Trục không bắt đầu từ một đường thẳng
Trong phương án quy hoạch khu vực Hồ Gươm đang được lấy ý kiến, một trong những can thiệp đáng chú ý là việc mở rộng không gian quảng trường phía Bắc, tổ chức một công trình mới có tính biểu tượng trên khu vực phố Đinh Tiên Hoàng hiện nay và thiết lập một trục không gian hướng qua hồ. Trong cách diễn giải của phương án, những thành tố biểu tượng vốn đã rất mạnh của Hồ Gươm được đưa vào một quan hệ hình học mới, từ đó hình thành một bố cục có chủ ý rõ ràng hơn.
Có thể tranh luận rất lâu về hình thức kiến trúc của công trình mới, về tên gọi “Khải Hoàn Môn”, về kích thước hay ngôn ngữ biểu tượng của nó. Nhưng những tranh luận ấy dễ làm chúng ta bỏ qua một câu hỏi quy hoạch căn bản hơn: một trục đô thị thực sự được hình thành như thế nào, và việc nối những biểu tượng vốn có bằng một trật tự hình học mới sẽ làm thay đổi cấu trúc giá trị của nơi chốn ra sao?
Bởi ba điểm nằm trên một đường thẳng chưa làm thành một trục đô thị. Một trục chỉ thực sự tồn tại khi hình học của nó được chuyển hóa thành kinh nghiệm không gian. Nó phải được hỗ trợ bởi hướng nhìn, chuyển động, tỷ lệ, địa hình, mặt đứng, khoảng trống, điểm kết thúc và một chuỗi trải nghiệm mà con người có thể nhận biết khi đi trong thành phố. Những đại lộ nghi lễ của đô thị Baroque, trục Versailles hay hệ thống trục của Washington đều không phải những đường kẻ được nối giữa các công trình quan trọng. Chúng là những cấu trúc không gian hoàn chỉnh, trong đó hình thái đô thị, chuyển động, thị giác và quyền lực biểu tượng cùng vận hành.
Bởi vậy, trước một trục mới, ít nhất phải đặt bốn câu hỏi. Nó có tồn tại về hình học hay không? Người ở tầm mắt có thực sự nhìn thấy và cảm nhận được nó hay không? Nó có tương ứng với chuyển động thực của con người trong thành phố hay không? Và cuối cùng, quan trọng hơn cả trong một không gian di sản: tại sao những đối tượng ở hai đầu trục cần phải được nối với nhau?
Ba câu hỏi đầu thuộc về lý tính của thiết kế đô thị. Câu hỏi cuối cùng thuộc về lý tính của văn hóa.
Hồ Gươm có thể vốn không phải là một cấu trúc trục
Nếu nhìn Hồ Gươm như một tổng thể lịch sử thay vì một tổng mặt bằng kiến trúc, có thể nhận thấy một đặc điểm khá thú vị: nơi đây chứa rất nhiều biểu tượng mạnh nhưng chúng không đứng vào hàng.
Tháp Rùa nằm giữa mặt nước. Đền Ngọc Sơn nép trên đảo Ngọc và nối với bờ bằng cầu Thê Húc. Tháp Bút, Đài Nghiên tạo thành một chuỗi dẫn nhập khác. Đền Bà Kiệu nằm bên kia đường. Xa hơn có tượng đài Lý Thái Tổ, khu phố cổ, Tràng Tiền, khu phố thời thuộc địa và những thiết chế văn hóa của trung tâm Hà Nội. Những thành tố ấy thuộc về những thời kỳ khác nhau, được sinh ra bởi những nhu cầu khác nhau và mang những hệ ý nghĩa không hoàn toàn thống nhất.
Điều liên kết chúng không nhất thiết là một trục. Có lẽ chính mặt nước mới là thành tố tổ chức căn bản. Chung quanh khoảng rỗng ấy là vòng đi bộ, mạng đường phố đổ về hồ, những tán cây, các khoảng mở và đóng của trường nhìn, những nơi người ta dừng lại, gặp nhau, tập thể dục, nghỉ ngơi, thực hành tín ngưỡng hay đơn giản đi ngang qua trên đường đến nơi khác. Những biểu tượng cùng hiện diện trong một trường không gian nhưng giữ khoảng cách với nhau. Nếu nhìn như vậy, Hồ Gươm gần với một trường đô thị đa tâm hơn là một bố cục hướng trục.
Sự khác biệt ấy không nhỏ. Trong một cấu trúc trục, các thành phần được đặt vào quan hệ thứ bậc: đầu trục, cuối trục, điểm nhấn, đối cảnh, phông nền. Trong một trường đa tâm, nhiều thành tố có thể cùng mạnh mà không cần quy phục một trung tâm hình học duy nhất. Quan hệ giữa chúng được tạo ra bởi chuyển động, khoảng cách, ký ức và sự thay đổi liên tục của điểm nhìn.
Tháp Rùa và Đền Ngọc Sơn vốn đã liên hệ với nhau
Tháp Rùa và Đền Ngọc Sơn là một ví dụ rất rõ. Hai công trình cùng nằm trên mặt nước, cùng tham gia vào hình ảnh biểu tượng của Hồ Gươm, nhưng chúng tạo ra hai quan hệ gần như đối nghịch với con người.
Tháp Rùa chủ yếu là một đối tượng để nhìn. Người ta không thường xuyên đi tới đó. Nó hiện ra ở xa, lúc trọn vẹn, lúc bị tán cây che khuất, khi nằm giữa khoảng nước rộng, khi lọt vào một khe nhìn từ phố. Chính khoảng cách làm nên một phần sức mạnh của nó. Trong đời sống đô thị, Tháp Rùa gần với một mốc thị giác hơn là một điểm hoạt động.
Đền Ngọc Sơn thì khác. Muốn kinh nghiệm nó, con người phải đi vào. Từ phố bước qua cổng, từ bờ đi lên cầu Thê Húc, vượt mặt nước, tới đảo rồi vào đền. Một khoảng cách địa lý rất nhỏ được chuyển thành một chuỗi thay đổi trạng thái: phố – bờ – cầu – nước – đảo – nơi thờ tự. Đền Ngọc Sơn vì thế không chỉ được nhìn mà còn được thực hành bằng thân thể, bằng hành vi và trong những trường hợp nhất định bằng nghi lễ.
Một bên cho ta nhìn. Một bên cho ta đi vào.
Chính mặt hồ cho phép hai phương thức ấy cùng tồn tại. Chúng có quan hệ với nhau mà không cần một đường thẳng nối chúng thành một mệnh đề.
Nếu đưa chúng vào một trục hình học chính tắc, vấn đề không đơn giản là làm cho quan hệ giữa hai biểu tượng trở nên “rõ hơn”. Ta đang thay đổi bản chất của quan hệ ấy: từ hai thành tố cùng tồn tại trong một trường cảnh quan sang những thành phần của một bố cục được sắp đặt.
Khi quy hoạch sáng tác một câu chuyện mới
Liên kết các biểu tượng không phải tự thân là một sai lầm. Lịch sử đô thị có vô số trường hợp những trục mới đã tạo ra giá trị lớn. Một chuỗi không gian có thể giúp con người nhận biết thành phố, dẫn dắt chuyển động, thiết lập quan hệ giữa các thiết chế và tạo nên những không gian nghi lễ hoặc tưởng niệm có sức mạnh đặc biệt.
Nhưng cần phân biệt hai thao tác.
Nếu giữa hai địa điểm vốn tồn tại một quan hệ lịch sử, nghi lễ hay cấu trúc không gian đã bị che khuất, thiết kế có thể làm quan hệ ấy hiển lộ trở lại. Quy hoạch khi đó đóng vai trò nhận diện và trình bày một giá trị đã tích lũy trong lịch sử.
Nếu quan hệ ấy trước đây không tồn tại, việc nối chúng bằng một trục là một sáng tác mới. Không có gì cấm thành phố sáng tác những giá trị mới. Thành phố sống không thể chỉ bảo tồn quá khứ. Nhưng khi ấy cần thừa nhận rõ rằng ý nghĩa mới không phải một giá trị lịch sử được “phát hiện”, mà là một diễn giải đương đại do người thiết kế đặt vào nơi chốn.
Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng đối với di sản. Bởi một sáng tác mới rất dễ vay mượn uy tín của những biểu tượng cũ để tạo cho mình vẻ tất yếu. Tháp Rùa đã có ý nghĩa. Đền Ngọc Sơn đã có ý nghĩa. Đặt một vật thể mới trên đường nối giữa chúng không đương nhiên khiến vật thể ấy kế thừa ý nghĩa của cả hai.
Ý nghĩa đô thị không truyền dẫn bằng hình học: Biểu tượng không thể được quyết định trên bản vẽ - Một công trình có thể được thiết kế với ý định trở thành biểu tượng. Nhưng ý định biểu tượng và biểu tượng thực sự là hai chuyện khác nhau.
Tháp Rùa không trở thành biểu tượng của Hà Nội chỉ vì hình thức kiến trúc của nó. Nó trở thành biểu tượng sau vô số lần được nhìn thấy, được vẽ, chụp, kể lại, xuất hiện trong sách báo, ký ức cá nhân và những câu chuyện về thành phố. Đền Ngọc Sơn cũng không chỉ có giá trị vì kiến trúc. Hàng thế hệ đã bước qua cầu Thê Húc, vào đền, thực hành nghi lễ, đưa khách phương xa tới thăm, kể lại những câu chuyện liên quan đến nơi này. Ý nghĩa được bồi tích qua hành vi, sự lặp lại, ký ức và thời gian.
Đó là một quá trình sản xuất ý nghĩa xã hội.
Người thiết kế có thể tạo ra điều kiện để quá trình ấy xảy ra. Có thể đánh dấu một nơi, mở ra một khả năng sử dụng, tạo một cảnh quan đủ sức hấp dẫn để con người quay lại. Nhưng không thể dùng một bản vẽ quy hoạch để quyết định trước rằng xã hội sẽ trao cho một vật thể mới ý nghĩa gì và ý nghĩa ấy sẽ tồn tại bao lâu.
Đây có lẽ là điểm cần thận trọng nhất khi đưa thêm một biểu tượng lớn vào Hồ Gươm. Một biểu tượng mới không bước vào một khoảng trắng. Nó bước vào một trường ý nghĩa đã rất dày.
Từ nhiều khung nhìn đến một khung nhìn chính thức
Một công trình lớn ở phía Bắc được thiết kế như một khung nhìn hướng qua hồ còn đặt ra một vấn đề khác: nó có thể thay đổi cách Tháp Rùa hiện diện trong cảnh quan.
Hiện nay Tháp Rùa không có một mặt tiền đô thị duy nhất. Người ta bắt gặp nó từ nhiều vị trí. Có lúc nhìn qua những tán cây, có lúc giữa một khoảng mở trên đường dạo, có lúc từ cầu Thê Húc, có lúc từ phía phố. Cùng một vật thể nhưng thay đổi liên tục theo khoảng cách, mùa cây, ánh sáng, mặt nước và vị trí của người quan sát. Đây là một phẩm chất rất đặc biệt: biểu tượng ổn định nhưng kinh nghiệm về biểu tượng không ổn định.
Khi một kiến trúc lớn được tạo ra để đóng khung một hướng nhìn chính, quan hệ bắt đầu đảo ngược. Trước đây, Tháp Rùa nằm trong cảnh quan và người đi trong thành phố tự tìm thấy những khung hình của mình. Sau can thiệp, cảnh quan có nguy cơ được tổ chức để trình diễn Tháp Rùa theo một khung hình đã được định trước.
Từ nhiều cách nhìn chuyển sang một cách nhìn được ưu tiên. Từ một biểu tượng có thể được tình cờ bắt gặp chuyển sang một biểu tượng được dàn cảnh. Giá trị mới có thể rất mạnh về thị giác. Nhưng cái mất đi chính là một phần tự do trong kinh nghiệm đô thị.
Phá một dãy phố không chỉ là phá những ngôi nhà
Câu chuyện trở nên nghiêm trọng hơn khi việc tạo quảng trường và trục mới đòi hỏi phá bỏ mô đô thị hiện hữu.
Trong tư duy bố cục kiến trúc, những dãy nhà có thể xuất hiện như vật cản. Bỏ chúng đi, khoảng trống trở nên rõ ràng, trục nhìn được giải phóng, công trình biểu tượng có đủ khoảng lùi để hiện diện. Trên tổng mặt bằng, thao tác ấy thường rất thuyết phục.
Nhưng thành phố không được cấu tạo bằng những khối đặc và khoảng rỗng đơn thuần. Một dãy phố là nhịp mặt tiền, cửa hàng, lối vào, ngõ nhỏ, ranh giới công – tư, địa chỉ, cư dân, hoạt động tầng một, những đường đi quen thuộc và các quan hệ kinh tế đã tích lũy qua thời gian. Giá trị của nó không nhất thiết nằm trong từng căn nhà riêng lẻ. Giá trị nằm trong mô đô thị mà toàn bộ chúng tạo ra.
Phá mô ấy để tạo quảng trường nghĩa là thực hiện một cuộc trao đổi: lấy đi một cấu trúc đời sống phức tạp để đổi lấy một khoảng trống có khả năng biểu đạt mạnh hơn.
Không thể đánh giá cuộc trao đổi ấy chỉ bằng câu hỏi những căn nhà bị phá có phải di tích hay không. Câu hỏi đúng hơn phải là: giá trị đô thị do khoảng trống mới tạo ra có lớn hơn tổng giá trị của mô đô thị bị lấy đi hay không?
Từ nơi chốn được sống sang không gian được trình diễn
Quảng trường lớn, trục mạnh và đại kiến trúc biểu tượng có một ưu thế không thể phủ nhận: chúng tạo ra khả năng trình diễn. Những sự kiện lớn dễ tổ chức hơn. Hình ảnh thành phố trở nên rõ ràng hơn. Không gian có thể gây ấn tượng tức thời và dễ được truyền thông bằng những phối cảnh đẹp.
Nhưng Hồ Gươm hiện nay có một sức mạnh khác: Người già tập thể dục vào sáng sớm. Người đi làm cắt ngang qua hồ. Khách du lịch đứng chụp ảnh. Trẻ em chạy chơi. Một đôi người ngồi trên ghế. Dòng người từ phố cổ tràn xuống rồi lại tản đi. Những tán cây che khuất một phần mặt nước. Tháp Rùa lúc hiện lúc mất. Đền Ngọc Sơn đông người vào những thời điểm nhất định rồi lại trở về trạng thái yên hơn. Những hoạt động ấy không cùng phục vụ một kịch bản - Chúng tạo nên đời sống đô thị.
Một cấu trúc được thiết kế quá hoàn chỉnh có thể tăng cường khả năng trình diễn nhưng đồng thời làm giảm những bất định cho phép đời sống tự chiếm dụng không gian. Đây là nghịch lý quen thuộc của nhiều dự án cải tạo trung tâm lịch sử: càng cố làm cho nơi chốn trở nên “đặc biệt”, đôi khi càng làm mất những điều bình thường đã khiến nó trở nên đặc biệt.
Từ một trường đa nghĩa sang một mệnh đề
Có lẽ vì thế, vấn đề căn bản của phương án không nằm ở chuyện một Khải Hoàn Môn đẹp hay xấu. Cũng chưa cần bắt đầu bằng tranh luận nó có phù hợp với truyền thống kiến trúc Việt Nam hay không.
Vấn đề sâu hơn nằm ở loại trật tự đô thị mà nó đề nghị.
Hồ Gươm hiện hữu là kết quả của nhiều lớp lịch sử chồng lên nhau. Những thành tố không hoàn toàn đồng đại, không hoàn toàn đồng nghĩa và cũng không hoàn toàn tuân theo một hệ hình học duy nhất. Nhưng chính quá trình tích lũy ấy tạo nên một trường ký ức và biểu tượng rất giàu có. Thành phố cổ, thành phố thuộc địa, tín ngưỡng, huyền thoại, thương mại, đời sống thường nhật và những biểu tượng quốc gia cùng hiện diện quanh một mặt nước tương đối nhỏ.
Sự không thuần nhất ấy không nhất thiết là một khiếm khuyết cần được chỉnh lý. Nó có thể chính là giá trị.
Nếu đặt vào đó một trục lớn, một quảng trường lớn và một biểu tượng mới đủ mạnh để tổ chức lại toàn bộ trường không gian, ta đang chuyển từ một trật tự tích lũy sang một trật tự sáng tác, từ một trường đa tâm sang một bố cục thứ bậc, từ nhiều câu chuyện có thể cùng tồn tại sang một mệnh đề được phát biểu rõ ràng hơn.
Mệnh đề mới có thể đẹp. Có thể hùng vĩ. Có thể tạo ra một hình ảnh Hà Nội rất khác. Nhưng trước khi lựa chọn nó, cần biết chính xác cái gì đang được đánh đổi.
Điều cần bảo tồn có thể không phải từng vật thể
Điều này dẫn tới một cách hiểu rộng hơn về bảo tồn Hồ Gươm. Nếu chỉ lập danh mục các công trình có giá trị rồi bảo vệ từng đối tượng, chúng ta vẫn có thể giữ nguyên Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Tháp Bút và những cây cổ thụ, trong khi cấu trúc khiến chúng có ý nghĩa đã bị thay đổi căn bản.
Bởi giá trị của Hồ Gươm không nằm riêng trong từng vật thể. Nó nằm trong khoảng cách giữa Tháp Rùa và bờ hồ; trong hành trình từ phố qua cầu Thê Húc tới Ngọc Sơn; trong những khoảng nhìn mở ra rồi khép lại bởi tán cây; trong quan hệ giữa mặt nước và dãy phố; trong việc một con phố nhỏ bất ngờ kết thúc bằng ánh sáng của mặt hồ; trong sự đan xen giữa nơi linh thiêng và đời sống thường nhật; trong khả năng một biểu tượng quốc gia vẫn có thể cùng tồn tại với một người đang ngồi uống nước hay tập thể dục cách đó vài chục mét.
Nói cách khác, đối tượng cần bảo tồn không chỉ là vật thể, mà còn là quan hệ. Và quan hệ khó bảo tồn hơn vật thể rất nhiều, bởi nó không có ranh giới để khoanh trên bản đồ.
Câu hỏi trước khi vẽ thêm một biểu tượng
Bởi vậy, trước khi hỏi nên thiết kế một công trình biểu tượng mới như thế nào, có lẽ cần quay trở lại một câu hỏi căn bản hơn: Hồ Gươm hiện đang vận hành bằng loại trật tự nào?
Nếu nghiên cứu kỹ, câu trả lời có thể không phải là một trục. Nó có thể là mặt nước, vòng đi bộ, mạng phố đổ về hồ, chuỗi điểm nhìn, tán cây, những điểm tụ hoạt động, các biểu tượng ở những khoảng cách khác nhau và vô số thực hành đời thường đã tích lũy qua nhiều thế hệ.
Một trường hơn là một trục.
Nếu đúng như vậy, đặt một trục hoành tráng vào Hồ Gươm không đơn thuần là bổ sung thêm một giá trị. Đó là thay thế một loại trật tự bằng một loại trật tự khác.
Quy hoạch vẫn có quyền làm điều đó. Thành phố không thể bị đóng băng để trở thành bảo tàng của chính mình. Nhưng một can thiệp càng mạnh thì nghĩa vụ giải trình về giá trị càng lớn. Cái mới phải chứng minh được rằng giá trị nó tạo ra đủ sức bù đắp cho những quan hệ đô thị, ký ức, mô hình đời sống và khả thể diễn giải mà nó làm mất đi.
Vì thế câu hỏi quan trọng nhất đối với một trục biểu tượng mới ở Hồ Gươm cuối cùng không phải là: nó có hoành tráng hay không? Cũng không phải “nó có tạo thêm một biểu tượng cho Hà Nội hay không?” mà là “có một lý do lịch sử, đô thị và văn hóa nào đủ lớn để chúng ta thay đổi chính ngữ pháp không gian đã khiến Hồ Gươm trở thành Hồ Gươm?”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét