (của đất) và nước nguồn thông qua sự trung giới của lửa và bởi năng lực của người làng mình.

Cùng nhau uống một chén rượu cũng tức là chuyển những tín hiệu xã giao sang bình diện cốt lõi, thực chứng bằng cảm nghiệm thân thể và từ đó Lời được thốt ra theo một kiểu xuất tiết ít chủ tâm(*) từ một trung tâm sâu thẳm hơn, thành thực hơn (trong quan niệm của đại chúng). "Rượu vào lời ra", những lời nói trong cuộc rượu phần nhiều là những khuôn mẫu có tính chất tiên kiến cá nhân - để nói ra, biểu thị ra hơn là để nghe. Nhìn từ ngoài, nó giống như một nghi thức kiểu nhập đồng mà ở đó các thành viên cùng hòa vào một nhịp chung ở một bình diện khác có tính chất cộng thông hơn là những trao đổi thông tin.


Giữa đám đông cô đơn và dưới ánh sáng của tiêu dùng

Rượu nhà quê có một lối lên thành phố, thâm nhập vào thành phố theo kiểu li hương: nó được mang theo hay được trao tặng, gửi gắm như một thứ quà quê cho những người con của gia tộc, quê xứ nơi thành thị. Đến chơi nhà một ai đó, khi gia chủ tự tay rót cốc rượu được giới thiệu là rượu ngon ở quê mình thì chính là cái hình ảnh biểu trưng sống động của một dòng chảy từ nguồn cội văn hóa đã liền lạc liên lỉ trong cả không gian lẫn thời gian đời người. Những quán "rượu dân tộc" cũng là một hình ảnh nối dài của con đường li hương này. Nhưng trong xã hội đô thị hiện đại, nó sớm lẫn lộn trong trạng thái bị nhại, bị phóng đại và đáng ngờ. Cộng đồng luôn là một khái niệm không quá rộng rãi về không gian.

Nhưng rượu quê còn có một đời sống tha hương khác, tiêu điều hơn, xơ xác, lạc lõng và lạt lẽo trong đô thị. Đó là thứ rượu không nhãn mác, vô danh, rẻ tiền len lỏi khắp các quán ăn, quán nhậu bình dân ở thành phố, chủ yếu ở vùng ngoại vi. Loại rượu này không được thị dân trung lưu ưa chuộng, ít đáng tin bằng rượu Vodka nhà máy. Nó không còn thuộc về một cộng đồng có căn cước nào cả, nhạt nhẽo và rẻ tiền đích thực trong xã hội đô thị của những cá nhân lạc lõng, những thành phần phi căn tính. Bị coi thường, bị làm giả từ chính những hóa chất công nghiệp, gây hại và là nguy cơ tiềm ẩn phải chấp nhận khi không được lựa chọn. Và từ bị nghi ngờ và coi thường đến bị cấm đoán chỉ còn là vấn đề thời điểm. Điều mỉa mai là ở chỗ thứ rượu hạ đẳng này được so sánh với chính những dòng rượu công nghiệp đại chúng khác - những thức uống "sốc", "nặng", "gắt", "hóa chất"...bây giờ dẫu sao còn có một căn cước tối thiểu để đặt lòng tin cho con người đô thị.


Lủi tại dân gian

Cùng với tiến trình đô thị hóa là quá trình phân rã của xã hội truyền thống mang tính cộng đồng chuyển sang xã hội tiêu thụ đại chúng. Có lẽ thứ rượu nhà quê tự nấu, cái biểu đạt cho văn hóa cộng đồng nhỏ thân quen lẫn nhau với nhịp điệu đời sống chậm rãi, bình ổn sẽ khó lòng mà minh định được là còn chiếm bao nhiêu trong con số 90% lượng rượu nấu thủ công của 350 triệu lít rượu được người Việt tiêu dùng mỗi năm (**). Việc kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn là trách nhiệm của chính quyền. Tự bản thân những cơ sở sản xuất thủ công lớn, sản xuất kinh doanh đại trà cũng phải nhận thức được việc đăng kiểm nhãn hàng của mình - nó đã đặt bước chân đầu tiên vào trình độ đô thị hóa rồi. Nhưng còn thứ rượu nấu của nhà quê, thứ "cao gạo" trong vắt, sủi tăm và sóng sánh, cốt cách nguồn cội của cộng đồng làng quê thì sẽ phải ứng xử ra sao? Rượu đã được cất hàng nghìn năm trong những làng xóm. Rượu cũng đã bị cấm ngặt nhiều lần. Nhưng nếu "văn hóa là cái còn lại" thì với tư cách là cái biểu đạt của văn hóa cộng đồng dân gian, có lẽ lại một lần nữa, rượu nhà quê sẽ chẳng mất đi đâu cả - Nó chỉ lủi tại dân gian như nó đã từng là như thế.
-----------------


(*) - Bắt chiếc chữ của R.Barthes, Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, nxb Tri Thức. Cũng phải nhận rằng bài viết này lấy cảm hứng và chịu ảnh hưởng từ bài viết về rượu vang của ổng ^^ (Về ý uống rượu hay nói thật tôi cho là không phải: rượu chỉ làm người ta nói ra những điều bình thường không nói. Điều đó vẫn khác với nói Thật).

(**) - http://vi.wikipedia.org/wiki/R%C6%B0%E1%BB%A3u_tr%E1%BA%AFng#cite_note-docbao-9

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland.2

a.
Chương 6, Nhận thức, sáng tạo, thấu tỏ

- Nghệ thuật truyền thông: nó có thể truyền thông cảm xúc và sự xúc động, hoặc tư duy và ý tưởng. (248)

- Diễn giải đóng vai trò quan trọng bởi nó tường giải việc nghệ thuật làm thế bằng cách nào. Nghệ thuật có được ý nghĩa phần nào từ chính văn cảnh của nó. (248)

- Dẫu không một diễn giải nào là "đúng" theo nghĩa tuyệt đối, dường như có một số diễn giải nghệ thuật tốt hơn những cái khác. (250)

- Các diễn giải tốt nhất luôn tập trung vào cả phong cách mô dạng lẫn nội dung tác phẩm (của Bacon). (255)

* Lý thuyết biểu lộ:
- Nghệ thuật biểu lộ và truyền thông sự xúc động tới công chúng.
- Tuy nhiên nỗi xúc động không cố định trong nghệ sỹ - "tính biểu lộ nằm trong tác phẩm"
- Vả lại nghệ thuật có thể biểu lộ, truyền tải các ý tưởng cũng như cảm xúc
                    -> Mở rộng định nghĩa cảm xúc
                    -> Mối quan hệ với chính mình trong sáng tác của nghệ sỹ (xem thêm Bohm về sự thông đạt - On dialogue)

*Lý thuyết nhận thức: thuyết dụng hành
- John Dewey: (i) tri thức sử dụng (knowledge how), (ii) tri thức cảm xúc (emotional knowledge).
- Nghệ thuật là công cụ - tạo khả năng nắm bắt thực tại - phong phú tri giác - truyền thông những thứ bất khả quy giản thành mệnh đề.

- Nelson Goodman: Các ngôn ngữ nghệ thuật (Languages of Art) - chịu ảnh hưởng từ ngành tâm lý học tri giác (perceptual psychology).


Chương 7, Số hóa và sự truyền bá

[Mở rộng khả năng tri giác và thay đổi có tính cách điều kiện, sự phản tư]

- Walter Benjamin: anh hoa (aura) bị uế tạp - quyền năng tôn giáo/sự duy nhất.
                       + Điện ảnh nới rộng khả năng tri giác.

- Marshall McLuhan: "phương tiện truyền thông chính là thông điệp"
                       + Truyền hình: khuyến khích kiểu tư duy phi tuyến tính và theo lối tranh khảm.
                       + nhấn mạnh xúc giác/thính giác/biểu lộ nét mặt.

- Bill Viola: [phản đối ý kiến truyền thông mở rộng khả năng tri giác] nghệ sỹ phải làm việc trước đã, rồi mới đạt tới sự tri giác nâng cao.

- Jean Baudrillard: công chúng không chỉ lơ đãng mà biến mất (trước màn hình vi tính, trong những đường hầm).
                        + Hiện thực phì đại (thậm phồn?): hyperreal
                        + Bản đội lốt (simulution): đám cưới trong những cảnh quay phim...

* Không gian số: 2 lựa chọn
- Sự vắng rỗng, cái ác vô hình/sự tự quyến dụ trước đám đông thông qua bản đội lốt...
- (hay) nơi chốn cho kết nối cộng đồng cũng như sự khám phá cảm giác - đem lại ích lợi, trí tuệ, sáng tạo...

*Kết luận:
- Richard Anderson: "nghệ thuật là ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa, được mã hóa khéo léo trong một chất liệu gợi cảm và gây xúc động"

- Robert Irwin: "nghệ thuật là một khảo sát liên tiếp vào nhận thức tri giác của chúng ta và là một nới rộng liên tiếp cho nhận thức của chúng ta về thế giới xung quanh"

[Xem thêm]
- Diawa Raffman: Ngôn ngữ, âm nhạc, và trí tuệ (Language, Music, and Mind)


b.
Ở phần trước tôi thử cố gắng viết theo kiểu tóm tắt điểm sách có mạch lạc. Nhưng trong mạch lạc có cái gì đó bị thất thoát. Nên ở phần này tôi xếp bên cạnh một dạng bản chép tay (carnets) - để_ngắm_nghía. Vừa hay ngẫu nhiên đọc lại ghi chép "Bên cạnh đúng-sai" ngày trước thấy có nhiều điểm thú vị để suy nghĩ thêm. Nhét thêm một đống labels để lấy từ khóa tìm sách đọc ^^

Đọc lại - Bên cạnh đúng-sai

Suy nghĩ bất chợt về nghệ thuật

Nghệ thuật, cốt yếu ở chỗ tái tạo cảm xúc và bắt đầu từ cảm tính. Không hẳn ý nghĩa đến sau mà có vẻ nó đến trong nhập nhằng. Khi xem 1 vũ công khiêu vũ trên băng thì cảm hứng mỹ cảm đến trước hết với tôi. Nhưng cũng có thể vì tôi chưa am hiểu và có kinh nghiệm về kỹ thuật của bộ môn này. Lại là nói về sự đào luyện. Rõ ràng những người có kinh nghiệm luyện tập trong 1 bộ môn nào đó sẽ thường có khả năng cảm nhận tinh tế hơn về bộ môn đó. Phải chăng ngay cả xúc cảm thẩm mỹ cũng chỉ quy về việc "tập và quen" trong 1 ngữ cảnh văn hoá nhất định?

"Mọi sự miêu tả cảm tính bất kỳ một vật thể sống hay hiện tượng nào từ giác độ trạng thái cuối cùng của nó, hay là dưới ánh sáng của thế giới tương lai, sẽ là tác phẩm nghệ thuật.” - Soloviev.


Dụng học của tri thức tự sự

Dưới hình thức 1 Báo cáo thẩm định nhưng sự thực thì cuốn "La condition Postmodern"/Hoàn cảnh hậu hiện đại-của F.L có tính chất như 1 đề cương lớn cho những ai muốn tìm hiểu những điều ông đã thực sự phát biểu trong những dòng giản lược. Nhưng hễ có thân phận con người thì thảy đều có quyền triết lý (K.Jasper), cuốn sách vạch ra những khía cạnh căn bản của 1 tổng thể tri thức thời đại (1979).

F.L tiếp cận vấn đề bằng khái niệm "các trò chơi ngôn ngữ" (ngữ dụng học, Wittgenstein hậu kỳ-theo BVNS) và nếu chấp nhận sự tiếp cận này thì sẽ đi cùng ông đến các khái niệm về "tri thức tự sự", "tri thức khoa học", "phát ngôn sở thị", "nhận thức"...Theo cách này tôi thấy rõ ràng hơn khi nhìn lại câu chuyện về "học lệch" rất phổ biến ở VN (mà trong 1 entry của chị HY có đề cập đến-trong câu chuyện với con trai). Bản thân tôi cũng có những kinh nghiệm khá sâu sắc với chuyện này. Từ hồi cấp 1, các giáo viên trường tôi luôn vận động các học sinh khá giỏi rằng "học năng khiếu là học lệch".

Bệnh thành tích của GD địa phương đã sáng tạo ra những giải pháp chiết trung tiện lợi: chúng tôi thường tham gia "thi hộ"-"thi cùng" với các đội tuyển của trường NK. Coi như là học sinh của cả 2 trường. Càng học lên thì tâm lý "môn chính-môn phụ" càng nặng nề. Lễ, Tết theo đó cũng có nặng nhẹ khác nhau. Còn nhớ năm lớp 7, cô giáo Sinh và thầy giáo Hoạ có phê phán công khai chúng tôi trước lớp về tâm lý này. Ông thầy có nói 1 câu "sau này ra đời chưa chắc các em sẽ sống bằng kiến thức Văn, Toán. Rất có thể là Nhạc, Hoạ. Lúc đó hãy kiểm nghiệm lại lời tôi.". Điều này kể cũng có tác dụng phản tỉnh và cuộc sống về sau cũng cho những phản tỉnh thường xuyên.

Nhưng có 1 điều canh cánh mơ hồ thường trực là cảm giác hình như câu chuyện có cái gì đó lệch dòng, chệch choạc khi tri thức được phân chia thành các ngăn riêng rẽ. Sau này lại thấy thêm 1 cái gì đó chệch choạc hơn nữa khi mọi thứ (chủ yếu ở VN) đều tìm cách hợp thức hoá bằng mấy chữ "có tính khoa học". Ngay cả các ngành nhân văn cũng tìm cách "khoa học hoá" bộ môn của mình. Xa hơn nữa thì là câu chuyện lược quy chân lý vào Logic hình thức. Định lý bất toàn của Kurt Godel trong Toán học thường được viện dẫn trong nhiều diễn ngôn phong phú thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trong mục 6 "Dụng học của tri thức tự sự", Lyotard phân biệt các khái niệm "nhận thức", "tri thức", "khoa học" đồng thời bàn về các hệ tiêu chí khác nhau. Theo ông, "tri thức không đồng nhất với khoa học, đặc biệt dưới dạng hiện nay của nó" và "tri thức nói chung không quy về khoa học và thậm chí về nhận thức". Để hiểu rõ điều này cần nắm được cách định nghĩa của Aristote về "sở thị": "Mọi lời nói đều biểu thị cái gì đó, nhưng không phải mọi lời nói đều là sở thị. Chỉ là sở thị cái mà có thể nói về nó là đúng hay sai. Nhưng, điều này không phải bao giờ cũng làm được: chẳng hạn lời cầu nguyện là một lời nói nhưng nó không đúng không sai" (Péri herménèias; 4,17a)-(dẫn theo sách).

Nhận thức, do vậy, được giới hạn bằng tiêu chí "có thể qui về đúng sai". Khoa học là tập con của nhận thức. Nó kèm theo 2 tiêu chí là đối tượng mà chúng phản ánh phải dễ đệ qui, và do đó, phải ở trong hoàn cảnh được quan sát rõ ràng; hai là có khả năng quyết định mỗi phát ngôn này là thuộc về hay không thuộc về 1 ngôn ngữ mà giới chuyên gia cho là thích đáng.

Nhưng tri thức thì dù tất nhiên là phát ngôn sở thị nhưng nó được trộn lẫn vào những ý tưởng về tri thức-làm, tri thức-nghe, tri thức-sống...Nó vượt ra ngoài việc xác định và áp dụng tiêu chí chân lý duy nhất. Còn có những tiêu chí về tính hiệu quả (nhân tiện-Bàn về tính hiệu quả; F.Jullien), sự công bằng (Xác lập cơ sở cho đạo đức-F.J) và/hay hạnh phúc, vẻ đẹp của âm thanh/màu sắc..."Tri thức là cái làm cho ai đó có năng lực nói ra được những phát ngôn sở thị "hay", cũng như phát ngôn mệnh lệnh hay lượng định "tốt"->Tri thức cho phép thu được những thành tựu "tốt" về nhiều đối tượng của diễn ngôn: để hiểu biết, quyết định, đánh giá, thay đổi...

Đặc điểm chính yếu của tri thức, do đó, vẫn theo F.L: nó trùng với 1 sự "đào luyện" bao trùm nhiều thẩm quyền: nó là hình thức duy nhất được hiện thân trong một chủ thể, và chủ thể này là 1 tập hợp gồm nhiều loại thẩm quyền khác nhau cấu tạo nên nó. (sdd, tr105)
-------------


Phản tư
Khi xuôi chiều nhận thức thì không có vấn đề gì, nhưng tôi thường có cảm giác truyền thống tư tưởng Phương Tây không thể tách khỏi ảnh hưởng của cái tinh thần "Lời làm nên xác thịt" trong Cựu Ước. "Khởi đầu là Lời.".

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Đọc Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật - Cynthia Freeland. 1


(An Introduction to Art Theory) - Nguyễn Như Huy dịch. (Còn 1 phiên bản với tên "Thế mà là nghệ thuật ư?". NXB Tri Thức)

----------

Nếu ai đó yêu cầu chúng ta tùy tiện kể ra vài tác phẩm nghệ thuật thì hẳn ai cũng làm được - ai cũng có vài thứ để liệt kê dễ dàng. Nhưng nếu bị xoay sang hỏi "Nghệ thuật là gì?" thì sẽ khác hẳn. Nghệ thuật quá đa dạng, quá khác biệt từ chỗ này sang chỗ khác và từ thời nay đến thời xưa. Chưa bao giờ nghĩ đến chuyện khái quát hóa thì cũng là chuyện bình thường, nhưng thỉnh thoảng biết đến, chứng kiến những thực hành nghệ thuật đương đại - vốn dĩ quá xa lạ với những cái biết truyền thống ở VN hiện nay - thì câu hỏi kia lại quay trở lại rất thiết thực; nhất là khi ta biết rằng nghệ thuật được coi là phương thức chúng ta mở rộng và sáng tạo trong cách tri giác thế giới. "Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật" của Cynthia Freeland là một cuốn sách hay, vừa vặn cho những ai không chuyên muốn có một sơ đồ để lần đầu bước vào thế giới rộng lớn của lý thuyết nghệ thuật. Nó hay vì tác giả đã tường giải những khía cạnh rất đa dạng, đối lập của chủ đề một cách khéo léo hấp dẫn mà các đối tượng được trình bày vẫn không bị giản hóa.

Tác giả chọn cách mở đầu gây shock khi dẫn những tác phẩm nghệ thuật hiện đại đã từng gây shock cho công chúng với những đề tài và chất liệu bạo liệt như máu, nước tiểu, xác động vật, sự đau đớn, tính dục...Chương 1, Máu và cái đẹp, trỏ thẳng cho chúng ta một sự thực rõ ràng là từ lâu đối tượng của nghệ thuật không còn chỉ là về cái Đẹp nữa. Nhưng dù vậy, về phía kinh nghiệm cảm thụ đối với nghệ thuật thì vẫn còn mối liên hệ quan trọng với những triết lý khởi nguồn quan trọng của Kant. Di sản của Kant để lại cho hậu thế những phân tích quan trọng về sự hồi phản của chúng ta với nghệ thuật: một hồi phản đặc biệt và bất vị lợi của sự trung tính và cách biệt - hân hưởng có độ lùi. Ngày nay, ví dụ, để bảo vệ, diễn giải một tác phẩm gây shock như bức họa "Đái vào Chúa" của Serrano, một phê bình gia như Lucy Lippard sử dụng phép phân tích 3 tuyến (three - pronged analysis), theo đó cả 3 khía cạnh tiếp cận là (1) các đương lượng hình thứcchất liệu, (2) nội dung của tác phẩm và (3) văn cảnh của tác phẩm, đều quan trọng như nhau và được phân tích diễn giải chi tiết. Nói cách khác, mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có nguồn mạch và cần được tường giải để khơi gợi công chúng đạt đến sự hân hưởng.

Trong chương 2, Các hệ hình và mục đích, bằng sự đi lại theo thời gian qua chiều dài lịch sử từ Cổ đại đến khi Andy Warhol trưng bày Những hộp xà phòng Brillo như một nghệ phẩm tại Gallery Stabler ở New York vào năm 1964, Cynthia Freeland đã kể cho chúng ta nghe mối liên hệ đa dạng và nhiều khi rời rạc giữa những diễn giải của các nhà tư tưởng với những tác phẩm nghệ thuật quan trọng từng thời kỳ. Bức ảnh chụp triết gia Arthur Danto đứng trước những hộp giấy đựng xà phòng trong phòng trưng bày có tính chất biểu cảm rất đặc trưng. Nói đứng trước là không chuẩn lắm, ông chắp tay sau lưng, hơi xoay người về phía nghệ phẩm trong xu hướng đi vòng quanh để xem xét. Không giống tư thái hân hưởng thông thường, dáng điệu của Danto trong bức ảnh là dáng điệu của sự chú ý nhưng có gì đó khó xử, đang được lý tính xử lý và tìm diễn giải. Cuốn sách đưa chúng ta đã đi đến điểm nhìn nhận nghệ thuật truyền thông tư duy hay cảm xúc nhờ vào phương tiện trung gian thuộc vật chất. Nhưng vấn đề tường giải về ý nghĩa và giá trị trong nghệ thuật mới chỉ vừa bắt đầu: "nói cái này cái kia là nghệ thuật khác với việc nói cái này cái kia là thứ nghệ thuật hay".

Đi vòng quanh địa cầu trong chương 3, Các giao cắt văn hóa, bằng vào cách xem xét những văn cảnh xa cách nhất, khác biệt nhất với phương Tây như ở châu Phi và Nhật Bản đã giao lưu, "du ngoạn" như thế nào trong thế giới hiện đại - "ngôi làng toàn cầu" - nơi mà "không nền văn hóa nào còn có thể biệt lập và xa cách", tác giả dẫn chúng ta đến những quan sát toàn cảnh về nghệ thuật của các nền văn hóa: bị tách khỏi văn cảnh, bị xung đột và so sánh, bị lai ghép, vay mượn...Liệu chúng ta có thể tìm được điều gì đó tương tự trong nghệ thuật từ mọi nền văn hóa (Richard Anderson) như niềm tin của John Dewey: "nghệ thuật là ngôn ngữ phổ quát" giúp phá vỡ rào cản giữa các nền văn hóa? Có nghĩa là tin vào một sự tiếp xúc trực thời dù sau đó còn là vấn đề "cần phải thụ đắc được ngôn ngữ nghệ thuật". Ý tưởng về tính phổ quát của giá trị và tri nhận là một ý tưởng rất hấp dẫn nhưng sẽ còn phải chống chọi nhiều với những tranh luận đa tạp - hậu-hiện đại đã từng từ chối thẳng thừng cái phổ quát ấy. Cũng cần để ý rằng ý niệm "nghệ thuật vẫn biểu lộ ra đời sống của một cộng đồng" của Dewey sẽ đưa ta đi xa tới câu chuyện về cách nhìn của nhánh Cultural studies (CS) đối với popular culture, về nơi các nhóm xã hội đấu tranh lẫn nhau bằng vũ khí của meanings và representations (quyền được diễn nghĩa thế giới và tái trình hiện hiện thực của các nhóm thiểu số trong mối quan hệ đối kháng với nhóm đa số) (*)

Tình thế ngập ngừng trong cách nhìn mối quan hệ có hay không có sự đối nghịch giữa nghệ thuật và đời sống như vậy hoàn toàn có thể là rất hệ trọng khi quy chiếu về vấn đề sự đấu tranh giữa các nhóm, các giai tầng xã hội - một khái niệm rõ ràng chịu ảnh hưởng bởi Marxism. Có một góc độ khác để rọi chiếu nó (chương 4, Tiền bạc, thị trường, bảo tàng), từ những thực thể có tính định chế cho nghệ thuật: các bảo tàng - chúng định tính, định vị các giá trị; là biểu tượng của cộng đồng và của các nhóm xã hội. Bảo tàng cũng là nơi thể hiện rõ nét mối liên hệ giữa nghệ thuật và tiền bạc - nguồn cơn của sự khước từ bảo tàng về sau này như những gì đã diễn ra với grafitty art hay những tác phẩm không thể bán của Christo và Jeanne-Claude. Quyết liệt hơn nữa, những người đấu tranh cho nữ quyền tấn công định chế bảo tàng từ tận những chuẩn tắc và nêu những câu hỏi về một bản chất nữ (chương 5, Giới tính, thiên tài và các Nữ du kích); qua đó nổi bật lên vấn đề về việc "làm thế nào để diễn giải nghệ thuật?" - là chủ đề của chương 6. Có thể nói, nếu muốn làm biếng thì chỉ cần đọc kỹ chương này và chương cuối của cuốn sách. Thực tế tinh thần của các chương khác đã được xây dựng xung quanh những luận điểm lý luận quan trọng của 2 chương ấy. Chúng đã tạo ra mạch lạc của một bản đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật. Nhưng phải chăng đó cũng là chỉ dấu cho thấy hoàn toàn có thể còn những phiên bản khác để diễn giải bức tranh lý thuyết nghệ thuật, trong một nguồn mạch khác.

(còn tiếp)
----------

(*) Tham khảo ở đây: http://gauxx.blogspot.com/2012/05/cai-oi.html




Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Phi-vô-bất-chẳng Niệm xứ. 1

Cũng giống như đề mục "truyền thông", tìm hiểu về "nghệ thuật đương đại" đối với tôi là việc phải làm nên biết trong chuỗi tiến hóa của bản thân. Nhưng "biết đến mức nào thì đủ?". Khi mà "truyền thông chính là văn hóa" (à la CS) và nghệ thuật đương đại thì nhập thế đến độ phổ sinh và chính là sự mở rộng và sáng tạo không ngừng cách chúng ta tri giác về thế giới mà ta ở-đó? Câu hỏi này hơi khó chịu và dai dẳng nhưng tôi nghĩ vẫn không thể thay được câu hỏi "sống thế nào?" bằng những câu kiểu như "nghiên cứu/hiểu/biết/chơi/làm truyền thông (hay contemporary art) thế nào là đủ?". Thì cứ thử đọc to mấy câu hỏi ấy lên mà xem ^^ "Người ta có quyền hoài nghi khi không hiểu một cái gì đó" (N.Chomsky)

Carnets
(Dự án nghệ thuật đương đại đa phương tiện: Những chân trời có người bay)

- Không gian gây ấn tượng trực thời nhất. Làm liên tưởng đến nghệ thuật Origami: cả không gian như từ một tờ giấy được gấp dựng lên một nơi chốn chơi-trò chơi. Mỗi điểm studio trên bề mặt biến đổi này như là một cái hốc: từ nghĩa đen 3D đến một chiều thếp mới - nó như một concept đang được kiến tạo và khu trú trong văn cảnh.

- Sự đồng nhất (vô tình?) về thời trang của những người trong khuôn viên (cả khán giả và nghệ sỹ): tông màu đô thị ấm, bạc, hơi vô sắc, chói chỉ là điểm xuyết. Chất cảm thấm, xốp. Nôm na là kiểu bụi bụi quen quen nhưng sạch sẽ.

- Thời gian vụt chạc và nhất thời của khán giả. Thời gian "đầy đủ" của nghệ sỹ theo kế hoạch. Luôn là như vậy. Cần một cam kết? Một sự giáo dục? Một sự thông diễn? Phải chăng luôn là bất đối xứng?

- Sự vượt trội của các thiết bị ghi hình và cảm giác thiếu vắng sự mật thiết chú tâm.

- Thông cáo báo chí và tên dự án (với cảm nhận cá nhân) là hơi xoàng. Đặt đâu cũng được, cũng vẫn thế.

- Đa phương tiện - tiến trình. Giải cấu trúc.


Khác

- Một bước về phía tự do, tự khẳng, tự quyết.

- Phản tư, nghiệm sinh, mô tả, biểu hiện và tương tác giao tình - đào sâu, mở rộng trải nghiệm - (một cách) sáng tạo.

- Phép phân tích ba tuyến (three-pronged analysis): các đương lượng hình thức và chất liệu/nội dung tư tưởng tác phẩm/văn cảnh của tác phẩm. Hội tụ hay chính độ chênh mới đem lại khả thể?


Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Đọc "Chữ số hay lịch sử một phát minh vĩ đại" - Georges Ifrah


Tôi mua cuốn sách này kèm với mấy cuốn khác ở chỗ NXB. Cũng ngần ngừ rồi nhặt vì nghĩ nó thể nào cũng có phần nói về mối liên hệ nhận thức con số với thân thể con người - là chủ đề mà tôi quan tâm. Sách dạng này có cái hay là dễ đọc một lèo, không phải đắn đo suy xét nhiều. Tưởng là vậy nhưng đọc đến hồi cuối thì cũng phải chép lại vài điều.

Đáng kể nhất, nổi bật nhất là cảm khái về sự vòng vo, khúc khuỷu của lịch sử nhận thức của nhân loại đối với con số. Nó không phải kiểu liên tục hay tuyến tính, mà tiến hóa dần dần cũng như sự tiến hóa của lịch sử các xã hội rời rạc trên quả đất. Một cái gì hiển nhiên hóa ra không hiển nhiên. Cái gì tưởng như bản năng hóa ra không phải như vậy. Toán học thường được coi là tư biện, trừu tượng bậc nhất, nhưng ở đây, gắn với câu chuyện của những con số, nó có nhân thân xuất xứ hẳn hoi - luôn luôn là là mặt đất, ở đâu đó giữa xã hội, lợn gà dê bò thóc lúa...

Sách có nhiều hình minh họa, nhiều câu chuyện chi tiết cụ thể để những người ưa thích toán học có thể lưu trữ trong vốn liếng câu chuyện làm quà của mình. Tôi quan tâm nhiều đến cái chiều kích cảm nghiệm thân thể trong tương quan với thế giới quan như thế nào hơn là những chi tiết minh họa nhiều khi rất lằng nhằng mệt óc. Đấy cũng là cái hay của loại sách thường thức này: có thể đọc theo nhiều cách khác nhau, tùy tạng mỗi người.

Carnets:

- Con người thông minh và có tính xã hội: sự vượt trội của kinh nghiệm so với bẩm sinh.

- Cảm nghiệm thân thể - quy chiếu về thân thể: con người cổ đại phân biệt 1, 2 và rất nhiều (3 = rất nhiều)/ từ những ý niệm cụ thể và quan trọng xung quanh họ.

- Người Ấn độ diễn đạt các con số bằng những ý niệm: 0 = không khí, rỗng không, trời...1 = mặt trăng, vị thần, kinh Veda...2 = cặp đôi...

- Ý niệm phổ quát về số học (không có tháp Babel)

- Lịch sử số học với/trong xã hội, được lưu trữ hay lựa chọn do xã hội.

- Con số googol 10 mũ 100: giới hạn của thế giới vật lý/số hạt cơ bản trong vũ trụ 10 mũ 88, tỷ lệ đường kính foton và đường kính vũ trụ 10 mũ 42....

- Cái vô hạn  = phủ định hữu hạn. Số siêu lớn: cái vô hạn - bộ phận = tổng thể.
-------------------

Có những pha mình đọc sách rất vào, lại có pha mình viết rất hăng. Tầm này lại đang rơi vào pha đọc loáng thoáng, nghĩ ngợi, đánh dấu và kết nối nên lười viết ^^ Nhưng cũng phải cố vì để lâu sẽ chán blogging thì sợ là tụt hẳn :P

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

Bùi Văn Nam Sơn - Đạo đức học diễn ngôn


(Jurgen Habermas, Karl-Otto Apel)


- Phân biệt Đạo đức học với Luân lý:
            + Luân lý (Moral) là những điều quy định con người nên hay không nên làm.
            + Đạo đức học là môn học bàn về cơ sở của luân lý; tức là nghị luận triết học về luân lý. Khởi đầu từ triết học Hy Lạp cổ đại.
            + Các phái sinh của Đạo đức học: Triết học xã hội, triết học pháp quyền...Tất cả thuộc nhánh triết học thực hành với đối tượng là hành động của con người. Nó phân biệt với nhánh khác của triết học lý thuyết như siêu hình học...

- Về khái niệm Diễn ngôn:
            + Là một khái niệm thời trang kể từ những năm 60s của thế kỷ trước.
            + Khái niệm Diễn ngôn có nhiều lớp nghĩa, tuy nhiên trong Đạo đức học nó được xác định bằng một nghĩa hẹp: phân biệt với Lời nói có tính chất trao đổi thông tin, Diễn ngôn là hành vi truyền thông đặc biệt, đặc thù. Bằng lập luận nó bàn về cơ sở của những yêu sách khẳng định có tính phổ quát.
            + Sự bàn luận ở đây không phải là những giáo điều quyền uy mà bằng các lập luận. Nó không trao đổi thông tin mà trao đổi các luận cứ (ủng hộ hay phản biện những yêu sách có giá trị phổ biến - vd: yêu sách không giết người - xem chúng có biện minh được hay không).

- Về khái niệm "Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành":
            + Ví dụ: khi tôi nói "tôi sẽ không nói gì", có 2 phương diện ở đây là nội dung lời nói và hành động thực hiện (hành động nói, hành vi nói). Hành vi nói đã phủ định nội dung của nó. Đây chính là Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành. Chỉ diễn trình ngôn ngữ trong hoàn cảnh nào đó. Nói tự nó đã là một hành vi làm điều gì đó.
            + Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành là bí quyết để xây dựng Đạo đức học diễn ngôn. Habermas và Apel đã sử dụng nó để giải quyết vấn đề đặt cơ sở tối hậu cho các luân lý.

- Tham vọng đặt cơ sở tối hậu là khả nghi. Triết gia duy lý phê phán Hans Albert đã phân tích về tham vọng này là bất khả thi: Bộ ba bất khả thi, Tam nan, Tam bất khả. Muốn đặt cơ sở tối hậu chỉ có 3 cách, và đều bế tắc.
            + (1) Quy thoái đến vô tận
            + (2) Luẩn quẩn - đặt cơ sở trong một cái cũng phải đặt cơ sở.
            + (3) Cắt đứt: bằng khẳng định, khẳng quyết võ đoán, giáo điều.
- Tóm lại chính sự tự mâu thuẫn ngôn hành sẽ là chìa khóa giúp Apel đi vòng qua khỏi tam nan. (Một cương lĩnh nghiên cứu tham vọng, mạo hiểm).

- Lược sử hình thành 4 mô hình trong lịch sử triết học:
            (1) - Truyền thống đối thoại Socratics: Hộ sinh tinh thần.
            (2) - Triết học siêu nghiệm của Kant (mệnh lệnh nhất quyết): hình mẫu cho đạo đức học phổ quát.
            (3) - Diễn ngôn tương đối luận - đưa kích thước lịch sử vào trong triết học (tiêu biểu của thời Hiện đại, Hậu hiện đại, bắt nguồn từ Heghel)
            (4) - Sự thay đổi hệ hình thông qua Habermas và Apel bằng triết học ngôn ngữ và tính liên chủ thể.

1 - Truyền thống Socratics:
            + Dẫn người đối thoại vào những câu hỏi đơn giản, bằng cách đặt câu hỏi, lập luận đối thoại cùng nhau đi đến chân lý.
            + Lối lập luận dũng mãnh nhưng không áp lực, quyền uy hay lừa dối. Tạo ra sự cưỡng bách không có tính cưỡng bách của luận cứ tốt hơn.
            + Khác với biện sỹ, Socratics không nhằm thuyết phục mà tạo ra sự xác tín nơi người đối thoại (hộ sinh tinh thần).
            + Hình thức đối thoại thư giãn, vui vẻ, là cách để tránh khỏi hoạt động. Môi trường thuần lý, thoát khỏi mọi sức ép. Khác với những đối thoại chính trị hay biện hộ trước tòa là dùng lời nói theo đuổi lợi ích; là những hành động mang tính chiến lược strategic action, nhiều tính toán mưu mô vì mục đích riêng.

* Di sản của Soccratics là phân biệt hành động chiến lược với hành động tương giao thông hiểu lẫn nhau (communicative action).

2 - Triết học Kant - Kant để lại 2 di sản cho Đạo đức học diễn ngôn:
            a- Triết học siêu nghiệm: siêu nghiệm là cái có trước cái nghiệm, là tiền đề khả thể cho việc hình thành kinh nghiệm của chúng ta. (Những cái gì nằm sẵn trong ta).
            + Apel cải biến Kant: thay vì điều kiện khả thể của cái tôi cá biệt, cô đơn chủ quan; không phải tìm ở cái tôi cá nhân mà tìm ở liên chủ thể.
            + Apel gọi Đạo đức học diễn ngôn là Ngữ dụng học siêu nghiệm (điều kiện khả thể của những cá nhân đối thoại liên chủ thể).
            b- Mệnh lệnh nhất quyết: ta là con người có dục vọng nên phải có mệnh lệnh ràng buộc. Có 2 loại mệnh lệnh: mệnh lệnh giả thuyết (có quyền không theo) và mệnh lệnh nhất quyết (không thể không làm)
            + Kant: mệnh lệnh nhất quyết từ chính anh đặt cho anh nếu là người. Là sự hiển nhiên của lý tính không thể chứng minh, cũng không thể phản đối. Vd như việc cứu người.
            + "Hãy hành động sao cho châm ngôn của ý chí của bạn lúc nào cũng có giá trị hiệu lực như những nguyên lý phổ quát".
            + Nguyên lý mệnh lệnh nhất thiết nó ghi nhận nhưng không thừa nhận những quy luật có tính khu vực.
            + Theo Kant: có 1 quy luật có nguyên lý phổ quát; nếu không luân lý sẽ sụp đổ, chỉ còn lại những tập quán.

3 -  Tương đối luận:
            + Con người không chỉ là công dân trong thế giới phổ quát, còn là con người cụ thể trong tình thế cụ thể.
            + Hình thành trường phái nhấn mạnh hiện thực xã hội chống lại nguyên lý phổ quát - bỏ qua, cào bằng. Chủ trương nền đạo đức cụ thể, thực chất, mang tính lịch sử; khởi từ Heghel.
            + Đặt ra hàng loạt vấn đề. Có một biến thể cực đoan: quá nhấn mạnh dị biệt "không có cái thiện nói chung. Chỉ có những cái được coi là thiện trong từng bối cảnh cụ thể". Trào lưu Hậu hiện đại hoan nghênh sự suy tàn của quan niệm phổ quát: trò chơi vô tận của những sự khác biệt. Kant chỉ là thuyết vị chủng.
            + Hậu hiện đại là cơ sở biện minh cho những giá trị (lỗi thời) châu Á (nhân quyền mang màu sắc châu Á).
4 - Habermas: sự thống nhất của lý tính và sự đa dạng của những giọng nói.
            + Sự thống nhất của lý tính: bảo vệ di sản của Khai Minh.
            + Sự đa dạng của giọng nói: sự mới mẻ của thời đại cần được tính toán đến.
- Bảo vệ 2 điều trên bằng cách nào?
            + Không đơn giản trong quyền uy
            + Không đơn giản triết học chủ thể độc thoại.
- Cải biến Kant bằng triết học ngôn ngữ: thay đổi hệ hình (mẫu mực và hệ thống khuôn mẫu).
- Có 3 giai đoạn hệ hình:
            (a) - Lấy sự tồn tại làm đối tượng nghiên cứu.
            (b) - Lấy ý thức cá nhân làm đối tượng nghiên cứu
            (c) - Lấy liên chủ thể - thông qua ngôn ngữ như là môi trường - làm đối tượng nghiên cứu.
Đây là bước ngoặt triết học ngôn ngữ.
            + Cổ đại Hy lạp (a): "nó là gì?" tìm cầu trúc khách quan của thế giới từ đó chủ thể rút ra kết luận cho mình.
            + Decarte (b): triết học về ý thức. Cơ sở tối hậu của sự xác tín là cái tôi tư duy - từ đó xây dựng toàn bộ thế giới. Nguy cơ của hệ hình này là hố thẳm của thuyết duy ngã.
            + Bước thay đổi triệt để: từ tính khách quan thuần túy, từ chủ quan thuần túy độc thoại đến sự tương giao liên chủ thể. (c) giải quyết được: (i) phá vỡ khuôn khổ chật hẹp cũ; (ii) Tạo được sự đồng nhất hóa tông qua đồng thuận chung của những cá nhân đa tao trong một đối thoại đa nguyên.
- Theo Habermas thì 2 lý tưởng đạo đức tưởng như xung đột với nhau đã được kết hợp trong đạo đức học diễn ngôn: đó là sự kết hợp giữa lý tưởng tự do và lý tưởng đoàn kết.
            + Nếu cá nhân được tự do tham gia vào diễn ngôn trong một cộng đồng ngôn ngữ hòa nhập bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng hướng tới sự thông hiểu thì sẽ vượt qua được sự xung đột.
-  Diễn ngôn không phải là trao đổi thông tin. Khi nào có vấn đề (xem quan điểm có đúng không/xem hoạt động ứng xử có đúng không).
            + Khi diễn ngôn ta phải tạm thời tách mình ra khỏi sự hối hả của đời sống: giữ khoảng cách với chính mình và sự vật thì mới có thể diễn ngôn. Lý tưởng của diễn ngôn ở đây là những cuộc đàm thoại thung dung (Hy Lạp cổ đại) - để nghe nhau, thông cảm cho nhau. Là hành động đích thực mang tính người (tương giao).
            + Diễn ngôn bàn về những vấn đề nguyên tắc. Trong diễn ngôn ta làm gì? (ngoài nội dung).
            + Phải tiền giả định một số điều kiện cơ bản (những điều kiện khả thể cho nhận thức).

- Ta phải tiền giả định 4 điều kiện:
            (1) - Ta quan tâm đến tính đúng đắn của sự việc không vì mục đích riêng
            (2) - Tầm quan trọng của lời nói là ở nội dung chứ không phải ở quyền uy.
            (3) - Mục đích không phải giành lẽ phải về phía mình mà là sự khách quan.
            (4) - Lập luận dần dần dẫn đến xác tín (không phải sự lừa dối).

- Thực ra trong đối thoại chính trị, hay kinh doanh cũng đều phải có 4 tiền giả định này.

- Tiền giả định có thể trái với thực tế:
            + Nó giữ vai trò chân trời không tưởng - nó quy định sự thành tựu của mọi diễn ngôn.

(Habermas) - (4 tiền đề): Hoàn cảnh nói lý tưởng - gồm 4 tính chất:
            (1) - Bình đẳng (mọi người đều có cơ hội diễn ngôn)
            (2) - Cởi mở và minh bạch
            (3) - Trung thực và chân thật
            (4) - Sự tử tế với nhau.

(Habermas): Hoàn cảnh nói lý tưởng không phải là 1 hiện tượng thường nghiệm, không phải sản phẩm tưởng tượng mà là một sự giả định mà ta phải cần dành cho nhau. Nó là một sự dự đoán, một ý niệm điều hướng. Nếu không mọi diễn ngôn đều vô ích. (Diễn ngôn lý tưởng nơi chân lý, sự đúng đắnm hình thành lên thông qua sự đồng thuận của mọi người).

* Apel sử dụng đặc điểm này để đặt cơ sở tối hậu cho Đạo đức học diễn ngôn: Ngữ dụng học siêu nghiệm.
- Ngữ dụng học phân biệt: cú pháp học (ký hiệu), ngữ nghĩa học (quan hệ ý nghĩa và ký hiệu), ngữ dụng học (ký hiệu và người sử dụng).

- Lý thuyết hành vi nói:
            + Hành động nói nhấn mạnh tính cách hành động của lời nói (Austin).
            + Trong hành vi nói ta phân biệt nội dung nói với hành vi nói.
- Ngữ dụng học : hoàn cảnh nói cụ thể, tình hình, hành động tương giao.
- Siêu nghiệm: điều kiện khả thể.

Apel tra hỏi điều kiện khả thể tối hậu của diễn ngôn bằng truyền thông, tương giao, liên chủ thể. Sự tự mâu thuẫn ngôn hành là chìa khóa xác lập.

- Ý tưởng: ngay người hoài nghi triệt để nhất khi bảo vệ quan điểm của họ cũng phải bằng 1 hành động (lập luận) - mặc nhiên đã có những tiền giả định không thể tránh khỏi. (Vd tôi nói "tôi không nói").
- Trong một diễn ngôn thực hành cũng phải mặc nhiên thực hiện một số quy tắc.
- Không thể đặt điều kiện về những tiền đề giả định. Khi lập luận buộc phải chấp nhận điều kiện khả thể. Không chỉ trong môi trường ngôn ngữ mà còn giữa những người khác trong xã hội, thậm chí là những người ở tương lai.

(Apel): Cái tiên nghiệm của cộng đồng truyền thông (ngôn ngữ) nó là tiền đề, độc lập với nội dung cụ thể. Không thể chứng minh được, không phủ nhận được nếu không sẽ vướng vào sự mâu thuẫn ngôn hành.
- Hoàn cảnh nói lý tưởng của Habermas: ngoài những yêu cầu tối thiểu về logic còn đỏi hỏi mặt quy phạm. Ngoài bình đẳng còn cùng chịu trách nhiệm về sự đồng thuận. (Trách nhiệm cộng đồng).

- Đạo đức học diễn ngôn không chỉ riêng cho diễn ngôn. Nó đặt cơ sở tối hậu cho đạo đức học nói chung.
Điểm này khác biệt với Habermas vốn chỉ tập trung vào phương thức và thao tác đạt được quy phạm luân lý. Ông gọi Đạo đức học diễn ngôn là Ngữ dụng học phổ quát.

- Nguyên tắc phổ quát hóa của Habermas: (trong điều kiện thế kỷ 20 với sự phức tạp) Bất kỳ quy phạm có giá trị nào đáp ứng những điều kiện sau:
            + Bất kỳ hoạt động cá nhân theo một nguyên tắc đạo đức nào đó tạo ra những hậu/hệ quả được mọi người chấp nhận.
            + Một quy phạm chỉ được phép yêu sách có giá trị hiệu lực khi mọi người tham gia đều đồng thuận.
- 02 nguyên lý của Habermas bảo vệ triết học khỏi:
            + Nguy cơ giáo điều tiền Khai Minh và phản Khai Minh.
            + Tránh nguy cơ tùy tiện của Hậu Hiện Đại (chối bỏ mọi yêu cầu phổ quát).
            + Nguy cơ tân bảo thủ: chỉ dựa vào những quy ước đơn lẻ, từng trường hợp; tránh né trao đổi diễn ngôn, chỉ chấp nhận tập quán.
            + Bảo vệ di sản thuyết phổ quát đạo đức học Kant thông qua  con đường đồng thuận liên chủ thể.

Apel bổ sung 1 nguyên lý khác:
- Habermas mới chỉ là phương thức thao tác chưa vào cốt lõi - phải gắn với cứu cánh.
- Trước thực tế hoàn cảnh nói lý tưởng hiếm khi diễn ra mà hệ quả đối với từng cá nhân tham gia vào diễn ngôn là nghiêm trọng. Cần rút ta nguyên lý bổ sung: hãy hành động theo châm ngôn bạn có thể giả định rằng bằng việc tham gia diễn ngôn, hậu quả đều được các cá nhân tham gia chấp nhận. (Ý thức tự giác tham gia diễn ngôn hiện thực).
- (Khi tham gia khó loại trừ trường hợp có người có tư duy chiến lược với ý đồ tinh vi). Apel: chúng ta phải hành động thế nào cho những hoạt động phi bạo lực, quyền lực của diễn ngôn ngày càng trở thành thực tiễn - đưa hoàn cảnh nói lý tưởng vào thực tiễn.
- Cương lĩnh đấu tranh cho nền dân chủ hiện đại:nguyên lý đạo đức, nghĩa vụ luân lý.
- Nguyên lý khác: nguyên lý bảo tồn nền tảng sống còn thuộc về bản chất người - cộng đồng tương giao - bảo vệ những thành tựu văn hóa lịch sử - nguy cơ hủy diệt môi sinh...
------------
Mở rộng:
- Ở các nước thế giới thứ 3 (quá khứ thuộc địa): vấn đề hòa giải, đồng thuận. Muốn đạt được phải đặt cơ sở trên 1 số giả định.
1 - Đối chiếu Đạo đức học diễn ngôn và Đạo đức học Kant:
            + Phê phán duy ngã trong Kant có chính đáng không? Kant đã có ý về quan hệ với người khác. Ý chí luân lý đã thừa nhận tự do của người khác. Thực chất là đã có tính liên chủ thể.
2 - Đạo đức học diễn ngôn là tiến hay lùi so với Kant?
- Đạo đức học diễn ngôn đặt cơ sở cho nhân quyền nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể. Có khoảng cách giữa hiện thực và lý tưởng. Phải chăng cần ý chí tự do của Kant?
- Habermas thay thế cảm thức luân lý bằng quy định pháp lý là đóng góp lớn của Đạo đức học diễn ngôn. Nỗ lực đặt quy phạm có đủ cơ sở cho luân lý? Phải chăng lẫn lộn giữa chính trị và luân lý? Đặt nặng lý tính xem nhẹ xúc cảm là nguy cơ đánh mất động cơ luân lý (Kant) - ý chí thiện cá nhân. Không có động cơ, quy định pháp lý mong manh.
3 - Sự chưa thống nhất giữa đồng thuận và bình đẳng:
Lyotard: đồng thuận lỗi thời, khả nghi. Bình đẳng mới quan trọng.
- Hậu hiện đại đặt ra vấn đề quan trọng: thừa nhận tính dị loại trong nhiều trò chơi ngôn ngữ khác nhau: tôn trọng, chấp nhận, chịu đựng người khác.
- Phổ quát hóa là bất khả thi, không có nguyên lý phân xử những loại diễn ngôn khác nhau. Phân biệt phân xử nội bộ diễn ngôn và phân xử giữa các diễn ngôn.
Apel trả lời: đạo đức học diễn ngôn không được phép nghị luận gia trưởng - nguy cơ toàn trị, trở lại sự thống trị của đa số.
- "Thật phi lý khi trước thách thức toàn cầu, thảm họa sinh thái, thách thức chúng ta phải sống chung với nhau tất yếu sống còn, không thể lấy yêu cầu hòa giải đồng thuận làm mối nguy cho sự đa dạng"
Apel tin rằng Đạo đức học diễn ngôn theo chúng tôi là quan niệm đạo đức học duy nhất đáp ứng được một nền đạo đức học vĩ mô hậu quy ước về một cộng đồng trách nhiệm phổ quát toàn nhân loại.
            (1) Nguyên lý diễn ngôn: cá nhân tham gia chịu trách nhiệm chung gánh phần người khác.
            (2) Là công cụ hiện đại để phân phối, điều chỉnh cùng chịu trách nhiệm, hướng dẫn kỹ năng thao tác đối với những vấn đề quy mô toàn cầu.
- Đạo đức học diễn ngôn: tinh thần dân chủ khai phóng đang phát huy trong thực tế giải quyết xung đột, hòa giải văn minh - nền tảng của quốc tế hiện đại. (Habermas, Apel: cái bàn thì tròn).



------------------------------
(Ghi chép buổi thuyết trình của BVNS ngày 24/11/2012. Có thể sẽ hiệu chỉnh lại) 

Anh Gauxx để ý BVNS dịch communicative action là hành động tương giao (liên chủ thể) - so với anh dịch hành động tương liên ở mấy bài trước.