Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

HỒ GƯƠM CÓ CẦN ĐƯỢC KỂ THÊM MỘT CÂU CHUYỆN?

 


Một vài suy nghĩ khi đọc phương án quy hoạch khu vực Hồ Hoàn Kiếm

Có lẽ khó có nơi nào ở Hà Nội mà người làm quy hoạch phải dè dặt như Hồ Gươm. Không phải vì khu vực này đã hoàn hảo đến mức không được phép thay đổi. Hồ Gươm và không gian xung quanh vẫn mang đủ những vấn đề của một trung tâm đô thị có cường độ sử dụng rất cao: giao thông, du lịch, thương mại, hoạt động hành chính, sự kiện, nhu cầu không gian công cộng và bảo tồn di sản. Nhưng nó khác một khu vực đô thị thông thường ở chỗ gần như mỗi khoảng không gian đều đã đi qua nhiều lớp thời gian, được sử dụng, nhìn ngắm, gọi tên và ghi nhớ theo nhiều cách khác nhau. Bởi vậy, câu hỏi đầu tiên của quy hoạch ở đây có lẽ không phải chúng ta còn có thể làm thêm gì, mà là điều gì thực sự cần làm, điều gì chỉ nên khơi lại và điều gì nên được giữ trong trạng thái vốn có của nó.

Một tham vọng lớn hơn chỉnh trang Hồ Gươm

Nếu chỉ xem hồ sơ này như một phương án chỉnh trang cảnh quan Hồ Gươm thì không phản ánh đúng tham vọng của người thiết kế. Đồ án nghiên cứu một phạm vi khá rộng, không chỉ quanh mặt hồ mà còn hướng tới việc kết nối với Nhà hát Lớn và xa hơn là sông Hồng. Những đề xuất cũng không dừng ở lát đá, cây xanh, tổ chức giao thông hay chỉnh trang mặt đứng mà bao gồm việc tổ chức lại khu vực UBND Thành phố, hình thành các quảng trường, bảo tàng, không gian nghệ thuật, công trình gợi nhắc chùa Báo Ân và đáng chú ý nhất là tổ hợp Biểu tượng Hòa Bình, Khải Hoàn Môn cao 36 m cùng Bảo tàng tưởng niệm Hòa Bình. Có thể nói đây là một nỗ lực tái cấu trúc trung tâm biểu tượng của Thủ đô, và vì vậy câu hỏi quan trọng hơn việc đánh giá từng công trình đẹp hay xấu là phương án muốn Hồ Gươm mang những ý nghĩa gì đối với Hà Nội, đồng thời những ý nghĩa ấy sẽ được hình thành bằng cách nào.

Từ khảo cứu lịch sử đến kiến tạo biểu tượng

Một điểm đáng ghi nhận là đồ án không tiếp cận Hồ Gươm như một tờ giấy trắng. Hồ sơ khảo sát các bản đồ từ năm 1911, 1922, 1925, 1929, 1942 cho đến hiện trạng, qua đó nhận diện sự biến đổi của nhiều địa điểm quen thuộc. Đền Bà Kiệu từng bị tuyến phố thời thuộc địa cắt đôi; khu Cung Thiếu nhi từng là Ấu Trĩ Viên và sau đó trở thành địa điểm ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946; khu UBND Thành phố hôm nay đã đi qua những lớp chùa Phổ Giác, Tòa Đốc lý rồi Tòa Thị chính. Trường hợp chùa Báo Ân còn cho thấy rõ hơn mức độ biến đổi của khu vực: một quần thể Phật giáo lớn của thế kỷ XIX đã biến mất trong quá trình hình thành thành phố thuộc địa, chỉ để lại Tháp Hòa Phong bên hồ cho đến ngày nay. Những khảo cứu ấy cho thấy người thiết kế đã nhận thức Hồ Gươm như một không gian có nhiều lớp lịch sử chồng lên nhau chứ không phải một di sản tồn tại trong một trạng thái bất biến.

Băn khoăn bắt đầu xuất hiện ở bước tiếp theo, khi những lớp lịch sử được phát hiện khá nhanh chóng chuyển thành những đối tượng kiến trúc và biểu tượng mới. Một di sản đã mất dẫn tới ý tưởng về công trình gợi nhắc chùa Báo Ân; ký ức chiến tranh được chuyển hóa thành bảo tàng tưởng niệm; khát vọng hòa bình được biểu đạt bằng biểu tượng, quảng trường và Khải Hoàn Môn. Từng đề xuất nếu xét riêng đều có thể tìm được căn cứ và lập luận của nó, nhưng vấn đề của một khu vực đã tích lũy rất nhiều lịch sử không nằm ở số lượng câu chuyện có thể kể. Điều cần xem xét là quan hệ giữa những câu chuyện ấy, mức độ chúng cần được vật thể hóa và khả năng một lớp biểu đạt mới làm thay đổi cách những lớp cũ đang cùng tồn tại.

Nhìn vào tổng mặt bằng và mặt cắt của phương án, có thể nhận ra một hệ thống biểu đạt khá rõ: Khải Hoàn Môn – Quảng trường Hòa Bình – đền Ngọc Sơn – Tháp Rùa – UBND Thành phố – Công viên, Quảng trường Thời đại – công trình gợi nhắc chùa Báo Ân – Nhà hát Lớn. Không gian quanh hồ theo đó có xu hướng trở thành một chuỗi trong đó từng thành phần kiến trúc đảm nhận việc chuyển tải một nội dung lịch sử hoặc văn hóa tương đối xác định. Đây là một cách kiến tạo ý nghĩa quen thuộc trong quy hoạch những trung tâm chính trị – văn hóa: lịch sử được lựa chọn, biểu đạt thành hình tượng và tổ chức thành một trật tự không gian để cộng đồng có thể nhận biết và ghi nhớ. Tuy nhiên, Hồ Gươm có lẽ là một trường hợp cần thận trọng với chính cách làm này, bởi phần lớn ý nghĩa hiện có của nó không còn tồn tại chủ yếu dưới dạng những thông điệp cần được giải thích.

Khi câu chuyện đã đi vào đời sống

Có thể dùng câu “quanh Hồ Gươm không ai kể chuyện vua Lê” như một ẩn dụ cho trạng thái ấy. Truyền thuyết vua Lê trả gươm tất nhiên vẫn là lớp căn cước lịch sử không thể tách khỏi tên gọi và nhận thức về Hồ Gươm. Nhưng người đi tập thể dục quanh hồ buổi sáng, hai người trẻ hẹn nhau bên hồ hay một người già ngồi trên ghế đá không cần liên tục hồi tưởng câu chuyện trả gươm để cảm thấy nơi này có ý nghĩa. Họ vẫn gọi nó là Hồ Gươm. Câu chuyện lịch sử ở đây đã đi vào địa danh, ký ức và thói quen đến mức không cần được tái diễn giải trong mọi hoạt động thường nhật. Đó không phải sự phai nhạt của ý nghĩa, mà ngược lại có thể xem là một trạng thái mà ý nghĩa đã nhập sâu vào đời sống.

Trên lớp huyền sử ấy còn có một lớp trầm tích khác hình thành song hành với quá trình Hà Nội trở thành đô thị hiện đại. Đó là Hồ Gươm của phố xá, hàng cây, những cuộc đi bộ, của mùa và thời tiết, của gặp gỡ và chia ly; Hồ Gươm đi vào văn chương, âm nhạc, nhiếp ảnh và ký ức của những người từng sống ở Hà Nội hoặc đã rời Hà Nội. Lớp lịch sử này khó thể hiện trên bản đồ hơn lịch sử công trình vì nó tồn tại phân tán trong văn bản, hình ảnh, ký ức gia đình và trải nghiệm cá nhân. Tuy nhiên, khi tích lũy qua nhiều thế hệ, nó tạo nên một phần quan trọng của đời sống tinh thần gắn với hồ. Hồ sơ quy hoạch đã nghiên cứu khá kỹ lịch sử vật thể, nhưng lớp lịch sử của trải nghiệm và cảm giác này dường như chưa được khảo sát với độ sâu tương xứng. Chính ở đây có thể mở rộng việc nghiên cứu trước khi quyết định Hồ Gươm cần thêm những biểu tượng nào.

Khi kích thước của vật thể không phải kích thước của ý nghĩa

Một đặc điểm đáng chú ý khác của Hồ Gươm là sự không tương xứng giữa kích thước vật thể và cường độ ý nghĩa. Tháp Rùa nhỏ, cầu Thê Húc nhỏ, đền Ngọc Sơn không lớn và Tháp Hòa Phong cũng là một kiến trúc khá khiêm nhường. Thành phần có quy mô áp đảo tất cả lại là mặt nước và khoảng không phía trên nó. Thế nhưng kích thước nhỏ không làm những công trình này yếu đi về khả năng nhận diện và giá trị biểu tượng. Trật tự hiện hữu vì thế được tạo nên bởi những dấu hiệu tương đối nhỏ nằm quanh một khoảng rỗng lớn, trong đó khoảng rỗng đóng vai trò quan trọng không kém các vật thể.

Từ đặc điểm ấy, đề xuất Khải Hoàn Môn cao 36 m cần được xem xét vượt ra ngoài tranh luận đơn thuần về phong cách hay chiều cao. Một công trình có quy mô và sức biểu đạt lớn xuất hiện bên Hồ Gươm không chỉ bổ sung thêm một điểm nhấn mà có khả năng thay đổi thứ bậc của toàn bộ hệ thống biểu tượng hiện hữu. Cấu trúc hiện nay cho phép nhiều dấu hiệu cùng tồn tại mà không có một vật thể duy nhất chi phối toàn bộ cách đọc không gian. Người sử dụng có thể nhận biết lịch sử của chúng ở những mức độ khác nhau, đồng thời vẫn có khoảng trống để hình thành trải nghiệm riêng. Một biểu tượng mới có quy mô áp đảo và nội dung xác định hơn sẽ làm giảm mức độ mở ấy. Vì vậy, vấn đề cần chứng minh không phải Khải Hoàn Môn có đủ ý nghĩa để được xây dựng hay không, mà là sự xuất hiện của nó sẽ làm thay đổi quan hệ giữa những ý nghĩa vốn đã tồn tại quanh hồ như thế nào.

Chùa Báo Ân và giá trị của một sự vắng mặt

Trường hợp chùa Báo Ân đặt ra một vấn đề khác. Việc làm hiện lên một lớp lịch sử quan trọng đã mất có cơ sở đáng để nghiên cứu, bởi chùa từng tồn tại như một quần thể lớn và sự biến mất của nó cũng là một phần trong quá trình hình thành Hà Nội hiện đại. Tuy nhiên, gợi nhắc một công trình đã mất không nhất thiết phải dẫn tới việc tạo ra một vật thể mô phỏng hoặc diễn giải trực tiếp hình ảnh quá khứ. Dấu nền, địa hình, cây xanh, tuyến đi, dấu tích khảo cổ hoặc chính khoảng trống quanh Tháp Hòa Phong đều có thể tham gia vào việc làm cho lớp lịch sử ấy trở nên nhận biết được. Trong trường hợp này, sự vắng mặt của quần thể chùa sau hơn một thế kỷ cũng đã trở thành một phần của lịch sử địa điểm. Nếu tái hiện quá đầy đủ bằng một hình ảnh mới, phương án có nguy cơ làm mất chính cảm nhận về sự đứt gãy lịch sử mà nó muốn gợi lại.

Từ một điểm đến sang một mạng không gian công cộng

Trong khi còn nhiều vấn đề cần thảo luận ở hệ thống biểu tượng, một hướng khác của phương án lại đáng được phát triển sâu hơn: mở rộng quan hệ giữa Hồ Gươm và mạng không gian công cộng xung quanh. Tại khu vực UBND Thành phố, phương án tổ chức lại các công trình và tạo những liên kết Bắc – Nam, Đông – Tây giữa hồ, khu hành chính, công viên phía Bắc và Vườn hoa Lý Thái Tổ, với mục tiêu hình thành một không gian liên tục hơn. Đây là một can thiệp mang tính cấu trúc hơn là biểu tượng. Những phân tích trước đó về khu vực cũng cho thấy Hồ Gươm rất mạnh với tư cách một điểm đến nhưng khả năng kết nối ngang với mạng đô thị xung quanh chưa tương xứng với vị trí trung tâm của nó.

Nếu từ những can thiệp này có thể từng bước hình thành một chuỗi không gian công cộng liên tục từ Phố cổ qua Hồ Gươm, khu hành chính, Tràng Tiền, Nhà hát Lớn rồi hướng về sông Hồng, giá trị của phương án sẽ không nhất thiết nằm ở việc tạo thêm một công trình biểu tượng. Chính những tuyến đi mới, khả năng tiếp cận mới và những quan hệ không gian mới có thể làm thay đổi cách người dân sử dụng trung tâm Hà Nội. Khi một tuyến đường trước đây ít được đi bắt đầu trở thành đường đi thường nhật, một khoảng không trước đây bị ngăn cách trở thành nơi dừng lại, hay những khu vực vốn tồn tại như các mảnh riêng rẽ bắt đầu được cảm nhận như một hệ thống, đời sống đô thị sẽ tự tạo thêm những lớp ký ức mà người thiết kế không cần dự kiến trước nội dung.

Quảng trường mới cần bổ sung loại đời sống nào?

Cũng theo cách đó, đề xuất Công viên – Quảng trường Thời đại với quy mô hơn 17.000 m² nên được đặt trước một câu hỏi về đời sống hơn là hình thức: khu vực Hồ Gươm hiện đang thiếu loại không gian công cộng nào? Nếu quảng trường mới chủ yếu dành cho lễ hội, biểu diễn, tập trung đông người và những sự kiện quy mô lớn thì nó đang tiếp tục tăng cường một chức năng mà khu vực quanh hồ hiện đã đảm nhận khá mạnh. Trong khi đó, những nhu cầu ít gây chú ý hơn như ngồi lâu mà không cần tiêu dùng, đọc sách, trẻ em chơi tự do, người cao tuổi gặp nhau thường xuyên, những nhóm nhỏ tự tổ chức hoạt động hoặc đơn giản là một khoảng không chưa bị quy định quá chặt về công năng có thể lại là phần đáng được bổ sung. Giá trị của một không gian công cộng không chỉ nằm ở số lượng hoạt động được tổ chức mà còn ở khả năng dung nạp những hoạt động không được dự kiến từ trước.

Một nơi đã quá giàu ý nghĩa

Từ đây có thể nhận ra một bài toán hơi khác với cách chúng ta thường nói về việc tạo bản sắc đô thị. Nhiều khu đô thị mới phải tìm cách hình thành ký ức, câu chuyện và những hoạt động lặp lại để từ một không gian mới xây trở thành nơi chốn. Hồ Gươm nằm ở trạng thái gần như ngược lại. Nó đã tích lũy một mật độ rất cao các biểu tượng, ký ức, thực hành thường nhật và diễn giải văn hóa. Bởi vậy, bổ sung thêm ý nghĩa không đương nhiên làm cho nơi này giàu ý nghĩa hơn. Khi Biểu tượng Hòa Bình, Khải Hoàn Môn, bảo tàng tưởng niệm, không gian Lê Thái Tổ, công trình gợi nhắc chùa Báo Ân, Quảng trường Thời đại, bảo tàng nghệ thuật và các thiết chế văn hóa mới cùng được đưa vào một khu vực tương đối hẹp, vấn đề cần đánh giá là chúng bổ sung cho nhau hay bắt đầu cạnh tranh với những lớp nghĩa vốn đã tồn tại.

Đây có lẽ là điểm khiến việc quy hoạch Hồ Gươm khác căn bản với việc tạo lập một trung tâm đô thị mới. Ở nơi mới, người quy hoạch thường phải tạo những điều kiện ban đầu để đời sống hình thành. Ở Hồ Gươm, người quy hoạch đến sau một quá trình rất dài. Trước người thiết kế hôm nay đã có huyền thoại trả gươm, đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, chùa Báo Ân rồi sự biến mất của nó, thành phố thuộc địa, chiến tranh và những biến động của Hà Nội hiện đại; sau đó là nhiều thế hệ văn chương, âm nhạc, những sinh hoạt thường nhật và vô số ký ức cá nhân không được ghi lại trong bất kỳ hồ sơ di sản nào. Tất cả cùng tham gia tạo nên Hồ Gươm hiện nay.

Người quy hoạch đến sau

Vì vậy, vai trò của quy hoạch ở một nơi như thế có lẽ không nên được hiểu trước hết là sáng tác thêm một câu chuyện bao trùm. Công việc quan trọng hơn là nhận diện đủ các lớp đang cùng tồn tại, xác định những quan hệ không gian đã đứt gãy hoặc đang bị cản trở, khôi phục những khả năng sử dụng cần thiết và lựa chọn rất kỹ những ký ức nào thực sự cần được làm hiện lên. Có những nơi cần một biểu tượng mới để bắt đầu hình thành căn cước; cũng có những nơi mà sự tiết chế của người đến sau lại là điều kiện để những giá trị đã tích lũy tiếp tục sống.

Hồ Gươm có lẽ thuộc trường hợp thứ hai. Điều đáng tìm kiếm trong lần quy hoạch này không nhất thiết là một câu chuyện mới đủ lớn để bao quát những câu chuyện đã có, mà là một trật tự không gian đủ tinh tế để lịch sử đã tích lũy, đời sống đang diễn ra và những ký ức chưa hình thành của các thế hệ sau vẫn còn khả năng cùng tồn tại.

 

Không có nhận xét nào: