Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Người cha đã (muốn) nói điều gì với con trai mình?

 "Con thường ít khi có thể nói chuyện lâu với ba con. Ông nói chuyện toàn những điều như trong sách Đắc nhân tâm.". Một chàng trai trẻ đã chia sẻ với tôi như vậy. Tất nhiên anh ấy vẫn yêu quý cha mẹ mình và thường chọn cách im lặng, tôn trọng lễ phép hay không phản biện gì. Nhưng như thế thì cũng là cuộc giao tiếp đã không trọn vẹn như mong muốn của mỗi người trong 2 cha con họ. 

Vậy người cha đã thực sự (muốn) nói gì với con trai mình? Đứng từ góc độ đọc tín hiệu chỉ hiệu, đã có điều gì đó xảy ra và người cha đã thực sự muốn giao tiếp với con trai mình. Có lẽ ông muốn chia sẻ trải nghiệm sống của tuổi trung niên với phiên bản trẻ tuổi, phần chịu ủy nhiệm mở rộng bản ngã của mình là người con trai trai (tất nhiên là từ góc nhìn của ông ấy - kể cả là một cách vô thức). Khi ông nói về mọi điều theo cách như thể khuôn mẫu (khuôn vàng thước ngọc) của phép thành công trong việc sống ở đời (xử thế, tu thân hay chuyện làm ăn, sự nghiệp) là thực ra ông đang chiêm nghiệm và âm thầm vô thức tự chỉnh sửa những sai sót, hối tiếc và chập chững của đời mình với con trai. 

Nhưng ông không biết/không thể kể trực tiếp về những trải nghiệm đó theo cách thông thường. 

Vì cuộc đời vốn là những tiếng ồn ào vô phương hướng chứ không phải là một cốt truyện mạch lạc mà chúng ta sẽ là kẻ có ánh sáng hào quang của nhân vật chính. Nhân sinh là phải tự mình trải qua. (Có thể bạn đang ép đời sống trả lời một câu hỏi mà nó không được cấu trúc để trả lời).

Vì khuôn mẫu nam tính truyền thống luôn đòi hỏi ông phải tự mình gánh vác, phải mạnh mẽ, phải thành công, phải hy sinh...Khi ông phải không được yếu đuối thì cũng sẽ không thể hiện theo cách thông thường được về những gì đang xảy ra với chính ông. Và khi đó người con nên biết từ sâu thẳm rằng ông đang bằng một lối ngược đời tâm sự với bạn, tìm cách kể với bạn về nỗi cô đơn, sự yếu đuối của mình trong cuộc đời. 

Chỉ là ông đã chọn sai khuôn mẫu, chính là cái khuôn mẫu mà ở đó "chân lý được coi như một hướng dẫn thấu suốt để cái Tôi quy chiếu vào". Khi nhìn nhận như vậy, ta đã có 03 giả định ngầm: (1) Có một chân lý đúng về đời sống; (2) Chân lý đó có thể được nắm bắt; (3) Khi nắm được cái tôi sẽ ổn định/bồi tụ/di đúng hướng. 

Nhưng chính ảo tưởng về 1 điểm quy chiếu tuyệt đối này sẽ tạo ra khủng hoảng: Nếu tin rằng chưa tìm ra chân lý bạn sẽ cảm thấy hoang mang, vô nghĩa. Hoặc nữa cho rằng niềm tin đặt nhầm chỗ thì cái đem lại là sự sụp đổ cay đắng. Khả năng cuối cùng chính là cái mà chàng trai trẻ đang cảm nhận: nếu ông tin rằng ông đã tìm ra công thức của chân lý thì đó sẽ có màu sắc của giáo điều, tự đóng kín mình trước người KHÁC, điều khác. 

Khủng hoảng về ý nghĩa này xét cho cùng là bởi vì chúng ta đã đòi hỏi ý nghĩa phải có một hình thức sai. Ý nghĩa không phải thứ để "CÓ" mà là thứ "XẢY RA". 

Ý nghĩa chỉ xuất hiện trong quá trình sống-hiểu. Ý nghĩa không hướng dẫn đời sống từ bên ngoài, nó xảy ra bên trong kinh nghiệm và cái Tôi sẽ là dấu vết của một lịch sử hiểu. Ý nghĩa không phải thứ để “tìm ra”: Ý nghĩa không giống nghề nghiệp, không giống mục tiêu, không giống câu slogan sống. Ý nghĩa chỉ xuất hiện khi bạn đang sống, khi bạn bị một điều gì đó chạm tới: một công việc làm bạn bối rối, một mối quan hệ làm bạn thay đổi, một thất bại khiến bạn không còn nghĩ như trước. Lúc đó, bạn thường không thốt lên: “À, đây là ý nghĩa đời tôi!”mà chỉ thấy “Mình không còn là người cũ nữa.”

Và chính chỗ đó – ý nghĩa bắt đầu xảy ra.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

nó mang chứa tuổi trẻ, nỗi niềm và kí ức tuổi đôi mươi

Chúng ta cơ bản có thể dàn khung thao tác cảm thụ và phân tích một tác phẩm hội họa theo các lớp sau: hình thức – cấu trúc – màu sắc – ngôn ngữ tạo hình – hệ mỹ cảm – giá trị nghệ thuật. 

Đầu tiên xét về ấn tượng tổng thể và khuynh hướng thì bức tranh này thuộc về trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism / lyrical abstraction), nhưng không thuần “phi hình”, mà là dạng trừu tượng gợi hình (semi-abstract). Ta vẫn đọc được bóng dáng cây, thân – cành – tán, một cấu trúc thiên nhiên bị phân mảnh và tái cấu trúc bằng ngôn ngữ hình học – vệt màu. Đây là dạng tranh thường đứng ở giao điểm giữa biểu hiện nội tâm và tổ chức tạo hình có ý thức - là một nỗ lực kiến tạo không gian cảm xúc bằng ngôn ngữ trừu tượng.

Cấu trúc không gian và bố cục của tác phẩm có dạng đa tâm - phi tuyến. Bức tranh không có một trung tâm thị giác duy nhất, thay vào đó là nhiều trọng tâm nhỏ (các cụm đỏ - trắng - nâu - xám/ các trục thân cây chạy dọc - chéo/ các mặt phẳng hình học cắt nhau) tạo cảm giác chuyển động nội tại, không gian không ổn định, như đang rung lắc, lay động. Đây là đặc trưng của không gian tâm lí - không gian được tái cấu trúc theo nhịp nội tâm. Nhịp điệu thị giác được tạo bởi sự lặp lại các mảng trắng, đỏ, xám; các vệt ngắn, đứt đoạn và các hình chồng lấn gợi liên tưởng tự nhiên đến gió lay cành hay tâm trạng, ý thức đang xao động.

Ngôn ngữ màu sắc được xây dựng trên nền gam màu xám-nâu-trắng chủ đạo trung tính, làm nền cho cảm xúc; đồng thời các điểm nhấn đỏ-cam-hồng tạo ấn tượng sinh lực và xung động. Các màu xanh lam, xanh lục đóng vai trò tạo cân bằng thị giác. Màu sắc bức tranh không tả thực mà biểu cảm mang chức năng dẫn mắt, phân lớp không gian và tạo nhịp cảm xúc. Tương phản màu sắc có dạng mềm-tán xạ, nhiều mảng màu pha đục tạo cảm giác "bụi", "mờ", "thời gian" gợi cảm thức ký ức, hoài niệm.

Xem kĩ bút pháp và chất liệu ta thấy dấu vết dụng công của bút pháp nhiều lớp chồng đặc trưng của sơn dầu, vệt ngắn, không vuốt dài, xoáy, cào, miết...bộc lộ rõ hành vi vẽ, tức là người xem có thể thấy được dấu vết của quá trình sáng tạo. Bề mặt dày, gồ, nhiều lớp tạo cảm giác "thời gian tích tụ của trường vật chất mang chứa cảm xúc.

Chúng ta vẫn có thể nhận ra hình tượng "Cây" (với thân-cành-tán) trong tạo hình bức tranh như một motif hiện sinh: ở đây cây bị phân mảnh, tái cấu trúc và xuyên cắt bởi hình học - thức cây trong tâm trí, của ký ức, cảm xúc nội tâm; làm liên tưởng dễ dàng đến những nỗi xao xuyến về cội rễ, sinh trưởng và thời gian. Ở trong hình thức không nguyên vẹn và bị cắt mảnh, xô lệch, lay động của hình tượng cây chính là một cách phản ảnh nỗi niềm của một chủ thể hiện đại, sống trong thế giới phân mảnh, nhưng vẫn tìm cách đứng vững. Hệ mỹ cảm mà tác phẩm mang lại nằm chênh vênh giữa trữ tình và bất an của tuổi trẻ (tác giả đã vẽ bức tranh này từ thời đôi mươi - giờ đem tặng lại cho tôi cất giữ), thứ mỹ cảm của tâm thức đô thị hiện đại, nơi con người sống trong nhịp nhanh nhưng vẫn khao khát tự nhiên và căn tính. Với tôi, đây là một tác phẩm trừu tượng gợi hình có giá trị, với bố cục và bút pháp nghiêm túc, biểu đạt được một trạng thái hiện sinh – tự nhiên – ký ức thông qua ngôn ngữ hiện đại, vượt khỏi mức trang trí thuần túy để bước vào vùng nghệ thuật. Và điều quan trọng nhất là nó mang chứa tuổi trẻ, nỗi niềm và kí ức tuổi đôi mươi của tác giả mà nay tôi được cùng chia sẻ, suy niệm.