Hiển thị các bài đăng có nhãn BVNS. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BVNS. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

Bùi Văn Nam Sơn - Đạo đức học diễn ngôn


(Jurgen Habermas, Karl-Otto Apel)


- Phân biệt Đạo đức học với Luân lý:
            + Luân lý (Moral) là những điều quy định con người nên hay không nên làm.
            + Đạo đức học là môn học bàn về cơ sở của luân lý; tức là nghị luận triết học về luân lý. Khởi đầu từ triết học Hy Lạp cổ đại.
            + Các phái sinh của Đạo đức học: Triết học xã hội, triết học pháp quyền...Tất cả thuộc nhánh triết học thực hành với đối tượng là hành động của con người. Nó phân biệt với nhánh khác của triết học lý thuyết như siêu hình học...

- Về khái niệm Diễn ngôn:
            + Là một khái niệm thời trang kể từ những năm 60s của thế kỷ trước.
            + Khái niệm Diễn ngôn có nhiều lớp nghĩa, tuy nhiên trong Đạo đức học nó được xác định bằng một nghĩa hẹp: phân biệt với Lời nói có tính chất trao đổi thông tin, Diễn ngôn là hành vi truyền thông đặc biệt, đặc thù. Bằng lập luận nó bàn về cơ sở của những yêu sách khẳng định có tính phổ quát.
            + Sự bàn luận ở đây không phải là những giáo điều quyền uy mà bằng các lập luận. Nó không trao đổi thông tin mà trao đổi các luận cứ (ủng hộ hay phản biện những yêu sách có giá trị phổ biến - vd: yêu sách không giết người - xem chúng có biện minh được hay không).

- Về khái niệm "Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành":
            + Ví dụ: khi tôi nói "tôi sẽ không nói gì", có 2 phương diện ở đây là nội dung lời nói và hành động thực hiện (hành động nói, hành vi nói). Hành vi nói đã phủ định nội dung của nó. Đây chính là Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành. Chỉ diễn trình ngôn ngữ trong hoàn cảnh nào đó. Nói tự nó đã là một hành vi làm điều gì đó.
            + Sự tự mâu thuẫn về ngôn hành là bí quyết để xây dựng Đạo đức học diễn ngôn. Habermas và Apel đã sử dụng nó để giải quyết vấn đề đặt cơ sở tối hậu cho các luân lý.

- Tham vọng đặt cơ sở tối hậu là khả nghi. Triết gia duy lý phê phán Hans Albert đã phân tích về tham vọng này là bất khả thi: Bộ ba bất khả thi, Tam nan, Tam bất khả. Muốn đặt cơ sở tối hậu chỉ có 3 cách, và đều bế tắc.
            + (1) Quy thoái đến vô tận
            + (2) Luẩn quẩn - đặt cơ sở trong một cái cũng phải đặt cơ sở.
            + (3) Cắt đứt: bằng khẳng định, khẳng quyết võ đoán, giáo điều.
- Tóm lại chính sự tự mâu thuẫn ngôn hành sẽ là chìa khóa giúp Apel đi vòng qua khỏi tam nan. (Một cương lĩnh nghiên cứu tham vọng, mạo hiểm).

- Lược sử hình thành 4 mô hình trong lịch sử triết học:
            (1) - Truyền thống đối thoại Socratics: Hộ sinh tinh thần.
            (2) - Triết học siêu nghiệm của Kant (mệnh lệnh nhất quyết): hình mẫu cho đạo đức học phổ quát.
            (3) - Diễn ngôn tương đối luận - đưa kích thước lịch sử vào trong triết học (tiêu biểu của thời Hiện đại, Hậu hiện đại, bắt nguồn từ Heghel)
            (4) - Sự thay đổi hệ hình thông qua Habermas và Apel bằng triết học ngôn ngữ và tính liên chủ thể.

1 - Truyền thống Socratics:
            + Dẫn người đối thoại vào những câu hỏi đơn giản, bằng cách đặt câu hỏi, lập luận đối thoại cùng nhau đi đến chân lý.
            + Lối lập luận dũng mãnh nhưng không áp lực, quyền uy hay lừa dối. Tạo ra sự cưỡng bách không có tính cưỡng bách của luận cứ tốt hơn.
            + Khác với biện sỹ, Socratics không nhằm thuyết phục mà tạo ra sự xác tín nơi người đối thoại (hộ sinh tinh thần).
            + Hình thức đối thoại thư giãn, vui vẻ, là cách để tránh khỏi hoạt động. Môi trường thuần lý, thoát khỏi mọi sức ép. Khác với những đối thoại chính trị hay biện hộ trước tòa là dùng lời nói theo đuổi lợi ích; là những hành động mang tính chiến lược strategic action, nhiều tính toán mưu mô vì mục đích riêng.

* Di sản của Soccratics là phân biệt hành động chiến lược với hành động tương giao thông hiểu lẫn nhau (communicative action).

2 - Triết học Kant - Kant để lại 2 di sản cho Đạo đức học diễn ngôn:
            a- Triết học siêu nghiệm: siêu nghiệm là cái có trước cái nghiệm, là tiền đề khả thể cho việc hình thành kinh nghiệm của chúng ta. (Những cái gì nằm sẵn trong ta).
            + Apel cải biến Kant: thay vì điều kiện khả thể của cái tôi cá biệt, cô đơn chủ quan; không phải tìm ở cái tôi cá nhân mà tìm ở liên chủ thể.
            + Apel gọi Đạo đức học diễn ngôn là Ngữ dụng học siêu nghiệm (điều kiện khả thể của những cá nhân đối thoại liên chủ thể).
            b- Mệnh lệnh nhất quyết: ta là con người có dục vọng nên phải có mệnh lệnh ràng buộc. Có 2 loại mệnh lệnh: mệnh lệnh giả thuyết (có quyền không theo) và mệnh lệnh nhất quyết (không thể không làm)
            + Kant: mệnh lệnh nhất quyết từ chính anh đặt cho anh nếu là người. Là sự hiển nhiên của lý tính không thể chứng minh, cũng không thể phản đối. Vd như việc cứu người.
            + "Hãy hành động sao cho châm ngôn của ý chí của bạn lúc nào cũng có giá trị hiệu lực như những nguyên lý phổ quát".
            + Nguyên lý mệnh lệnh nhất thiết nó ghi nhận nhưng không thừa nhận những quy luật có tính khu vực.
            + Theo Kant: có 1 quy luật có nguyên lý phổ quát; nếu không luân lý sẽ sụp đổ, chỉ còn lại những tập quán.

3 -  Tương đối luận:
            + Con người không chỉ là công dân trong thế giới phổ quát, còn là con người cụ thể trong tình thế cụ thể.
            + Hình thành trường phái nhấn mạnh hiện thực xã hội chống lại nguyên lý phổ quát - bỏ qua, cào bằng. Chủ trương nền đạo đức cụ thể, thực chất, mang tính lịch sử; khởi từ Heghel.
            + Đặt ra hàng loạt vấn đề. Có một biến thể cực đoan: quá nhấn mạnh dị biệt "không có cái thiện nói chung. Chỉ có những cái được coi là thiện trong từng bối cảnh cụ thể". Trào lưu Hậu hiện đại hoan nghênh sự suy tàn của quan niệm phổ quát: trò chơi vô tận của những sự khác biệt. Kant chỉ là thuyết vị chủng.
            + Hậu hiện đại là cơ sở biện minh cho những giá trị (lỗi thời) châu Á (nhân quyền mang màu sắc châu Á).
4 - Habermas: sự thống nhất của lý tính và sự đa dạng của những giọng nói.
            + Sự thống nhất của lý tính: bảo vệ di sản của Khai Minh.
            + Sự đa dạng của giọng nói: sự mới mẻ của thời đại cần được tính toán đến.
- Bảo vệ 2 điều trên bằng cách nào?
            + Không đơn giản trong quyền uy
            + Không đơn giản triết học chủ thể độc thoại.
- Cải biến Kant bằng triết học ngôn ngữ: thay đổi hệ hình (mẫu mực và hệ thống khuôn mẫu).
- Có 3 giai đoạn hệ hình:
            (a) - Lấy sự tồn tại làm đối tượng nghiên cứu.
            (b) - Lấy ý thức cá nhân làm đối tượng nghiên cứu
            (c) - Lấy liên chủ thể - thông qua ngôn ngữ như là môi trường - làm đối tượng nghiên cứu.
Đây là bước ngoặt triết học ngôn ngữ.
            + Cổ đại Hy lạp (a): "nó là gì?" tìm cầu trúc khách quan của thế giới từ đó chủ thể rút ra kết luận cho mình.
            + Decarte (b): triết học về ý thức. Cơ sở tối hậu của sự xác tín là cái tôi tư duy - từ đó xây dựng toàn bộ thế giới. Nguy cơ của hệ hình này là hố thẳm của thuyết duy ngã.
            + Bước thay đổi triệt để: từ tính khách quan thuần túy, từ chủ quan thuần túy độc thoại đến sự tương giao liên chủ thể. (c) giải quyết được: (i) phá vỡ khuôn khổ chật hẹp cũ; (ii) Tạo được sự đồng nhất hóa tông qua đồng thuận chung của những cá nhân đa tao trong một đối thoại đa nguyên.
- Theo Habermas thì 2 lý tưởng đạo đức tưởng như xung đột với nhau đã được kết hợp trong đạo đức học diễn ngôn: đó là sự kết hợp giữa lý tưởng tự do và lý tưởng đoàn kết.
            + Nếu cá nhân được tự do tham gia vào diễn ngôn trong một cộng đồng ngôn ngữ hòa nhập bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng hướng tới sự thông hiểu thì sẽ vượt qua được sự xung đột.
-  Diễn ngôn không phải là trao đổi thông tin. Khi nào có vấn đề (xem quan điểm có đúng không/xem hoạt động ứng xử có đúng không).
            + Khi diễn ngôn ta phải tạm thời tách mình ra khỏi sự hối hả của đời sống: giữ khoảng cách với chính mình và sự vật thì mới có thể diễn ngôn. Lý tưởng của diễn ngôn ở đây là những cuộc đàm thoại thung dung (Hy Lạp cổ đại) - để nghe nhau, thông cảm cho nhau. Là hành động đích thực mang tính người (tương giao).
            + Diễn ngôn bàn về những vấn đề nguyên tắc. Trong diễn ngôn ta làm gì? (ngoài nội dung).
            + Phải tiền giả định một số điều kiện cơ bản (những điều kiện khả thể cho nhận thức).

- Ta phải tiền giả định 4 điều kiện:
            (1) - Ta quan tâm đến tính đúng đắn của sự việc không vì mục đích riêng
            (2) - Tầm quan trọng của lời nói là ở nội dung chứ không phải ở quyền uy.
            (3) - Mục đích không phải giành lẽ phải về phía mình mà là sự khách quan.
            (4) - Lập luận dần dần dẫn đến xác tín (không phải sự lừa dối).

- Thực ra trong đối thoại chính trị, hay kinh doanh cũng đều phải có 4 tiền giả định này.

- Tiền giả định có thể trái với thực tế:
            + Nó giữ vai trò chân trời không tưởng - nó quy định sự thành tựu của mọi diễn ngôn.

(Habermas) - (4 tiền đề): Hoàn cảnh nói lý tưởng - gồm 4 tính chất:
            (1) - Bình đẳng (mọi người đều có cơ hội diễn ngôn)
            (2) - Cởi mở và minh bạch
            (3) - Trung thực và chân thật
            (4) - Sự tử tế với nhau.

(Habermas): Hoàn cảnh nói lý tưởng không phải là 1 hiện tượng thường nghiệm, không phải sản phẩm tưởng tượng mà là một sự giả định mà ta phải cần dành cho nhau. Nó là một sự dự đoán, một ý niệm điều hướng. Nếu không mọi diễn ngôn đều vô ích. (Diễn ngôn lý tưởng nơi chân lý, sự đúng đắnm hình thành lên thông qua sự đồng thuận của mọi người).

* Apel sử dụng đặc điểm này để đặt cơ sở tối hậu cho Đạo đức học diễn ngôn: Ngữ dụng học siêu nghiệm.
- Ngữ dụng học phân biệt: cú pháp học (ký hiệu), ngữ nghĩa học (quan hệ ý nghĩa và ký hiệu), ngữ dụng học (ký hiệu và người sử dụng).

- Lý thuyết hành vi nói:
            + Hành động nói nhấn mạnh tính cách hành động của lời nói (Austin).
            + Trong hành vi nói ta phân biệt nội dung nói với hành vi nói.
- Ngữ dụng học : hoàn cảnh nói cụ thể, tình hình, hành động tương giao.
- Siêu nghiệm: điều kiện khả thể.

Apel tra hỏi điều kiện khả thể tối hậu của diễn ngôn bằng truyền thông, tương giao, liên chủ thể. Sự tự mâu thuẫn ngôn hành là chìa khóa xác lập.

- Ý tưởng: ngay người hoài nghi triệt để nhất khi bảo vệ quan điểm của họ cũng phải bằng 1 hành động (lập luận) - mặc nhiên đã có những tiền giả định không thể tránh khỏi. (Vd tôi nói "tôi không nói").
- Trong một diễn ngôn thực hành cũng phải mặc nhiên thực hiện một số quy tắc.
- Không thể đặt điều kiện về những tiền đề giả định. Khi lập luận buộc phải chấp nhận điều kiện khả thể. Không chỉ trong môi trường ngôn ngữ mà còn giữa những người khác trong xã hội, thậm chí là những người ở tương lai.

(Apel): Cái tiên nghiệm của cộng đồng truyền thông (ngôn ngữ) nó là tiền đề, độc lập với nội dung cụ thể. Không thể chứng minh được, không phủ nhận được nếu không sẽ vướng vào sự mâu thuẫn ngôn hành.
- Hoàn cảnh nói lý tưởng của Habermas: ngoài những yêu cầu tối thiểu về logic còn đỏi hỏi mặt quy phạm. Ngoài bình đẳng còn cùng chịu trách nhiệm về sự đồng thuận. (Trách nhiệm cộng đồng).

- Đạo đức học diễn ngôn không chỉ riêng cho diễn ngôn. Nó đặt cơ sở tối hậu cho đạo đức học nói chung.
Điểm này khác biệt với Habermas vốn chỉ tập trung vào phương thức và thao tác đạt được quy phạm luân lý. Ông gọi Đạo đức học diễn ngôn là Ngữ dụng học phổ quát.

- Nguyên tắc phổ quát hóa của Habermas: (trong điều kiện thế kỷ 20 với sự phức tạp) Bất kỳ quy phạm có giá trị nào đáp ứng những điều kiện sau:
            + Bất kỳ hoạt động cá nhân theo một nguyên tắc đạo đức nào đó tạo ra những hậu/hệ quả được mọi người chấp nhận.
            + Một quy phạm chỉ được phép yêu sách có giá trị hiệu lực khi mọi người tham gia đều đồng thuận.
- 02 nguyên lý của Habermas bảo vệ triết học khỏi:
            + Nguy cơ giáo điều tiền Khai Minh và phản Khai Minh.
            + Tránh nguy cơ tùy tiện của Hậu Hiện Đại (chối bỏ mọi yêu cầu phổ quát).
            + Nguy cơ tân bảo thủ: chỉ dựa vào những quy ước đơn lẻ, từng trường hợp; tránh né trao đổi diễn ngôn, chỉ chấp nhận tập quán.
            + Bảo vệ di sản thuyết phổ quát đạo đức học Kant thông qua  con đường đồng thuận liên chủ thể.

Apel bổ sung 1 nguyên lý khác:
- Habermas mới chỉ là phương thức thao tác chưa vào cốt lõi - phải gắn với cứu cánh.
- Trước thực tế hoàn cảnh nói lý tưởng hiếm khi diễn ra mà hệ quả đối với từng cá nhân tham gia vào diễn ngôn là nghiêm trọng. Cần rút ta nguyên lý bổ sung: hãy hành động theo châm ngôn bạn có thể giả định rằng bằng việc tham gia diễn ngôn, hậu quả đều được các cá nhân tham gia chấp nhận. (Ý thức tự giác tham gia diễn ngôn hiện thực).
- (Khi tham gia khó loại trừ trường hợp có người có tư duy chiến lược với ý đồ tinh vi). Apel: chúng ta phải hành động thế nào cho những hoạt động phi bạo lực, quyền lực của diễn ngôn ngày càng trở thành thực tiễn - đưa hoàn cảnh nói lý tưởng vào thực tiễn.
- Cương lĩnh đấu tranh cho nền dân chủ hiện đại:nguyên lý đạo đức, nghĩa vụ luân lý.
- Nguyên lý khác: nguyên lý bảo tồn nền tảng sống còn thuộc về bản chất người - cộng đồng tương giao - bảo vệ những thành tựu văn hóa lịch sử - nguy cơ hủy diệt môi sinh...
------------
Mở rộng:
- Ở các nước thế giới thứ 3 (quá khứ thuộc địa): vấn đề hòa giải, đồng thuận. Muốn đạt được phải đặt cơ sở trên 1 số giả định.
1 - Đối chiếu Đạo đức học diễn ngôn và Đạo đức học Kant:
            + Phê phán duy ngã trong Kant có chính đáng không? Kant đã có ý về quan hệ với người khác. Ý chí luân lý đã thừa nhận tự do của người khác. Thực chất là đã có tính liên chủ thể.
2 - Đạo đức học diễn ngôn là tiến hay lùi so với Kant?
- Đạo đức học diễn ngôn đặt cơ sở cho nhân quyền nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể. Có khoảng cách giữa hiện thực và lý tưởng. Phải chăng cần ý chí tự do của Kant?
- Habermas thay thế cảm thức luân lý bằng quy định pháp lý là đóng góp lớn của Đạo đức học diễn ngôn. Nỗ lực đặt quy phạm có đủ cơ sở cho luân lý? Phải chăng lẫn lộn giữa chính trị và luân lý? Đặt nặng lý tính xem nhẹ xúc cảm là nguy cơ đánh mất động cơ luân lý (Kant) - ý chí thiện cá nhân. Không có động cơ, quy định pháp lý mong manh.
3 - Sự chưa thống nhất giữa đồng thuận và bình đẳng:
Lyotard: đồng thuận lỗi thời, khả nghi. Bình đẳng mới quan trọng.
- Hậu hiện đại đặt ra vấn đề quan trọng: thừa nhận tính dị loại trong nhiều trò chơi ngôn ngữ khác nhau: tôn trọng, chấp nhận, chịu đựng người khác.
- Phổ quát hóa là bất khả thi, không có nguyên lý phân xử những loại diễn ngôn khác nhau. Phân biệt phân xử nội bộ diễn ngôn và phân xử giữa các diễn ngôn.
Apel trả lời: đạo đức học diễn ngôn không được phép nghị luận gia trưởng - nguy cơ toàn trị, trở lại sự thống trị của đa số.
- "Thật phi lý khi trước thách thức toàn cầu, thảm họa sinh thái, thách thức chúng ta phải sống chung với nhau tất yếu sống còn, không thể lấy yêu cầu hòa giải đồng thuận làm mối nguy cho sự đa dạng"
Apel tin rằng Đạo đức học diễn ngôn theo chúng tôi là quan niệm đạo đức học duy nhất đáp ứng được một nền đạo đức học vĩ mô hậu quy ước về một cộng đồng trách nhiệm phổ quát toàn nhân loại.
            (1) Nguyên lý diễn ngôn: cá nhân tham gia chịu trách nhiệm chung gánh phần người khác.
            (2) Là công cụ hiện đại để phân phối, điều chỉnh cùng chịu trách nhiệm, hướng dẫn kỹ năng thao tác đối với những vấn đề quy mô toàn cầu.
- Đạo đức học diễn ngôn: tinh thần dân chủ khai phóng đang phát huy trong thực tế giải quyết xung đột, hòa giải văn minh - nền tảng của quốc tế hiện đại. (Habermas, Apel: cái bàn thì tròn).



------------------------------
(Ghi chép buổi thuyết trình của BVNS ngày 24/11/2012. Có thể sẽ hiệu chỉnh lại) 

Anh Gauxx để ý BVNS dịch communicative action là hành động tương giao (liên chủ thể) - so với anh dịch hành động tương liên ở mấy bài trước.

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Chùm đọc. (I)

1.
Tôi là ai và nếu vậy thì bao nhiêu? - Richard David Precht
Trò chuyện triết học - BVNS
(Triết học nhập môn - Karl Jaspers)

Tuy có vẻ cùng thể loại Nhập môn nhưng việc đọc nhanh cùng lúc cả 3 cuốn này sẽ có thể giúp ta nhận ra nhiều điểm thú vị quanh co gấp nếp. (Thực ra cuốn của KJ thì tôi đọc từ mấy năm trước rồi, nhưng ấn tượng rõ ràng nên có thể lôi ngay ra để liên tưởng). Đầu tiên là về tác giả: trong 3 người có lẽ chỉ KJ có thể được coi là triết gia - tuy hình như bị coi là thứ yếu - còn như RDP và BVNS thì chỉ có thể gọi là nhà nghiên cứu triết học. Oái oăm và đáng chú ý là ông triết gia thì có nghề bác sỹ còn hai ông kia thì có nghề triết hẳn hoi!

Sách nhập môn là viết cho người sơ học, coi như chưa có vốn liếng gì, nhưng cũng có nhiều kiểu khác nhau - khác nhau theo mục đích, thể loại và theo cả sở học của người viết. (Nhân tiện, những bộ sách nhập môn như Tủ sách Nhập môn (truyện tranh) của NXB Trẻ hay Tủ sách Que sais Je? (sách bỏ túi) của NXB Thế giới đều là những bộ sách rất quan trọng dành cho những người tự học).

Ba cuốn sách mà tôi kể ở trên cũng là ba trường hợp khác nhau: RDP viết cuốn sách đầu kiểu dựa vào những thành tựu của ngành nghiên cứu não để phê phán triết học truyền thống. Trong khi đó BVNS thì cố gắng dựa vào hình thức đối thoại theo chủ đề nhỏ để giới thiệu lịch sử triết học - theo cách hơi giống kiểu giáo trình. KJ thì đơn giản và rõ  ràng là dẫn nhập người đọc từ thẩm quyền của một triết gia - ông nói về triết lý của ông.

Cuốn sách (thực ra là một tập bài viết) của BVNS là kém hấp dẫn nhất về nội dung so với 2 cuốn kia. Một phần vì nó có vẻ bị khó xử trong cách xác lập thẩm quyền phát ngôn trước đám thị dân mới trong khuôn khổ một mục báo. Nhưng tôi nghĩ điều quan trọng hơn là vì nó khó có thể nhấn mạnh vào điều gì mới mẻ đột phá vì như vậy sẽ mâu thuẫn với lựa chọn từ đầu về hình thức của nó: đưa người đọc đến những câu hỏi mở căn bản trong vòng xoáy trôn ốc của lịch sử triết lý. Với tôi điểm thú vị của cuốn sách cũng oái oăm: đó là câu hỏi về việc phê phán BVNS thì dễ nhưng nếu đặt vào tình huống vị thế của tác giả thì ta sẽ tiến thoái thế nào?  Những người đọc nếu đã có chút vốn liếng triết học sẽ dễ phê phán chỉ trích tập sách, nhưng nếu phê phán có thiện chí thì chỉ nội việc nhìn chăm chú vào tình thế tiến thoái đó cũng sẽ gợi ra vô số con đường để thử nghiệm.

Trong tình thế ngược lại, cũng là viết cho đại chúng, nhưng là đại chúng Đức nên RDP dễ dàng lướt qua các trách nhiệm điểm danh lịch sử tư tưởng mà đi thẳng vào mạch phê phán, nhân tiện giới thiệu những lập trường mới nhất của ngành nghiên cứu não. Cũng vì là một dạng triết học khoa học nên cách trình bày của nó dễ nắm bắt, có thể đọc một lèo như thể những cách diễn đạt nhì nhằng xưa nay là một sự thất bại kém cỏi không đáng nhớ. Có điều, do suôn sẻ quá thành ra gấp cuốn sách lại thì người đọc dễ bâng khuâng chịu không hiểu thế tại làm sao mà cái cảm giác hiện sinh vẫn không nhúc nhích được là bao? Cảm giác của tôi là có quá nhiều điểm cụ thể đã được khái quát hóa quá nhanh, thành ra đơn giản hóa những tình huống tế nhị của suy tư. Việc đẩy các giới hạn của cách nhìn cơ giới luận vào sâu trong não người thì cũng sẽ vẫn chịu giới hạn của phương pháp ngay từ đầu.

Cuối cùng, đọc lại KJ ta sẽ cảm nhận được điểm khác biệt tinh tế. Do có một cái lõi, một điểm nhất dĩ quán chi của triết gia nên cuốn sách tập trung vào một vài điểm trọng yếu - cốt với mục tiêu chuyển đổi điểm nhìn của người đọc, những việc khác sẽ đến dần. Dẫu rằng KJ cũng không hẳn là một triết gia "hạng nặng" trong lịch sử triết học hiện đại, nhưng điểm mà chúng ta đang bàn (một cách triết lý ^^) là về cái cách mà tư tưởng dọ dẫm thì hoàn toàn không bị ảnh hưởng của bảng xếp hạng kia!

2.
Hồi ký Phạm Cao Củng
Quê hương tôi - Tràng Thiên/Võ Phiến
(Hồi ký Nguyễn Hiến Lê)
Viết về bạn bè - Bùi Ngọc Tấn

Mấy cuốn ký/hồi ký này đọc hấp dẫn, đọc một mạch. Nhất là cuốn của VP, đúng là khác và hay so với những tác giả thường đọc. Võ Phiến/Tràng Thiên viết tùy bút nhẹ nhàng miên man, nhiều quan sát tinh tế. Viết tản văn được cái hay là lập luận không quan trọng lắm, nó chỉ khơi gợi là chính. Phần quan trọng là nhịp điệu, giọng văn - qua đó chuyên chở cái nhìn, cái khí chất, tình cảm của người đi/người viết* Những đoạn như đoạn tả cảnh nếm nước mắm chèm chẹp, có vị hậu, thiếu nắng...là những chi tiết sẽ không còn thấy ở ngày nay nữa. Không phải các nhà văn không biết đến mà tại cuộc sống đã thay đổi quá nhiều, những mô tả bắt chước dễ dãi, giả bộ cầu kỳ tràn lan trên các tạp chí ẩm thực, du lịch chẳng thể nào có được sự tinh tế hay chân thực như vậy bởi xung quanh chúng ta còn có ai tiếp tục sống trải như vậy nữa. Phải một nhịp sống rất chậm, thư thả, chưa hề gián đoạn qua các thế hệ mới có thể cung cấp được những từ vựng phong phú, riêng có làm bằng chứng cho những sống trải.

Nếu cuốn của VP đọc chậm rãi, liên tục nhưng thong thả thì cuốn hồi ký của PCC chỉ cần đọc lóc chóc, lỗ chỗ tùy hứng vì quả tình là văn cụ Phạm Cao Củng hơi lủng củng. Cũng giống mấy cuốn cuối đời của Vương Hổng Sển, cuốn này đọc thấy ngay là văn của mấy cụ đã sang tuổi đại lão. Các cụ sống lâu, cuộc đời nhiều thăng trầm nên văn nhiều chi tiết. Cứ tưng tửng kể ra cũng đủ lũ hậu sinh há miệng thèm nghe. Kiểu viết tràn đi, kể tràn đi, kệ cụ chúng mày có theo kịp các bối cảnh xưa hay không này cung cấp thêm bằng chứng cho khả năng tốn gái của cụ thời trai trẻ.

Nhưng nếu lạm dụng quá đi kiểu hành văn này thì chỉ một thời gian sau nữa sẽ khó kiếm được độc giả. Nó khác với cách viết hồi ký của Nguyễn Hiến Lê: ông có ý thức rất rõ về việc làm cho hậu sinh đồng cảm được những hậu cảnh của những sự kiện cuộc đời mình. Có thể vì ông là người biên khảo nhiều cuốn sách sử, lại từng dịch W.Durant nên có cái óc tỉnh táo và tầm nhìn rộng để biết lưu giữ lại những bối cảnh, những câu chuyện. Hồi tưởng lại cuộc đời mình cũng là diễn giải lại cái thế giới mình đã từng sống trải - ngõ hầu trăm năm sau kẻ tương tri có chỗ mà nương tựa.

NHL có thể diễn giải lại xã hội mà ông đã sống nhưng Bùi Ngọc Tấn thì chưa được làm như vậy. Mà chính hồi ký của NHL vẫn còn 02 chương chưa được xuất bản. Từ NHL đến BNT là khoảng 20 năm nhưng vẫn chung một nguyên nhân: chưa nói được - hay là chưa được nói.

Tuy là Viết về bè bạn nhưng có thể thấy rõ cuốn sách gồm 2 phần được ghép lại với nhau: về Nguyên Hồng và về một số người khác.Ngày xưa tôi không thấy văn Nguyên Hồng hấp dẫn lắm, nhưng đọc BNT viết về Nguyên Hồng lại khiến tôi muốn tìm đọc văn của ông. Dẫu vậy điều tôi nhớ nhất về Nguyên Hồng là câu nói nổi tiếng của ông "Tao về Nhã Nam...Ông đéo chơi với chúng mày nữa". Tư cách Nguyên Hồng, uy của Nguyên Hồng, khí tiết của Nguyên Hồng.

Phần về các bạn bè khác nhiều chi tiết, viết tình cảm, chân thành. Nhưng đọc gần xong hóa ra tôi lại ấn tượng nhất mấy câu về Nguyên Bình, con người cuối đời chuyển hẳn sang tu chân luyện khí. Bỗng dưng thân thiết là thế, đồng điệu là thế mà giờ thành chúng tôi không thể nói chuyện với nhau được nữa...Vì là không biết nói gì với nhau nữa. Đã là 02 thế giới, không đó là 02 bình diện sống khác nhau mà ở phía bên kia  Nguyên Bình không biết làm thế nào để diễn tả cho BNT được. Tôi cũng đành trải qua những lần như vậy, những người bạn ngày xưa thân thiết là thế, cùng nhau trải qua bao nhiêu dại khờ tuổi trẻ là thế, bỗng dưng không còn gì chung để nói tiếp với nhau. Tình cảm xưa vẫn còn, thân ái vẫn có nhưng từ rày đi tiếp thì chẳng còn gì chung nữa ngoài quá khứ. Bây giờ em nhớ ngày xưa/Bây giờ tôi nhớ ngày xưa...

Đọc hồi ký của lớp người trước cũng còn là cách tôi luôn luôn tìm những manh mối cho câu trả lời về một giai đoạn lịch sử của đất nước. Thử nghĩ xem, dù đã gác sang một bên, nhưng chính họ là những người từ hai phía chiến tuyến đều đã rất tha thiết với quê hương, với thân phận con người. Gần nhau, giống nhau đến độ chỉ cần che đi một tý thì Tràng Thiên gặp ngay độc giả hậu chiến; mà mở ra một tẹo thì ủm lên ngay những tranh luận vô lối về Võ Phiến chống/phản, về lập trường chính trị, khí tiết...

Mẹ kiếp, phải có cái gì đó sai ở đây chứ hả ông Nguyễn Bắc Sơn? Hay chỉ lại là tai trời ách nước?

Xem chiến cuộc như tai trời ách nước 
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước 
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi...
----------



(*) Tôi có lần viết về thể ký trong mục Ký họa. 


Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

Kí hiệu - Tín hiệu - Chỉ hiệu. Ghi chép về Sự lũng đoạn của lá cải



1.
Titi: hay lắm, mềnh học hỏi được bao nhiêu :-D Nhưng cá với các bạn, đem mí thứ này vào cơ quan nhà nước VN sẽ bị gọi là chơi trội ngay :-((


- Cái bề mặt trơ lì đó lại chính là input của thảo luận này, và là một trong các mốc tiêu của đối thoại giữa em với anh Gauxx. Nó sẽ định vị trở lại khung trò chuyện tương liên này trở lại ý tưởng ban đầu về "tính hiệu dụng của một khả thể truyền thông mới đối với những thay đổi xã hội ở quy mô nhóm (nhỏ)".


Việc chị Titi tham gia comment đã là một chỉ dấu về những thay đổi ở cơ quan nhà nước VN rồi ^^


2.
Gauxx: hoàn toàn đồng ý. cái này phụ thuộc vai trò host nhé. đối thoại liên subjects, hay bạn T có thể mở rộng đến liên văn hóa (mình từng viết xét cho cùng, liên cá nhân nằm ở trong liên văn hóa - tất nhiên không phải câu của mình) không phải là cân bằng tuyệt đối. Theo tiếp cận adaptation của intercultural (tiếp cận này cơ bản và cũng đơn giản nhất, so với tiếp cận perception và discourse), thì luôn có host culture và những cái khác (the other ^^) xoay chung quanh. bạn T ngay từ đầu đã host một cách thiện chí và cũng sexy nữa ^^

cảm ơn bạn T, mình sẽ quay trở lại sớm



- Trong lúc chờ đợi (đến giờ cái game này đã rõ dần quy luật của nó: chỉ khi anh Gauxx (người kia) đưa ra một lượng thông tin tri thức nhất định - với một số đặc điểm nhất định - thì tôi mới có thể tiếp tục thao tác được), tôi đã thử rà lại toàn bộ lịch sử trò chuyện. Rõ ràng nhận thấy nếu không có bản dịch nhỏ "Trí thức và Truyền thông" thì tiến trình đã tắc nghẽn từ đầu. Ta nói, thiện chí là thiện chí này đây: chấp thuận nhảy ngay vào dòng, đưa thẳng ra một vài luận điểm cụ thể rồi từ đó quay lại mở rộng thảo luận, kể cả về nền tảng: 


"Với sự thực dụng kiểu researcher, mà bạn T cũng từng nói về tôi như vậy, tôi thường được khuyến khích đi từ những cái người ta đang làm ở hiện tại sau đó vòng trở lại cái nền tảng, rồi lại tiếp tục cái đương thời và next.


Ngược lại bạn T là tôi phải thực hiện tròn vai người khác, khấp khểnh nhưng kiên nhẫn trò chuyện. Vì nếu tôi không làm được việc đưa ra cái khác (cái không biết đến) khung hình tư tưởng của người kia thì sẽ là thiếu thiện chí và bất công cho anh Gauxx.


"Trái lại, việc đạt tới một sự hiểu có lẽ sẽ đòi hỏi rằng tôi phải biến báo đôi chút với các mục đích ban đầu của mình. Mục đích của cơ chế hoạt động giờ đây không phải là sự chế ngự đối tượng, nói cách khác, giờ đây, tôi sẽ phải khai triển một kiểu đòn phép được thiết kế với mục đích thao túng kẻ đối thoại với tôi qua hành vi giả vờ thỏa hiệp của tôi. Mục đích này, nhìn một cách nào đó, không thể khởi hoạt nếu thiếu đi kẻ đối thoại, có nghĩa rằng, ở đây, tôi sẽ phải lắng nghe và phải trả lời, và như thế, cũng có nghĩa rằng tôi sẽ phải sẵn sàng chuyển đổi mục đích ban đầu của mình." (Tiểu luận của CT đã dẫn). 


3.
Gauxx: Tuy nhiên, tôi ủng hộ và thik cách bạn T tự lập bản đồ và đi chấm những cái nodes theo cách của bạn ấy. Tôi thấy đó là cách của một thinker. Góp ý nhỏ: trích dẫn quá dài, bạn được quyền và nên paraphase trích dẫn bất kể đó là câu của ai. Trong t/hợp này, bạn đang lấy lại từ nguồn thứ cấp, someone else reviews Gadamer, nên càng không nên quote nguyên con:) 


Qua (1) và (2) đến đây đã có thể trình bày lại với anh Gauxx điểm mấu chốt của phương pháp (nếu quả có 1 cái như thế) của em: ghi chép tiến trình dưới dạng thức bản đồ. (Về điều này em đã thực hiện dở loạt bài về nó - hiện mới có Sổ tay. 1 - Bản thảo. Ít nhất sẽ còn phần về Chứng từ và Bản đồ). Cắt, dán, tô, nguệch ngoạc, in, text, viết tay...là những yếu tố kỹ thuật đặc trưng trong lối làm việc này ^^ Việc 1 tài liệu được trình bày dưới dạng phải chuyển đổi hình thức để khớp với chuẩn tài liệu nghiên cứu KH (như anh Gauxx đề nghị) hoặc 1 dạng tư thế phát ngôn trước độc giả (như bác NL đang làm ở blog của mình) là có 1 chủ ý phương pháp. Nó giữ lịch sử đọc - viết, cảm hứng và một yêu cầu chuyển đổi thường trực - để trở lại và hoàn thiện.


Mỗi người như chúng ta khi lập blog hẳn đều có lập ý về biểu hiện, trong trường hợp này em sẽ cố triển khai vào chỗ khác giữa em và hai người (GXX & NL) trong lựa chọn biểu hiện và từ đó làm rõ cái ý đề nghị của em từ đầu: thao tác trong khung tri thức đại chúng, ở giữa hơn là kinh viện - một cách làm khác, chối bỏ thẩm quyền lập địa phát ngôn của tri thức hàn lâm (câu này vừa nghĩ vừa viết, chắc còn viết lại cho ra ý).


Cái KHÁC mà càng lúc ý tưởng về nó càng rõ hơn trong những bàn luận này sẽ được kiên trí đối chiếu chia phe với bờ bên kia (Gauxx & NL). Một quan sát nhỏ nhưng lâu dài cho thấy rất rõ một đặc điểm nước đôi, tiêu chuẩn kép trong biểu hiện trên blog Gauxx. Một mặt ảnh chọn lá cải để giao tiếp và dẫn dụ. Một mặt ảnh thường cho thấy lấp ló một giao diện khác đang được xây dựng. Câu hỏi thú vị ở đây sẽ là: liệu khi khăn đóng áo the trên giao diện khác kia (học thuật hơn chăng?) thì lá cải xưa có đủ tư cách làm chứng từ cho lý thuyết không, hay phải gọt tiện đi, kiểu "nó không chính thức, chưa phải tôi...".


Cũng vậy, blog NL thuần túy là một dạng lưu trữ những bài báo, bài viết. Nó có tính một chiều tới độc giả. Hạn chế tối đa bộc lộ đời sống cá nhân khác. Tuy vậy vẫn lấp ló yếu tố giao tiếp liên cá nhân với bạn bè đây đó. Một cách khác, nhưng giống tạng với blog Gauxx, tôi thấy các ảnh đều bộc lộ sự lưỡng lự, phân li về biểu hiện. Quan trọng hơn đối với họ điều đó có vẻ hiển nhiên, ít bị chất vấn.


Tại sao tôi lại nghiêng về phía Khác để thao tác. Vì nôm na nhất, tôi chán cái trò cứ lâu lâu lại thấy các nhân vật hùng cứ một phương sẽ phải lật đật chạy ra mở cửa đón vài thiếu hiệp đến thách đấu lấy số :P Cái số phận của việc trừu xuất hóa tri thức ra trước đám đông phiếm chỉ nó là như vậy. Liệu giữ chặt tiến trình tiến hóa bản ngã tri thức của người viết trong những tương liên luôn luôn cụ thể (nói là nói với ai, ở đâu, như thế nào và xung quanh có gì) có tránh được những cơn hấp bản năng thấp kém làm các học giả chỉ chăm chăm chửi nhau, hạ thấp nhau để lấy số má, thanh toán ân oán giang hồ? Cái gì đó ở đây thuộc về hệ hình hơn là chuyện đạo đức cá nhân.


4.
Cũng sau khi đọc rà lại lịch sử trò chuyện, tôi nhận thấy rất rõ một kỹ năng đọc-trả lời comment mà tôi đang mở rộng dần: mỗi comment không chỉ là một đơn vị thông tin trao đổi kiểu ký hiệu, nó còn là tín hiệu ám chỉ để mở rộng và hoàn thiện. Tôi liên tục áp dụng phương thức chỉ hiệu, lần mò khai mở để phát triển đối thoại. Bổ sung dần. Cái đặc điểm này, một mặt mờ nhạt hiển nhiên trên các giao thức giao tiếp blog; một mặt rất hay bộc lộ những vụ cưỡng ép ngôn từ, sai lạc thiện ý của nhau.


Cũng dẫn từ bài luận của CT, tôi cho rằng một lần nữa, cần cắt ra, dán lên bản đồ nhận thức một mẩu về nguyên tắc khoan dung:


Trong triết học và thuật hùng biện, nguyên tắc khoan dung đòi hỏi sự diễn giải duy lý một ý kiến của người nói và trong trường hợp của bất kỳ lý lẽ nào, đều phải xem xét các diễn giải tốt nhất và thuyết phục nhất có thể có. Theo một cảm thức hẹp nhất, mụcc tiêu của nguyên tắc thuộc phương pháp học này là để bác bỏ sự quy kết phản dy lý, các lỗi lo-gic hay sự sai lầm đối với phát biểu của người khác. Theo Simon Blacburn: “ nó buộc kẻ diễn giải phải làm tối đa hóa sự thật hay tính duy lý trong lời nói của người nói”. Triết gia Donald Davidson đôi khi coi nguyên tắc này là nguyên tắc của sự thích nghi duy lý. Ông tóm tắt như sau:” ta sẽ tối đa hóa sự hiểu câu và tư tưởng của người khác khi ta diễn giải nó theo cách nhìn lạc quan về sự đồng thuận”. Nguyên tắc này có lẽ được đưa ra để hiểu phát ngôn của người nói vào lúc ta không chắc chắn về nghĩa của nó-ND 


5.
NL: Có một điều hơi phiền là một phần lớn những gì bác đang quan tâm (kể cả gốc rễ của vấn đề communication) muốn nắm bắt được ổn thỏa đều phải quay về với lý thuyết văn học và ngôn ngữ học đi trước: những "mũi nhọn" của cultural studies thoát thai từ những gì extreme nhất của mấy lý thuyết gia, mà ví dụ kinh điển là Judith Butler.

Trong tiếng Việt tôi thấy hữu hiệu nhất là đọc "Bản mệnh của lý thuyết" của Antoine Compagnon, quyển sách ấy còn có lợi thế là đã bỏ qua được giai đoạn sôi sục để bình tĩnh xem xét, và nó cũng minh chứng cho định nghĩa lý thuyết theo kiểu của tôi :p, tức là nhìn những thứ hiển nhiên bằng con mắt không hiển nhiên.

Ngoài ra tôi thấy bác đọc cả trang của Hải Ngọc, chắc cũng không xa lạ gì với trang của Hoàng Phong Tuấn, rồi Lý thuyết văn học, Lý luận văn học và Phê bình văn học...



Tôi sẽ ưu tiên đi vào điểm này, còn comment trước rất thú vị xin để dành riêng cho bài sau.


Như theo nguyên tắc ông mất chân giò bà thò chai rượu tôi đã trình bày ở trên: vì bác NL chỉ đưa ra vài cái tên nên tôi phải lựa chọn một cái nào đó để đi tiếp. Nghĩ đi nghĩ lại thôi chọn luôn 1 bài viết về Văn chương lâm nguy của NL để bàn vào - là bài Nhìn lại lý thuyết. Ở đây tôi cũng dẫn giải lại vì sao trong cách tiếp cận của tôi, tôi tránh được "điều hơi phiền" của bác đã nêu.


Về đại lược, những gì bài viết nêu ra với tôi là (NL nói) Tzvetan Todorov phê phán sự tự cô lập của LTVH và đề xuất cân bằng giữa mối quan hệ bổ sung của tiếp cận nội tại (nghiên cứu mối liên quan giữa các yếu tố của tác phẩm) với tiếp cận ngoại tại (bối cảnh/lịch sử/tư tưởng/thẩm mỹ) - quay lại cái nhìn về một nền văn học cho mọi người: độc giả tìm trong đó (t/p) một ý nghĩa cho cuộc đời mình.



Để kết luận cuốn sách của mình, Todorov nhấn mạnh vào các giá trị mà lý thuyết văn học (thường) phủ nhận, hoặc ít nhất là gạt qua một bên, không mấy chú ý đến: “Văn học có thể làm nhiều việc. Nó có thể chìa bàn tay thân ái, khi ta thật chán đời, nó xích ta gần gũi hơn với nhân loại, giúp ta hiểu hơn về thế giới và giúp ta sống còn” (tr. 68). Cái nhìn của ông là một cái nhìn nhân văn: “Một độc giả thông thường, tiếp tục tìm tòi trong các tác phẩm một ý nghĩa cho cuộc đời của mình, rất có lý khi chống lại các giáo sư, giới phê bình và nhà văn, những người đã cho rằng văn học chỉ nói đến bản thân nó, hoặc chỉ dạy mỗi một môn cho con người là thất vọng” (tr. 68).

Điều thú vị nằm ngay trong đoạn thứ 2 của comment trên, nó hội tụ trở lại với câu chuyện cốt yếu của loạt bài này mà chúng ta đang nhàn đàm với nhau: truyền thông (nơi đại chúng và văn hóa là nền tảng), cách tác động trong cấu trúc xã hội (nơi câu chuyện dẫn nhập tri thức/văn hóa là ví dụ), và điểm hội tụ đang bàn là về mối đối thoại tương liên, sự tương hiểu (mượn cách dẫn Habermas) hay cách nói của Gadamer (CT dẫn) về việc đạt tới một sự hiểu (NH dịch).

Todorov cho rằng “cứu cánh của việc giảng dạy văn học […] không còn chỉ là công cuộc sản xuất giáo viên văn chương”, mà “phải lồng tác phẩm vào cuộc đối thoại lớn lao giữa con người với nhau”, và “[c]hính chúng ta - những người đã trải nghiệm, phải có trọng trách truyền lại cho các thế hệ mai sau cái gia tài mong manh đó, những tiếng nói giúp con người sống tốt đẹp hơn” (tr. 85).

Nói thực chỉ trong những câu chuyện như ở đây, lúc này, tôi mới đọc thực sự những bài kiểu này của các bác. (Nó cũng là ví dụ về hiệu quả cá nhân khi sử dụng phương pháp bản đồ tiến trình, theo dõi, để đó, kết nối, xử lý logic và đối thoại để hiệu chỉnh. Tóm lại tạo ra thị trường ý niệm để từ đó thúc đẩy khả năng từ vựng và nhu cầu tìm về với tác giả gốc). Là tôi, ngay từ đầu, điều tôi thấy chú ý nhất, quan tâm nhất là "tại sao Todorov lại thao tác phê phán trên chủ đề giảng dạy văn học trong nhà trường?". Và các bác cũng không phải nhọc công giải thích sợ hiểu nhầm với trường hợp độc giả này :P

Tôi thấy cách Todorov làm có điểm tương đồng với cách mà Francois Jullien bàn về từng chủ đề cho loạt bài triết học-minh triết Tây-Đông. Cũng tương đồng với hướng tiếp cận đối thoại tương liên mà tôi đang dẫn câu chuyện về: nó đòi hỏi một môi trường cụ thể, một đối tác đối thoại cụ thể, một vấn đề đại chúng cụ thể...để phê phán (đối thoại) rồi từ đó bàn ngược đến nền tảng để hiểu và thu nạp.

Dù hiểu cách nào, tôi vẫn thấy rõ cái sự tôn trọng tương liên quy chiếu về con người cụ thể, con người cá nhân, sống cuộc đời họ trong cách Todorov diễn đạt (thực tế là do NL dịch). Cách tiếp cận đấy ưu tiên lựa chọn chuyện giảng dạy văn học trong nhà trường để thao tác, từ đó phê phán (hàm ý tích cực kiểu Kant?) LTVH. Phê phán để chuyển đổi. Nói mạnh mồm, có lẽ ông sẽ không cần/muốn bàn trực diện vào LTVH. Vì từ chỗ KHÁC hệ hình, thì không thể phê phán một lối tư tưởng theo cùng cách sai (khác) của bên kia được. (Như tôi đọc trên báo nọ một bài thầy đời vớ vẩn, mình tác giả lập ra 1 thuyết không có nội hàm để phán, định phản đối vài câu, nhưng xét thấy nếu không tập trung làm khác đi, rõ ra, thì chả hóa ra mình cũng dùng cách của anh ta để chống anh ta, sẽ chả ai lợi lạc gì).

Về cuốn "Bản mệnh của lý thuyết" - giờ thì tôi có nhu cầu tìm mua để đọc rồi ^^ - của Antoine Compagnon, tôi chú ý đến đạo lý của sự lưỡng lự:

Tuy nhiên, đối với Compagnon, lý thuyết văn học không phải chỉ là tiêu cực. Ở chiều ngược lại, tương tự như khi lý thuyết hoành hành và không lường được sức sống của “cảm nhận thông thường”, nó là một đối trọng cần thiết vào những lúc hoành hành của “cảm nhận thông thường”. Compagnon gọi trào lưu ấy là một “cuộc phiêu lưu”, và ít nhất nó có thể “thức tỉnh đầu óc tỉnh táo của độc giả, khiến họ băn khoăn về những điều họ đã xác định”[13], và ông kết thúc cuốn sách của mình với một âm hưởng Milan Kundera như sau: “không phải là tôi đã biện hộ cho một lí thuyết trong các lí thuyết cũng chẳng biện hộ cho cảm nhận thông thường, tôi biện hộ cho sự phê phán mọi thứ lí thuyết, kể cả sự phê phán cảm nhận thông thường. Sự lưỡng lự là đạo lí văn học duy nhất”[14].

Sự lưỡng lự này là gì nếu không phải là tinh thần phản tư, cái nhìn biện chứng - là những mẫu số dùng chung cho nhiều lối tư tưởng?

Không chỉ biện hộ cho sự phê phán đó, Compagnon còn biện hộ cho một khái niệm nữa, đó là vis polemica (sức mạnh luận chiến), chính là “điều thực sự làm nên đặc tính của lí thuyết, đó là cái gì ngược hẳn lại sự chiết trung, đó là sự dấn thân của nó, là vis polemica của nó”[15]

[Đến đây có thể thú nhận được với anh Gauxx là quả tình lối đặt để văn bản gốc kiểu này của em chịu ảnh hưởng của Mr. Tin Văn (aka NL)].

Trong bài sau tôi sẽ đặc biệt triển khai một ý liên quan đến ý niệm về sức mạnh luận chiến này!

Lời biện hộ lần này của Compagnon có thể bổ sung cho lời biện hộ ông từng viết trước đó mười năm (cho lý thuyết văn học): theo ông, chừng nào nước Pháp còn gây bực bội và khó chịu đến như vậy, thì có nghĩa nó vẫn còn sống khỏe; chỉ khi nào không ai buồn nói đến những khiếm khuyết của nó nữa thì văn hóa Pháp mới thực sự chết. Cũng vậy, chừng nào lý thuyết văn học thôi quấy rầy “cảm nghĩ thông thường”, không còn làm cho ai khó chịu nữa, mà cứ thoải mái với những điều mặc định sẵn, thì chừng đó nó mới thực sự cần được đưa vào viện bảo tàng.

Lối diễn đạt này tôi đã gặp một lần khi BVNS nói về triết học Kant; đại ý dù ở phía nào, người ta cũng quay về những ý tưởng của Kant để bắt đầu - và do đó cần phải hiểu về Kant.

Quấy rầy "cảm nghĩ thông thường" là một ý niệm rất hay. Tôi nhận thấy có thể đối chiếu nó với khái niệm Khổ (Bất An) trong Phật giáo, cảm thức li cách của Erich Fromm, cảm thức suối nguồn của Karl Jasper, những phân tích của Freud về cảm thức tôn giáo đó...Tóm lại nhìn từ lối con người là con người vấn nạn, sống bắt đầu từ Khổ...thì thấy cái ý niệm kia rất tương đồng. Một mặt nó ám chỉ sự vô tri, vô minh của "cảm nghĩ thông thường" - là cái gắn với tâm thức đại chúng, đối tượng truyền thông truyền thống. Một mặt là tinh thần nội quán, phản tư của phương pháp, là cái có thể rọi chiếu từ vô số điểm khác nhau!

Trong một mạch khác chúng ta đã hoàn toàn có thể bàn luận về mối quan hệ văn chương với cá nhân và đại chúng trong cách mà xã hội giao tiếp - truyền thông (cũ và mới) :P