Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

THỜI GIAN CÓ VẺ KHÔNG QUAN TÂM LẮM ĐẾN LÝ LỊCH

“Ký ức bám rễ vào cái cụ thể, vào không gian, cử chỉ, hình ảnh và đồ vật.” 

(Những di chỉ của ký ức Pierre Nora, Nxb Tri Thức, 2009)

 

Quanh Hồ Gươm đang có nhiều ý tưởng muốn làm cho lịch sử trở nên rõ ràng hơn: nối những biểu tượng thành trục, mở những tầm nhìn vốn chưa có, gọi lại một ngôi chùa đã mất, và cuối cùng đặt thêm một Khải Hoàn Môn để câu chuyện có đầu có cuối. Ý tưởng nghe khá mạch lạc. Chỉ có lịch sử Hồ Gươm hình như từ trước đến nay lại không có thói quen sống mạch lạc như vậy.

Chuyện nổi tiếng nhất đương nhiên là vua Lê trả gươm cho Rùa thần. Nhưng câu chuyện chúng ta thuộc lòng hôm nay bản thân cũng là kết quả của một quá trình kể lại và bồi đắp lâu dài. Còn Tháp Rùa, thứ ngày nay gần như không thể tách khỏi trường nghĩa Lê Lợi – gươm thần – Rùa Vàng, lại là công trình cuối thế kỷ XIX. Sinh sau sự kiện được kể vài trăm năm, chẳng họ hàng trực tiếp gì, nhưng ở với nhau lâu ngày rồi cũng thành người một nhà. Thời gian có vẻ không quan tâm lắm đến lý lịch.

Bờ tây hồ cũng vậy. Khu vực Nhà thờ Lớn gắn với dấu tích của chùa và tháp Báo Thiên nổi tiếng thời Lý, nhưng qua nhiều thế kỷ nơi này đã trải qua những biến đổi phức tạp trước khi Nhà thờ xuất hiện cuối thế kỷ XIX. Nếu chỉ xét nguồn gốc thì đây là một công trình Công giáo được dựng trong thời kỳ Hà Nội đang bị tái cấu trúc mạnh mẽ dưới quyền lực thuộc địa. Nhưng gần một thế kỷ rưỡi trôi qua, người Hà Nội đi lễ, đi chơi, hẹn hò, uống trà, chụp ảnh cưới, nghe chuông nhà thờ và quen với bóng dáng nó trong thành phố. Một công trình từng thuộc về một cuộc thay đổi trật tự không gian nay lại trở thành một phần của “Hà Nội xưa”. Thời gian không hỏi giấy khai sinh.

Gần đó là tượng vua Lê. Vua thuộc thế kỷ XV, tượng thuộc cuối thế kỷ XIX và việc dựng tượng lại gắn với Hoàng Cao Khải, một nhân vật mà lý lịch chính trị đặt cạnh Lê Lợi tạo ra một tổ hợp khá khó giải thích nếu ta cứ nhất quyết đòi các biểu tượng phải thống nhất về tư tưởng. Một nhân vật quan trọng của bộ máy bản xứ trong trật tự thuộc địa góp phần dựng tượng vị vua đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ phương Bắc, ngay cạnh cái hồ đang ngày càng được gắn chặt với huyền thoại trả gươm. Tượng thì không phải làm bản tự khai.

Sang phía đông hồ lại gặp chùa Báo Ân. Ngôi chùa lớn được Nguyễn Đăng Giai đứng ra xây dựng giữa thế kỷ XIX, nhưng ngay người đương thời cũng đã có những lời châm biếm khá cay nghiệt về việc huy động nguồn lực để xây chùa. Người Pháp đến, phần lớn chùa bị phá; thành phố hiện đại tiếp tục viết lên khu vực ấy bằng Điện lực, Bưu điện, công sở, ngân hàng, phố thương mại và những thiết chế mới. Hơn một thế kỷ sau, chùa đã mất bỗng được nhớ đến như một lớp lịch sử cần “gợi nhắc”, trong khi một số thứ đã thực sự đứng đó hơn trăm năm lại có nguy cơ bị xem đơn giản là công trình hiện trạng. Cái còn có thể phá vì đã cũ; cái mất có thể xây mới vì là lịch sử. "Ngạ tử Đài thành Phật cứu ai?".

Mà những thứ trông kém phần lịch sử ấy đôi khi lại làm nên lịch sử nhiều hơn ta tưởng. Người Pháp không chỉ dựng mấy tòa nhà Tây quanh hồ. Thành phố mới còn có điện, bưu điện, nhà in, trường học, ngân hàng, bản đồ, thống kê, báo chí và một bộ máy công chức mới. Benedict Anderson từng chỉ ra vai trò của in ấn, giáo dục và hành chính trong việc tạo nên những cộng đồng quốc gia hiện đại: những người xa lạ bắt đầu đọc cùng một thứ tiếng, học những tri thức tương tự, nhìn cùng những bản đồ và tưởng tượng mình đang sống trong một thế giới chung. Trớ trêu thay, chính những công cụ của chế độ thuộc địa sau đó lại được người bản xứ chiếm dụng để nghĩ về quốc dân, lịch sử và tương lai của mình.

Quanh Hồ Gươm có gần đủ bộ. Đầu Hàng Đào có Đông Kinh Nghĩa Thục. Hàng Gai, Hàng Bông có nhà in, hiệu sách. Tràng Tiền có cơ sở in lớn. Bên hồ có Bưu điện, Điện lực; xa thêm chút nữa là các công sở, trường học, ngân hàng, nhà hát. Thành thử quanh nơi ngày nay chứa đặc quánh các biểu tượng về quốc gia từng tồn tại cả một phần hạ tầng sản xuất và lưu thông ý thức về quốc gia hiện đại. Những thứ ấy không chỉ được xây trong thành phố. Chúng tham gia làm ra một kiểu thành phố mới, một lớp người mới và một công chúng mới.

Câu chuyện đến thời chúng ta vẫn giữ được vẻ nhập nhằng ấy. Hội Kiến trúc sư Việt Nam từng đặt trụ sở ở 23 Đinh Tiên Hoàng, ngay khu vực phía bắc hồ hiện được đề xuất cải tạo mạnh. Hội vừa tổ chức đại hội tại Nhà hát Hồ Gươm, một công trình mới thuộc hệ thống thiết chế văn hóa – an ninh của thành phố. Cũng chính giới kiến trúc những ngày này đang tranh luận khá sôi nổi về đồ án đề xuất đặt một Khải Hoàn Môn trên phố Đinh Tiên Hoàng, không xa nơi Hội từng đặt trụ sở. Chẳng nên suy diễn gì từ những vòng nối ấy; chỉ có thể nói Hồ Gươm dường như rất có duyên khiến những con người, công trình và thiết chế của nhiều thời đại cứ gặp lại nhau theo những cách chẳng ai thiết kế trước.

Nhìn từ nhân học đô thị, chuyện ấy thực ra chẳng có gì bất thường. Biểu tượng không sinh ra một lần rồi đứng nguyên với một ý nghĩa. Người ta dựng nó, phá nó, kể lại về nó, quên nó, nhớ lại nó, chiếm dụng nó cho một mục đích khác; đôi khi còn đem nó ra đùa. Một công trình của quyền lực này có thể trở thành ký ức thân thuộc của cộng đồng khác. Một biểu tượng được dựng vì một lý do có thể vài thế hệ sau được yêu quý vì lý do hoàn toàn khác. Thành phố sống được chính bởi khả năng tiêu hóa những thứ không cùng lý lịch như thế.

Bởi vậy, có lẽ điều đáng ngại nhất không phải Hồ Gươm đang có quá nhiều lớp lịch sử. Cũng không phải các lớp ấy lộn xộn, thậm chí đôi khi trái khoáy với nhau. Đó chính là lịch sử.

Điều đáng ngại hơn là sau vài trăm năm con người xây, phá, kể, quên, nhớ và sống cùng nhau để tạo ra một mớ quan hệ rắc rối nhưng khá bền, một ngày chúng ta bỗng thấy chúng chưa đủ rõ. Thế là lấy thước nối Tháp Rùa với đền Ngọc Sơn, nối tiếp lên một Khải Hoàn Môn; mở Nhà thờ Lớn cho nhìn thẳng ra hồ; rồi tìm cách gọi lại một ngôi chùa đã biến mất.

Thời gian vốn không quan tâm lắm đến lý lịch. Có khi chỉ người làm quy hoạch mới sốt ruột muốn làm hộ nó một bản lý lịch cho ngay ngắn.

NHÀ THỜ LỚN CÓ CẦN NHÌN THẤY HỒ GƯƠM?


Một vài cơ sở lý thuyết để phân tích và phê bình quy hoạch khu vực Hồ Gươm

Trong thiết kế đô thị, “trục” là một trong những công cụ cổ điển, mạnh và dễ hiểu nhất. Một đường thẳng có thể tổ chức chuyển động, thiết lập hướng nhìn, tạo thứ bậc giữa các công trình và làm cho một quần thể phức tạp trở nên mạch lạc. Chính vì mạnh và dễ hiểu nên trục cũng rất dễ bị sử dụng như một phản xạ: thấy hai đối tượng quan trọng thì nối chúng lại; thấy một công trình có giá trị thì mở tầm nhìn về phía nó; thấy một khoảng không gian chưa rõ hình thì đặt vào đó một điểm kết thúc.

Những tranh luận quanh các đề xuất tạo thêm trục tại Hồ Gươm vì vậy có thể được đặt trong một câu chuyện lý thuyết rộng hơn. Vấn đề không phải thiết kế đô thị hiện đại đã từ bỏ trục, mà là sau hơn một thế kỷ phê bình và phát triển, chúng ta không còn có thể coi trục hình học, trục thị giác, trục vận động và quan hệ đô thị là một.

Trục trong truyền thống Beaux-Arts: một công cụ tạo trật tự

Trong truyền thống thiết kế Beaux-Arts cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, bố cục thường được tổ chức bằng hệ thống trục chính – phụ, đối xứng, quảng trường, đại lộ và các công trình giữ vị trí kết thúc hoặc tiêu điểm của phối cảnh. Trục không chỉ tạo một đường nhìn mà còn thiết lập thứ bậc: công trình quan trọng nhất chiếm vị trí quan trọng nhất, các không gian và công trình phụ được tổ chức theo quan hệ với nó. Những nguyên tắc này ảnh hưởng mạnh đến thiết kế các trung tâm hành chính, công trình công cộng và quy hoạch đô thị ở nhiều quốc gia.

Ở cấp độ tốt nhất của nó, đây hoàn toàn không phải một thủ pháp nông cạn. Một bố cục Beaux-Arts thành công đòi hỏi sự thống nhất giữa trục, công trình, công năng, chuyển động, khoảng trống và thứ bậc. Trục chính không tồn tại chỉ vì trên bản đồ có hai điểm đáng nối. Các trục phụ, sân, vườn, khoảng lùi và công trình tạo thành một hệ thống, trong đó từng thành phần được xác định vị trí tương đối so với toàn thể.

Ngay tại Hà Nội, ảnh hưởng của phương thức tổ chức này có thể nhận thấy trong quá trình hình thành khu phố thuộc địa: đường rộng, phối cảnh, vị trí các công trình công cộng và những hệ thống trục được sử dụng để xác lập trật tự cho các khu hành chính mới. Các nghiên cứu về hình thái Hà Nội thời thuộc địa cũng ghi nhận việc các công trình quan trọng được bố trí tại những vị trí có chủ ý, nhiều trường hợp ở cuối các trục để tạo phối cảnh.

Điều đáng chú ý vì thế là: ngay trong tư duy trục cổ điển, không phải mọi công trình đều bình đẳng và không phải mọi trục đều quan trọng như nhau. Trục trước hết là công cụ tạo thứ bậc.

Camillo Sitte: thành phố nhìn từ người đang đi trong nó

Ngay khi những phương pháp quy hoạch hình học cuối thế kỷ XIX đang phát triển mạnh, Camillo Sitte đã đưa ra một phê bình quan trọng trong City Planning According to Artistic Principles năm 1889. Ông nghiên cứu các quảng trường và đường phố lịch sử châu Âu và nhận thấy nhiều không gian được con người cảm nhận là đẹp lại không hề tuân thủ sự ngay ngắn mà bản vẽ hình học hiện đại ưa thích. Quảng trường có thể bất đối xứng, đường vào có thể lệch, monument không nhất thiết đứng giữa, đường phố có thể đổi hướng; điều quan trọng là quan hệ giữa công trình và khoảng trống được cảm nhận như thế nào từ vị trí của con người trong không gian.

Đây là một chuyển dịch quan trọng. Một mặt bằng có thể rất đẹp khi nhìn từ trên xuống nhưng con người không sống trong mặt bằng. Người ta đi qua phố, nhìn thấy một phần công trình, bị che khuất, chuyển hướng rồi nhìn thấy một khoảng khác. Sitte đặc biệt phản đối xu hướng cô lập các monument khỏi mô đô thị xung quanh chỉ để chúng được phô bày rõ hơn.

Đặt câu hỏi ấy vào trường hợp Nhà thờ Lớn – Hồ Gươm sẽ thấy vấn đề lập tức thay đổi. Câu hỏi không còn đơn giản là “có thể mở một trục nhìn từ hồ tới Nhà thờ hay không?”, mà phải hỏi chuỗi không gian hiện tại đang được trải nghiệm thế nào; việc công trình chỉ xuất hiện sau khi đi qua mô phố có phải một phẩm chất hay không; mở tầm nhìn sẽ tạo thêm giá trị gì và đồng thời lấy đi điều gì.

Từ “trục nhìn” đến “chuỗi trải nghiệm”

Đến giữa thế kỷ XX, cách tiếp cận dựa trên trải nghiệm của người sử dụng được phát triển rõ hơn. Gordon Cullen gọi sự thay đổi liên tục của hình ảnh thành phố khi con người di chuyển là serial vision – thị giác nối tiếp. Kevin Lynch, từ nghiên cứu thực nghiệm về cách cư dân hình dung thành phố, lại chỉ ra rằng hình ảnh đô thị được cấu tạo không chỉ bởi landmark mà còn bởi đường đi, ranh giới, khu vực và các nút.

Như vậy một công trình biểu tượng không tồn tại độc lập. Giá trị nhận biết của nó phụ thuộc vào cả mạng quan hệ xung quanh.

Điều này đặc biệt quan trọng khi đọc Hồ Gươm. Nhà thờ Lớn không chỉ là một điểm nhấn đô thị cần “kết nối” với một landmark khác là Hồ Gươm. Giữa chúng tồn tại đường phố, ngã rẽ, mô phố, hoạt động tầng trệt, những thay đổi về chiều rộng không gian và cuối cùng là quảng trường Nhà thờ. Toàn bộ chuỗi ấy mới tạo thành trải nghiệm đô thị.

Nếu chỉ lấy hai đầu mút rồi nối bằng một đường thẳng, ta có thể làm tăng khả năng nhìn thấy nhưng đồng thời làm giảm tính dẫn dắt. Hai giá trị ấy không giống nhau.

Thành phố không phải một bố cục duy nhất

Một bước phát triển khác của tư duy đô thị thế kỷ XX là sự hoài nghi ngày càng lớn đối với tham vọng tổ chức toàn bộ thành phố bằng một trật tự duy nhất. Colin Rowe và Fred Koetter trong Collage City phê bình những quan niệm về “total planning” và “total design”, đề nghị nhìn thành phố như nơi nhiều cấu trúc và nhiều thời đại có thể cùng tồn tại thay vì phải quy phục một ý niệm tổng thể duy nhất.

Điều này rất gần với vấn đề Hồ Gươm: Phố cổ không được sản xuất theo cùng một logic với khu hành chính thuộc địa. Nhà thờ Lớn không cùng một hệ tổ chức với Vườn hoa Lý Thái Tổ. Đền Ngọc Sơn không được tạo ra để cùng tham gia một bố cục với tượng vua Lê cuối thế kỷ XIX. Bưu điện, Điện lực, Ngân hàng lại thuộc một quá trình hiện đại hóa khác. Chúng có quan hệ với nhau vì lịch sử đã đặt chúng cạnh nhau.

Nhưng có quan hệ không đồng nghĩa với cần phải hợp thành một bố cục. Đây có lẽ là một trong những phân biệt quan trọng nhất khi phê bình các đề xuất hiện nay.

Trục hình học, trục thị giác, trục vận động và trục ý nghĩa không phải một

Từ các phát triển lý thuyết trên có thể tạm phân biệt ít nhất bốn loại quan hệ thường bị gọi chung là “trục”.

Trục hình học là quan hệ có thể xác định trên mặt bằng: các điểm hoặc không gian được tổ chức theo một đường.

Trục thị giác là quan hệ về tầm nhìn: một công trình, cảnh quan hoặc vật thể đóng vai trò tiêu điểm của phối cảnh.

Trục vận động là cấu trúc thực tế dẫn dòng người qua thành phố.

Trục biểu tượng là quan hệ ý nghĩa được con người hoặc người thiết kế thiết lập giữa các đối tượng.

Bốn thứ có thể trùng nhau, khi đó trục thường rất mạnh. Nhưng chúng cũng hoàn toàn có thể không trùng. Nhà thờ có thể có quan hệ biểu tượng với hồ nhưng không cần một trục thị giác trực tiếp. Vườn hoa có thể dẫn đến một công trình bằng trình tự không gian mà không cần tạo hướng nhìn phối cảnh dài. Một công trình biểu tượng điểm nhấn có thể nhìn thấy từ xa nhưng không nằm trên tuyến vận động chính. Hai di tích có thể cùng thuộc ký ức của một thành phố nhưng chẳng có lý do hình thái nào để nối chúng bằng một đường. Sai lầm bắt đầu khi quan hệ ý nghĩa được tự động chuyển thành quan hệ hình học.

Thứ bậc quan trọng hơn số lượng trục

Điều này cho phép đọc lại khu vực phía Đông Hồ Gươm theo một cách khác. Khu thị chính cũ có Hồ Gươm, Vườn hoa Lý Thái Tổ, các công sở, Ngân hàng và những khoảng vườn, quảng trường phía sau. Giá trị không nằm ở việc tất cả cùng hướng trực tiếp ra hồ mà ở việc chúng tạo thành một chuỗi có thứ bậc.

Khoảng trống dẫn tới công trình. Công trình xác lập tính chất của khoảng trống. Vườn hoa tạo khoảng lùi. Một công trình quan trọng có thể đứng sau một lớp không gian khác mà vị thế không hề giảm đi.

Trong tư duy bố cục cổ điển đúng nghĩa, đây cũng chính là nguyên tắc chính – phụ.

Vì thế có một nghịch lý: việc vẽ ngày càng nhiều “trục” chưa chắc là tiếp nối tư duy Beaux-Arts. Nếu mọi công trình quan trọng đều được cấp một trục hướng về Hồ Gươm thì chính thứ bậc mà bố cục Beaux-Arts từng coi trọng lại biến mất. Mọi thứ cùng quan trọng thì cuối cùng không còn thứ gì thực sự giữ vai trò tổ chức.

Từ Báo Ân đến vấn đề “làm rõ” lịch sử

Đề xuất một công trình gợi nhắc chùa Báo Ân tưởng như thuộc một vấn đề khác, nhưng về phương pháp lại khá gần: Một quan hệ không gian chưa trực tiếp thì được làm rõ bằng trục. Một lớp lịch sử đã mất thì được làm rõ bằng một vật thể mới. Cả hai cùng chứa một giả định: cái có ý nghĩa cần được làm cho hiện ra.

Trong khi lịch sử đô thị thường để lại những quan hệ phức tạp hơn. Báo Ân xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX rồi biến mất. Sau nó là quá trình hình thành Bưu điện, Điện lực và những thiết chế góp phần sản xuất Hà Nội hiện đại. Tháp Hòa Phong còn lại. Sự mất đi của chùa và sự xuất hiện của lớp đô thị tiếp theo đều là lịch sử.

Bởi vậy nhiệm vụ của quy hoạch di sản không nhất thiết là làm cho từng lớp lịch sử trở lại thành một vật thể dễ nhận biết. Quan trọng hơn là giữ cho quá trình lịch sử ấy còn có thể đọc được.

Một bộ câu hỏi để đọc và phê bình Hồ Gươm

Từ câu chuyện hơn một thế kỷ phát triển của lý luận thiết kế đô thị, có thể rút ra một số câu hỏi khá thực dụng khi đánh giá những “trục” mới quanh Hồ Gươm:

  1. Trục được đề xuất là trục hình học, thị giác, vận động hay biểu tượng? Có căn cứ gì để các loại quan hệ ấy phải trùng nhau?
  2. Trục đó có xuất phát từ cấu trúc hình thái đang tồn tại hay chủ yếu xuất hiện sau khi nối các điểm quan trọng trên mặt bằng?
  3. Nó có tổ chức dòng người và hoạt động thực tế, hay chủ yếu tạo một phối cảnh?
  4. Trục mới nằm ở đâu trong hệ thứ bậc chính – phụ của khu vực? Nếu tất cả đều là trục chính thì cấu trúc chung còn gì là chính?
  5. Công trình ở cuối trục có thực sự cần được nhìn thấy từ xa, hay giá trị của nó nằm trong trình tự tiếp cận và sự xuất hiện có độ trễ?
  6. Việc mở trục sẽ làm mất những gì: mô phố, khoảng chuyển tiếp, hoạt động, cây xanh, công trình, ký ức hay một trình tự không gian đã hình thành?
  7. Quan trọng nhất: nếu không tạo trục này thì Hồ Gươm có thực sự nghèo đi không?

Những câu hỏi ấy không dẫn tới kết luận rằng trục là một công cụ đã lỗi thời. Paris, Washington, New Delhi hay nhiều đô thị khác cho thấy trục có thể tạo nên những không gian đô thị rất mạnh. Ngay những lý thuyết phê bình từ Sitte trở đi cũng không đơn giản phủ nhận đường thẳng hay trục; Sitte thừa nhận đường thẳng vẫn cần thiết khi hoàn cảnh phù hợp. Điều bị phê bình là việc biến một phương tiện bố cục thành công thức phổ quát.

Với Hồ Gươm, vấn đề vì thế không phải có được dùng trục hay không. Vấn đề là trước khi vẽ một trục mới, phải chứng minh được rằng nó xuất phát từ cấu trúc đô thị, làm rõ một thứ bậc cần thiết, tổ chức được chuyển động và trải nghiệm, đồng thời tạo ra giá trị lớn hơn những quan hệ mà nó làm mất.

Sau hơn một thế kỷ phát triển của lý luận thiết kế đô thị, có lẽ điều thay đổi căn bản chính là ở đó: từ câu hỏi “ta sẽ tổ chức thành phố bằng hình học nào?”, người thiết kế phải học thêm cách hỏi “thành phố đang được con người trải nghiệm và đã tự tổ chức thành những quan hệ nào?”

Đối với một đô thị mới, hai câu hỏi có thể cùng bắt đầu trên một tờ giấy trắng.

Đối với Hồ Gươm, câu hỏi thứ hai phải đi trước.

 

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

NHỮNG LÝ THUYẾT NỀN TẢNG CHO MỘT BÀI PHÂN TÍCH THIẾT KẾ ĐÔ THỊ

 

Đọc lại bài “Khi một trục biểu tượng được đặt vào Hồ Gươm”

Bài viết Khi một trục biểu tượng được đặt vào Hồ Gươm không chỉ nhận xét về một phương án quy hoạch, mà còn cho thấy các lý thuyết có thể được đưa vào thực tế thiết kế như thế nào. Dù không dùng quá nhiều thuật ngữ chuyên môn, bài viết vẫn dựa trên nhiều hướng tiếp cận về hình thái đô thị, hiện tượng học, xã hội học, ký ức, thông diễn học và bảo tồn di sản.

Điều đáng chú ý hơn là không có một lý thuyết nào trong số đó đủ sức giải thích toàn bộ vấn đề. Một trục đô thị đồng thời là hình học, không gian được tri giác, cấu trúc chuyển động, quan hệ giữa các biểu tượng, sự can thiệp vào mô đô thị, một cách diễn giải lịch sử và cuối cùng là một lựa chọn về giá trị. Mỗi lý thuyết chỉ giúp nhìn rõ một số phương diện.

Vì vậy, trường hợp Hồ Gươm cũng có thể dùng như một ví dụ để tìm hiểu một vấn đề rộng hơn của thực hành quy hoạch: khi một tình huống phức tạp cần đến nhiều lý thuyết và nhiều ngành khác nhau, phải sử dụng chúng như thế nào để kết quả không trở thành một tập hợp nhận xét rời rạc, thậm chí mâu thuẫn, mà vẫn tạo thành một lập luận có thể kiểm chứng và biện minh cho lựa chọn thiết kế?

1. Từ hình học đến hình thái và tri giác

Nối các công trình bằng một đường thẳng chưa đủ để tạo thành một trục đô thị. Còn phải xem hướng nhìn, chuyển động, tỷ lệ, khoảng trống, điểm kết thúc và chuỗi trải nghiệm của người sử dụng.

Cách tiếp cận này gắn với các công trình của Sitte, Cullen và Lynch: không nên đánh đồng trật tự hình học với trật tự mà con người có thể nhận ra và trải nghiệm. Vì vậy, câu hỏi không chỉ là trục có tồn tại trên bản vẽ hay không, mà còn là liệu người ta có nhìn thấy, trải nghiệm và cảm nhận được ý nghĩa của nó hay không.

Ở bước này, lý thuyết được dùng để sửa một thiên kiến rất thường gặp trong thiết kế: nhìn thành phố từ trên xuống như nhìn một bản vẽ. Quan hệ hình học có thể rất rõ trên tổng mặt bằng nhưng lại yếu hoặc hoàn toàn không tồn tại ở tầm mắt người sử dụng.

2. Hiện tượng học kiến trúc

Tháp Rùa thường được nhìn từ xa, qua mặt nước, cây cối và một khoảng cách nhất định. Trong khi đó, Đền Ngọc Sơn được trải nghiệm qua một hành trình: từ phố, qua cổng, cầu và mặt nước, rồi mới bước vào không gian thờ tự.

Câu “Một bên cho ta nhìn. Một bên cho ta đi vào” thể hiện cách tiếp cận hiện tượng học: công trình được cảm nhận qua trải nghiệm của cơ thể, chứ không chỉ qua hình thức. Nhờ vậy, bài viết nhận ra rằng hai địa điểm này vốn đã có mối quan hệ với nhau mà không cần một trục kết nối trực tiếp.

Lý thuyết ở đây làm thay đổi chính đối tượng quan sát. Ta không chỉ hỏi công trình nằm ở đâu, mà hỏi nó xuất hiện với con người như thế nào; không chỉ đo khoảng cách bằng mét, mà xem khoảng cách ấy được chuyển thành kinh nghiệm ra sao.

3. Từ trục đến trường đa tâm

Không nhất thiết phải hiểu Hồ Gươm như một cấu trúc trục. Các công trình và khu vực quanh hồ thuộc nhiều thời kỳ khác nhau, đồng thời mang nhiều lớp ý nghĩa. Mặt nước, tuyến đi bộ, mạng lưới đường phố, hệ thống cây xanh và chuyển động của con người mới là những yếu tố tạo nên sự liên kết tổng thể.

Có thể xem đây là một “trường đa tâm”, khá gần với khái niệm field conditions của Stan Allen. Một trục thường tạo ra quan hệ đầu–cuối và phân biệt chính–phụ. Còn một trường cho phép nhiều thành tố cùng tồn tại mà không nhất thiết phải xoay quanh một trung tâm duy nhất.

Sự phân biệt này rất quan trọng đối với việc đánh giá phương án. Nếu cấu trúc hiện hữu vốn là một trường đa tâm, đặt vào đó một trục mạnh không đơn thuần là thêm một thành phần. Nó có thể thay đổi nguyên lý tổ chức của toàn bộ không gian.

4. Ký ức tập thể và quá trình hình thành ý nghĩa

Tháp Rùa trở thành biểu tượng không chỉ vì hình thức kiến trúc, mà còn vì nó đã được nhìn ngắm, chụp ảnh, kể lại và ghi nhớ qua nhiều thế hệ. Ý nghĩa của công trình được bồi đắp từ hành vi, ký ức và thời gian.

Lập luận này gần với tư tưởng của Halbwachs, Nora và Lefebvre, đồng thời cũng liên quan đến mỹ học tiếp nhận. Kiến trúc sư có thể tạo ra một vật thể với ý định biểu tượng, nhưng không thể chắc chắn xã hội sẽ tiếp nhận nó đúng như ý định ban đầu.

Từ đây xuất hiện một giới hạn quan trọng của quyền lực thiết kế. Người thiết kế có thể tạo vật thể, không gian và những điều kiện thuận lợi cho một quá trình hình thành ý nghĩa. Nhưng ý nghĩa xã hội của công trình còn phụ thuộc vào việc nó được sử dụng, tiếp nhận, kể lại và ghi nhớ như thế nào trong thời gian.

5. Thông diễn học

Nếu một thiết kế làm hiện rõ một mối quan hệ lịch sử từng bị che khuất, đó có thể được xem là một cách phục hồi. Nhưng nếu mối quan hệ ấy chưa từng tồn tại, trục mới sẽ là một cách diễn giải được tạo ra ở hiện tại.

Theo tinh thần của Gadamer, mỗi thời đại đều đọc quá khứ từ góc nhìn và hiểu biết của chính mình. Vì vậy, cần phân biệt giữa việc phát hiện một sự kiện lịch sử với việc tạo ra một câu chuyện mới rồi trình bày nó như thể đó là một tất yếu lịch sử. Thiết kế không chỉ sắp xếp không gian, mà còn có thể góp phần tạo ra và diễn giải lịch sử.

Điều này không có nghĩa mọi diễn giải mới đều không chính đáng. Một thành phố sống luôn phải tạo thêm giá trị và những cách hiểu mới. Nhưng một diễn giải mới phải được nhận diện đúng là diễn giải mới và chịu trách nhiệm về những quan hệ lịch sử mà nó làm thay đổi.

6. Xã hội học đô thị

Phá bỏ một dãy phố không chỉ là loại bỏ các công trình kiến trúc. Việc đó còn có thể làm mất đi hệ thống cửa hàng, cộng đồng cư dân, hoạt động ở tầng trệt, địa chỉ, lối đi và những mối quan hệ kinh tế đã hình thành theo thời gian.

Cách nhìn này khá gần với tư tưởng của Jane Jacobs: giá trị đô thị nằm ở cả cấu trúc mô đô thị và đời sống đường phố, chứ không chỉ ở từng công trình riêng lẻ. Vì vậy, cần hỏi liệu giá trị của khoảng trống mới có thật sự lớn hơn tổng giá trị của mô đô thị bị thay thế hay không.

Xã hội học ở đây giúp bản vẽ nhìn thấy những thứ bản vẽ thường không thể hiện. Một khối nhà có thể không có giá trị đặc biệt nếu đánh giá từng công trình riêng lẻ nhưng vẫn là bộ phận của một cấu trúc đời sống có giá trị.

7. Nơi chốn được sống và không gian được trình diễn

Những hoạt động thường ngày quanh Hồ Gươm — tập thể dục, đi làm, nghỉ ngơi và vui chơi — là những tiêu chí quan trọng để đánh giá một thiết kế đô thị.

Theo Lefebvre, thành phố không chỉ là không gian được thể hiện trên bản vẽ, mà còn là nơi được sử dụng, trải nghiệm và tạo lại mỗi ngày. Quảng trường và các công trình lớn có thể tạo ra hình ảnh ấn tượng, nhưng đôi khi cũng làm giảm cơ hội xuất hiện của những hoạt động tự phát.

Vì vậy, khả năng tổ chức những sự kiện lớn hay tạo một hình ảnh mạnh không thể tự động được coi là giá trị cao hơn đời sống thường nhật. Hai loại giá trị phải cùng được nhận diện trước khi lựa chọn.

8. Quyền tổ chức cái nhìn

Hiện nay, Tháp Rùa được nhìn từ nhiều vị trí, trong những điều kiện ánh sáng, mùa và bối cảnh cảnh quan khác nhau. Một công trình lớn có thể làm Tháp Rùa nổi bật hơn trong một khung hình, nhưng đồng thời cũng có thể áp đặt một cách nhìn duy nhất.

Đây là sự chuyển đổi từ một biểu tượng được “tình cờ bắt gặp” sang một biểu tượng được “dàn dựng”. Vấn đề không chỉ là cảnh quan có đẹp hay không, mà còn là người sử dụng còn được tự do trải nghiệm đô thị đến mức nào.

Một thiết kế cảnh quan vì thế không chỉ tạo ra cái để nhìn mà còn tổ chức vị trí của người nhìn, hướng nhìn và thứ bậc giữa những đối tượng được nhìn thấy.

9. Bảo tồn các mối quan hệ

Bảo tồn không chỉ là giữ lại Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc hay Tháp Bút. Khi khoảng cách, tuyến tiếp cận, trường nhìn, mô phố và các hoạt động xung quanh thay đổi, ý nghĩa của toàn bộ cấu trúc cũng có thể thay đổi theo.

Vì vậy, thứ cần được bảo tồn không chỉ là các vật thể, mà còn là những mối quan hệ giữa chúng. Những mối quan hệ này khó giữ hơn vật thể vì không có ranh giới rõ ràng trên bản đồ.

Đến đây có thể thấy các hướng phân tích khác nhau bắt đầu gặp nhau. Hình thái đô thị nói về quan hệ giữa các thành phần không gian. Hiện tượng học nói về quan hệ giữa con người và nơi chốn. Xã hội học nói về quan hệ giữa hình thái và đời sống. Nghiên cứu ký ức nói về quan hệ giữa nơi chốn, cộng đồng và thời gian. Thông diễn học nói về quan hệ giữa quá khứ và sự diễn giải của hiện tại. Bảo tồn cuối cùng phải xử lý chính những quan hệ tạo nên giá trị ấy.

10. Nhiều lý thuyết không tự động tạo thành một phương pháp liên ngành

Đến đây xuất hiện một vấn đề cần đặc biệt lưu ý. Nếu một lý thuyết không đủ để giải thích tình huống phức tạp, việc đưa thêm nhiều lý thuyết vào chưa chắc làm cho phân tích tốt hơn.

Lynch, Jacobs, Lefebvre, Gadamer hay hiện tượng học không thuộc cùng một hệ thống tư tưởng. Chúng có đối tượng, phương pháp và những tiền giả định khác nhau. Nếu lựa chọn tùy tiện, người phân tích rất dễ rơi vào tình trạng mỗi lý thuyết được gọi đến để chứng minh một nhận xét mà mình đã muốn chứng minh từ trước.

Phân tích liên ngành vì thế không phải là chồng nhiều lý thuyết lên một đối tượng.

Điều đầu tiên phải làm là phân biệt câu hỏi. Hình thái đô thị được dùng để xem trục vận hành về không gian như thế nào. Hiện tượng học xem con người kinh nghiệm nơi chốn ra sao. Xã hội học giúp nhận diện cấu trúc đời sống. Nghiên cứu ký ức giải thích sự hình thành biểu tượng. Thông diễn học kiểm tra cách hiện tại đang diễn giải quá khứ. Lý thuyết bảo tồn xem những giá trị và quan hệ nào cần được duy trì.

Các lý thuyết không nhất thiết phải thống nhất hoàn toàn về thế giới quan, bởi chúng không nhất thiết được dùng để trả lời cùng một câu hỏi.

Nhưng chúng phải cùng hướng về một đối tượng nghiên cứu đã được xác định rõ.

11. Từ nhiều phép phân tích đến một mô hình chung của đối tượng

Nếu sau khi sử dụng nhiều lý thuyết ta chỉ thu được một tập hợp nhận xét rời rạc thì công việc liên ngành vẫn chưa hoàn thành.

Trong trường hợp Hồ Gươm, các hướng phân tích khác nhau cuối cùng hội tụ vào một nhận định chung: Hồ Gươm không chỉ là tập hợp các vật thể nằm cạnh nhau. Nó là một cấu trúc quan hệ được hình thành giữa vật thể, không gian, con người, hoạt động, ký ức và thời gian.

Có thể biểu diễn trình tự nhận thức như sau:

Vật thể → quan hệ không gian → kinh nghiệm → thực hành → ký ức → ý nghĩa → cấu trúc giá trị.

Mô hình chung này giữ các phép phân tích lại với nhau.

Một lý thuyết chỉ nên được đưa vào khi nó giúp nhận diện một phương diện có ý nghĩa đối với mô hình chung. Nếu một khái niệm rất hấp dẫn về học thuật nhưng không giúp hiểu thêm đối tượng hoặc không ảnh hưởng đến việc đánh giá phương án, không có lý do phải đưa nó vào.

Đây cũng là cách tránh một căn bệnh khá phổ biến của nghiên cứu thiết kế: tích lũy thuật ngữ thay vì tích lũy hiểu biết.

12. Cần một khung phương pháp luận đứng trên các công cụ phân tích

Có thể hình dung quá trình nghiên cứu gồm ba tầng.

Tầng thứ nhất là đối tượng thực tế: Hồ Gươm, cấu trúc hiện hữu và phương án can thiệp.

Tầng thứ hai là các công cụ phân tích: hình thái học, hiện tượng học, xã hội học, nghiên cứu ký ức, thông diễn học, bảo tồn và những lĩnh vực cần thiết khác.

Tầng thứ ba là khung phương pháp luận: xác định vì sao cần những phép phân tích ấy, chúng liên hệ với nhau thế nào và cuối cùng dùng tiêu chuẩn gì để đánh giá sự thay đổi.

Trong trường hợp này, khung chung có thể được phát biểu bằng một câu hỏi:

Phương án tạo ra giá trị gì, làm mất giá trị gì và tổ chức lại quan hệ giữa các giá trị hiện hữu như thế nào?

Khi đặt câu hỏi như vậy, các lý thuyết bộ phận trở thành những công cụ giúp nhận diện các loại giá trị khác nhau. Chúng không cạnh tranh để đưa ra phương án cuối cùng.

13. Đối chứng chéo giữa các phương pháp

Một ưu điểm quan trọng của phân tích liên ngành là cùng một hiện tượng có thể được kiểm tra từ những hướng độc lập.

Trong trường hợp Hồ Gươm, hiện tượng học cảnh báo về sự thay đổi cách con người kinh nghiệm biểu tượng. Xã hội học cảnh báo về sự mất đi của những thực hành thường nhật. Hình thái học cho thấy khả năng chuyển từ trường đa tâm sang cấu trúc hướng trục. Nghiên cứu ký ức đặt vấn đề về khả năng chủ động sản xuất một biểu tượng. Thông diễn học cảnh báo việc biến một diễn giải mới thành quan hệ lịch sử tưởng như vốn có. Bảo tồn lại cho thấy có thể giữ nguyên vật thể nhưng làm mất những quan hệ khiến vật thể có ý nghĩa.

Các phương pháp khác nhau cùng chỉ về một khả năng: can thiệp đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ hiện hữu của Hồ Gươm sâu hơn nhiều so với vẻ ngoài của một thao tác tạo quảng trường và trục nhìn.

Sự hội tụ từ những phương pháp tương đối độc lập làm tăng độ tin cậy của nhận định. Có thể gọi đây là một hình thức đối chứng chéo.

Tuy nhiên, không được ép các kết quả phải hội tụ. Nếu một phương án rất tốt về giao thông nhưng gây tổn thất lớn về di sản, đó không phải lỗi của phương pháp. Chính sự bất đồng ấy đã phát hiện ra một cuộc đánh đổi thực sự mà quyết định quy hoạch phải đối mặt.

14. Phân biệt phân tích với phán đoán giá trị

Đây là bước rất dễ bị bỏ qua.

Các lý thuyết có thể giúp chứng minh rằng một phương án tạo ra quảng trường lớn hơn, cải thiện một trường nhìn, phá vỡ một mô phố, thay đổi một tuyến tiếp cận, làm suy giảm một số hoạt động hoặc tạo ra một cách diễn giải lịch sử mới.

Nhưng những kết quả ấy không tự cộng lại thành đáp án “nên làm” hay “không nên làm”.

Bởi các giá trị đô thị thường không có cùng đơn vị đo.

Một hecta quảng trường không thể trực tiếp quy đổi thành một số lượng ký ức cộng đồng. Hiệu quả tổ chức sự kiện không thể chia cho giá trị của một trường nhìn lịch sử. Một lợi ích giao thông cũng không tự động cho biết có đáng đánh đổi một cấu trúc đời sống hay không.

Từ phân tích sang quyết định luôn tồn tại một bước phán đoán giá trị.

Thừa nhận điều đó không làm quy hoạch kém khoa học. Ngược lại, nó giúp phân biệt rõ phần nào của lập luận dựa trên bằng chứng và phần nào là lựa chọn cần được giải trình.

15. Điều gì ngăn phân tích liên ngành trở thành tùy tiện?

Không có một “siêu lý thuyết” có thể tự động bảo đảm mọi lựa chọn đúng. Điều có thể bảo đảm tính chặt chẽ là kỷ luật của quá trình lập luận.

Trước hết, phải nói rõ câu hỏi nào đang được đặt ra và vì sao một lý thuyết cụ thể thích hợp để trả lời câu hỏi đó. Tiếp theo, nhận định phải dựa trên dữ liệu và quan sát có thể kiểm tra. Những kết quả trái nhau không được che giấu. Bước chuyển từ kết quả phân tích sang nhận định giá trị phải được trình bày rõ. Và khi so sánh các phương án, cùng một hệ tiêu chuẩn phải được áp dụng nhất quán.

Nếu dùng Jane Jacobs để phê bình phương án mình không thích vì nó phá đời sống đường phố nhưng lại bỏ qua chính tiêu chuẩn ấy khi đánh giá phương án mình ủng hộ, đó không còn là phân tích liên ngành. Đó là lựa chọn lý thuyết để biện hộ cho một kết luận có trước.

Tính thống nhất học thuật vì vậy không nhất thiết nằm ở việc tất cả các lý thuyết phải cùng một nguồn gốc. Nó nằm ở sự thống nhất của đối tượng nghiên cứu, sự minh bạch của khung phương pháp luận, tính nhất quán trong việc áp dụng công cụ và khả năng kiểm tra lại toàn bộ chuỗi lập luận.

16. Từ phân tích đến quyết định thiết kế

Một quy trình thực hành có thể đi theo trình tự sau.

Bước 1. Xác định chính xác can thiệp.
Không hỏi chung chung phương án “đẹp hay xấu”, mà xác định nó đang thay đổi những gì: mô phố, khoảng trống, trục nhìn, dòng người, công trình, hoạt động hay quan hệ biểu tượng.

Bước 2. Xác định những câu hỏi mà một ngành riêng lẻ không giải thích đủ.
Ví dụ: trục có tồn tại về không gian không; người sử dụng kinh nghiệm nó thế nào; mô phố chứa đời sống gì; các biểu tượng đã hình thành ý nghĩa ra sao; quan hệ lịch sử được đề xuất có thực sự tồn tại hay không.

Bước 3. Chọn công cụ lý thuyết thích hợp cho từng câu hỏi.
Không bắt đầu bằng danh sách học giả. Bắt đầu bằng vấn đề rồi mới tìm công cụ.

Bước 4. Thu thập bằng chứng tương ứng.
Bản đồ, mặt cắt, khảo sát trường nhìn, quan sát hành vi, lịch sử hình thành, tư liệu hình ảnh, ký ức, hoạt động kinh tế, dòng người và các dữ liệu khác phải được lựa chọn theo câu hỏi nghiên cứu.

Bước 5. Đối chứng các kết quả.
Xem các phương pháp khác nhau đang củng cố, bổ sung hay mâu thuẫn với nhau ở đâu.

Bước 6. Xây dựng mô hình chung của đối tượng.
Từ những kết quả riêng lẻ, xác định cấu trúc nào thực sự đang tạo nên giá trị của nơi chốn.

Bước 7. Xác định cái được và cái mất của từng phương án.
Không chỉ tính giá trị mới tạo ra mà phải nhận diện những quan hệ và khả thể bị lấy đi.

Bước 8. Công khai tiêu chuẩn phán đoán.
Giá trị nào được ưu tiên và vì sao? Những đánh đổi nào được chấp nhận? Những giá trị nào được coi là không thể thay thế?

Bước 9. Quay trở lại bản vẽ.
Nếu toàn bộ quá trình nghiên cứu không làm thay đổi phương án, rất có thể lý thuyết mới chỉ được dùng để thuyết minh. Phân tích chỉ hoàn thành khi những gì nhận biết được quay trở lại tác động vào quyết định không gian.

17. Vai trò của người thiết kế và chủ nhiệm quy hoạch

Nhà sử học có thể xác định một quan hệ lịch sử có thật hay không. Nhà xã hội học có thể phân tích đời sống cộng đồng. Chuyên gia giao thông có thể mô hình hóa dòng người. Chuyên gia bảo tồn có thể đánh giá nguy cơ đối với di sản. Nhà thiết kế đô thị có thể phân tích hình thái, cảnh quan và trải nghiệm không gian.

Nhưng không chuyên ngành nào trong số đó một mình có đủ thẩm quyền tri thức để quyết định toàn bộ một tình huống quy hoạch phức tạp.

Vai trò của người thiết kế hoặc chủ nhiệm quy hoạch không phải là biết nhiều hơn tất cả các chuyên gia trong lĩnh vực của họ. Công việc khó hơn nằm ở chỗ xây dựng một cấu trúc vấn đề đủ đúng để các tri thức khác nhau được đặt đúng chỗ, có thể kiểm tra lẫn nhau, bộc lộ những xung đột thực sự và cuối cùng được tổng hợp thành lựa chọn không gian.

Có thể phân biệt:

Lý thuyết giúp nhận biết.
Bằng chứng giúp kiểm tra.
Phương pháp luận tổ chức các tri thức.
Phán đoán nghề nghiệp thực hiện lựa chọn.
Quy trình phản biện và thẩm định kiểm soát lựa chọn ấy.

Không tầng nào có thể thay thế tầng nào.

18. Một bài viết đã vận dụng lý thuyết như thế nào?

Nhìn lại bài Khi một trục biểu tượng được đặt vào Hồ Gươm, chuỗi lập luận có thể tóm lại:

  • Trục có thực sự tồn tại hay không? → hình thái đô thị và tri giác.
  • Con người trải nghiệm công trình như thế nào? → hiện tượng học.
  • Hồ Gươm là một trục hay một trường? → cấu trúc đa tâm.
  • Biểu tượng được hình thành ra sao? → ký ức tập thể và lý thuyết tiếp nhận.
  • Việc kết nối các biểu tượng có phải là một phát hiện lịch sử hay không? → thông diễn học.
  • Phá bỏ một dãy phố làm mất đi những giá trị nào? → xã hội học đô thị.
  • Không gian được sống khác với không gian được trình diễn như thế nào? → Lefebvre.
  • Cách nhìn biểu tượng được tổ chức ra sao? → lý thuyết cảnh quan.
  • Cần bảo tồn điều gì? → cảnh quan lịch sử và các mối quan hệ tạo nên giá trị.

Nhưng nếu chỉ dừng ở danh sách này, bài học về liên ngành vẫn chưa đầy đủ.

Điều quan trọng hơn là tất cả những phép phân tích ấy cuối cùng phải quay trở lại cùng một đối tượng và cùng một câu hỏi: phương án đang làm thay đổi trật tự giá trị của nơi chốn như thế nào?

Đó là điểm nối giữa phân tích và thiết kế.

Lý thuyết liên ngành không bảo đảm người thiết kế sẽ đưa ra một lựa chọn duy nhất và tất yếu đúng. Nó làm một việc khiêm tốn nhưng quan trọng hơn: giúp chúng ta biết rõ hơn mình đang lựa chọn giữa những gì, đang dựa vào bằng chứng nào, đang chấp nhận mất điều gì và vì sao cho rằng sự đánh đổi ấy là chính đáng.

Với sinh viên thiết kế đô thị, có lẽ đây là cách thực tế nhất để hiểu việc học lý thuyết. Không phải học Lynch, Jacobs, Lefebvre, Gadamer hay hiện tượng học để có thêm những cái tên đưa vào thuyết minh. Cũng không phải gặp một bài toán khó thì viện dẫn càng nhiều lý thuyết càng tốt.

Hãy bắt đầu từ đối tượng. Đặt câu hỏi. Nhận ra giới hạn của cách nhìn mình đang có. Tìm đúng công cụ để nhìn thêm một lớp khác. Kiểm tra nó bằng thực tế. Đặt các kết quả cạnh nhau. Nhận diện những xung đột. Công khai tiêu chuẩn lựa chọn. Và cuối cùng quay trở lại bản vẽ.

Lý thuyết chỉ thực sự đi vào thực hành khi sau khi nhìn bằng nó, ta không còn có thể vẽ hoàn toàn giống như trước nữa.

 

HAI ƯU TIÊN CẦN ĐẶT LẠI CHO KHU VỰC PHÍA ĐÔNG HỒ GƯƠM


  • Phía Đông Hồ Gươm là khu vực có cơ hội can thiệp và tái cấu trúc lớn nhất của đồ án. Tại đây tập trung ga ngầm C9, khu UBND Thành phố, vườn hoa và tượng Lý Thái Tổ, Bưu điện, Tháp Hòa Phong và dấu tích chùa Báo Ân, cùng khả năng kết nối tiếp về phía Tràng Tiền – Nhà hát Lớn. Phương án hiện nay đã nhận diện nhiều cơ hội và đưa ra khá nhiều đề xuất, nhưng các đề xuất vẫn có xu hướng tồn tại như một chuỗi ý tưởng riêng lẻ. Vấn đề quan trọng không phải bổ sung thêm ý tưởng mà là xác định một trật tự đủ mạnh để tổ chức chúng.
  • Ưu tiên thứ nhất phải là ga C9 và cấu trúc dòng người mới do metro tạo ra. Ga không nên được xem như một hạng mục giao thông ngầm được đặt vào tổng mặt bằng đã thiết kế, mà là một trong những động lực có khả năng làm thay đổi căn bản cách tiếp cận và sử dụng Hồ Gươm. Công suất ga, vị trí các cửa lên xuống, hướng phân phối hành khách và quan hệ với hồ, Phố cổ, khu hành chính, Tràng Tiền và Nhà hát Lớn phải trở thành dữ liệu đầu vào của quy hoạch.
  • Không chỉ giải quyết dòng người mà cần biến hành trình từ ga tới thành phố thành một trải nghiệm đô thị có chất lượng. Một lượng người lớn từ nhiều khu vực của Hà Nội sẽ được đưa trực tiếp tới trung tâm lịch sử. Họ xuất hiện trên mặt đất ở đâu, nhìn thấy gì đầu tiên, đi tiếp theo hướng nào và gặp những không gian nào trên đường đi đều có ý nghĩa. Thay vì để C9 trở thành một điểm phát tán hành khách, có thể tổ chức từ ga một mạng đi bộ phân phối dòng người về nhiều hướng, vừa giảm áp lực cục bộ vừa kéo dài trải nghiệm và lan tỏa giá trị tiếp cận của metro sang các không gian xung quanh.
  • Từ C9 cần tính lại toàn bộ quan hệ giữa giao thông và không gian công cộng phía Đông hồ. Nếu metro cho phép giảm đáng kể nhu cầu tiếp cận bằng phương tiện cá nhân, đây chính là cơ hội để trả thêm mặt đất cho người đi bộ và tổ chức lại những tuyến hiện đang chịu áp lực giao thông. Khi đó quảng trường, vườn hoa và các tuyến phố không thể được thiết kế trước rồi mới tìm cách đưa dòng người từ ga vào. Trình tự hợp lý phải đi từ khả năng tiếp cận mới, dự báo dòng người và mạng đi bộ đến tổ chức hoạt động, sau đó mới xác định hình thái của các không gian công cộng.
  • Ưu tiên thứ hai là củng cố thứ bậc của không gian tượng Lý Thái Tổ. Vườn hoa Lý Thái Tổ ngày nay nằm trong khu vực từng tham gia vào cấu trúc trung tâm hành chính phía Đông Hồ Gươm hình thành từ thời Pháp thuộc, với Tòa Đốc lý, vườn hoa Paul Bert và các công trình hành chính – công cộng xung quanh. Hình thái, hướng trục và quan hệ chính – phụ chính xác giữa các công trình qua từng thời kỳ vẫn cần tiếp tục khảo cứu, nhưng điều quan trọng đối với quy hoạch là nhận ra đây vốn là một không gian có thứ bậc trong cấu trúc trung tâm thành phố, không phải một khoảng xanh độc lập nằm giữa những công trình riêng rẽ.
  • Tượng Lý Thái Tổ đã bổ sung cho cấu trúc ấy một lớp ý nghĩa mới và đủ mạnh để trở thành điểm tựa của quy hoạch hiện nay. Tượng gắn trực tiếp với lịch sử lập đô Thăng Long và đã được xác lập trong nhận thức về trung tâm Hà Nội. Vì vậy, trước khi tạo thêm những đại trục hay biểu tượng mới, cần xem xét khả năng nâng cao vị thế của chính không gian tượng Lý Thái Tổ thông qua tổ chức khoảng trống, hướng nhìn, cây xanh, các tuyến tiếp cận và quan hệ với Hồ Gươm – khu hành chính – Tràng Tiền.
  • Đọc lại cấu trúc lịch sử không đồng nghĩa với phục dựng một bố cục thời thuộc địa. Quy hoạch không cần phụ thuộc vào việc cuối cùng có chứng minh được một trục kiến trúc cụ thể của Tòa Đốc lý hay một quan hệ đối xứng chính xác quanh vườn hoa hay không. Những khảo cứu ấy cần tiếp tục và có thể cung cấp thêm căn cứ thiết kế. Nhưng luận điểm quy hoạch căn bản vẫn đứng vững: khu vực này đã tích lũy nhiều lớp trật tự đô thị qua thời gian và hiện có một biểu tượng mạnh được xã hội tiếp nhận. Cần đọc và củng cố những quan hệ đang có trước khi áp đặt thêm một cấu trúc biểu tượng mới.
  • Hai ưu tiên này có thể gặp nhau chính tại khu vực vườn hoa Lý Thái Tổ. Một phía là dòng người mới từ C9, đại diện cho thay đổi lớn trong cách Hà Nội tương lai tiếp cận Hồ Gươm; phía kia là tượng Lý Thái Tổ và khu hành chính, mang những lớp lịch sử và biểu tượng đã tích lũy. Bài toán thiết kế là tổ chức để dòng người mới đi qua và tiếp cận khu vực thuận lợi nhưng không biến vườn hoa thành hành lang trung chuyển, đồng thời làm cho người đi bộ có thể nhận biết rõ hơn thứ bậc và ý nghĩa của nơi mình đang đi qua.
  • Từ đó có thể hình thành hai cấu trúc nền chồng lên nhau để tổ chức toàn bộ phía Đông hồ. Cấu trúc thứ nhất là cấu trúc chuyển động, bắt đầu từ C9 và phân phối qua mạng đi bộ tới Hồ Gươm, Phố cổ, khu hành chính, Tràng Tiền và Nhà hát Lớn. Cấu trúc thứ hai là cấu trúc giá trị, lấy không gian Hồ Gươm – tượng Lý Thái Tổ – khu hành chính làm một trong những quan hệ chủ đạo, trong đó Bưu điện, Tháp Hòa Phong, dấu tích chùa Báo Ân và các lớp lịch sử khác được đặt vào những vị trí và thứ bậc phù hợp.
  • Khi hai cấu trúc nền này được xác lập, các ý tưởng hiện đang rời rạc mới có cơ sở để tìm vị trí của mình. Quảng trường mới cần phục vụ loại đời sống nào, dấu tích chùa Báo Ân nên được gợi nhắc ở mức độ nào, các hoạt động văn hóa và thương mại nên phân bố ra sao, khoảng trống nào cần giữ, công trình nào thực sự cần bổ sung đều nên được trả lời sau khi đã xác định cấu trúc chuyển động và cấu trúc giá trị của toàn khu vực.
  • Theo cách nhìn này, vấn đề phía Đông Hồ Gươm không phải thiếu ý tưởng mà đang thiếu thứ bậc giữa các ý tưởng. Đồ án hiện dành nhiều sự chú ý cho những công trình, quảng trường và biểu tượng có thể bổ sung, trong khi hai yếu tố có khả năng tổ chức toàn khu vực lại đã hiện hữu: một lực mới rất mạnh là dòng người từ C9 và một điểm tựa lịch sử – biểu tượng đã được xác lập là không gian tượng Lý Thái Tổ. Đặt hai yếu tố ấy lên trước có thể làm thay đổi cách tiếp cận toàn bộ phương án.
  • Từ đó, yêu cầu quan trọng nhất đối với khu vực phía Đông không phải tìm thêm một hình ảnh mới cho Hồ Gươm mà là hình thành một trật tự đô thị mới từ những lực và giá trị đã có. Hình thức quảng trường, kiến trúc và cảnh quan nên là kết quả của trật tự ấy. Đây cũng là cách để một khu vực có khả năng thay đổi rất lớn vẫn tiếp nhận được hạ tầng của thành phố tương lai mà không làm mất thứ bậc của những lớp lịch sử đã tích lũy.

 

KHI MỘT TRỤC BIỂU TƯỢNG ĐƯỢC ĐẶT VÀO HỒ GƯƠM


Trục không bắt đầu từ một đường thẳng

Trong phương án quy hoạch khu vực Hồ Gươm đang được lấy ý kiến, một trong những can thiệp đáng chú ý là việc mở rộng không gian quảng trường phía Bắc, tổ chức một công trình mới có tính biểu tượng trên khu vực phố Đinh Tiên Hoàng hiện nay và thiết lập một trục không gian hướng qua hồ. Trong cách diễn giải của phương án, những thành tố biểu tượng vốn đã rất mạnh của Hồ Gươm được đưa vào một quan hệ hình học mới, từ đó hình thành một bố cục có chủ ý rõ ràng hơn.

Có thể tranh luận rất lâu về hình thức kiến trúc của công trình mới, về tên gọi “Khải Hoàn Môn”, về kích thước hay ngôn ngữ biểu tượng của nó. Nhưng những tranh luận ấy dễ làm chúng ta bỏ qua một câu hỏi quy hoạch căn bản hơn: một trục đô thị thực sự được hình thành như thế nào, và việc nối những biểu tượng vốn có bằng một trật tự hình học mới sẽ làm thay đổi cấu trúc giá trị của nơi chốn ra sao?

Bởi ba điểm nằm trên một đường thẳng chưa làm thành một trục đô thị. Một trục chỉ thực sự tồn tại khi hình học của nó được chuyển hóa thành kinh nghiệm không gian. Nó phải được hỗ trợ bởi hướng nhìn, chuyển động, tỷ lệ, địa hình, mặt đứng, khoảng trống, điểm kết thúc và một chuỗi trải nghiệm mà con người có thể nhận biết khi đi trong thành phố. Những đại lộ nghi lễ của đô thị Baroque, trục Versailles hay hệ thống trục của Washington đều không phải những đường kẻ được nối giữa các công trình quan trọng. Chúng là những cấu trúc không gian hoàn chỉnh, trong đó hình thái đô thị, chuyển động, thị giác và quyền lực biểu tượng cùng vận hành.

Bởi vậy, trước một trục mới, ít nhất phải đặt bốn câu hỏi. Nó có tồn tại về hình học hay không? Người ở tầm mắt có thực sự nhìn thấy và cảm nhận được nó hay không? Nó có tương ứng với chuyển động thực của con người trong thành phố hay không? Và cuối cùng, quan trọng hơn cả trong một không gian di sản: tại sao những đối tượng ở hai đầu trục cần phải được nối với nhau?

Ba câu hỏi đầu thuộc về lý tính của thiết kế đô thị. Câu hỏi cuối cùng thuộc về lý tính của văn hóa.

Hồ Gươm có thể vốn không phải là một cấu trúc trục

Nếu nhìn Hồ Gươm như một tổng thể lịch sử thay vì một tổng mặt bằng kiến trúc, có thể nhận thấy một đặc điểm khá thú vị: nơi đây chứa rất nhiều biểu tượng mạnh nhưng chúng không đứng vào hàng.

Tháp Rùa nằm giữa mặt nước. Đền Ngọc Sơn nép trên đảo Ngọc và nối với bờ bằng cầu Thê Húc. Tháp Bút, Đài Nghiên tạo thành một chuỗi dẫn nhập khác. Đền Bà Kiệu nằm bên kia đường. Xa hơn có tượng đài Lý Thái Tổ, khu phố cổ, Tràng Tiền, khu phố thời thuộc địa và những thiết chế văn hóa của trung tâm Hà Nội. Những thành tố ấy thuộc về những thời kỳ khác nhau, được sinh ra bởi những nhu cầu khác nhau và mang những hệ ý nghĩa không hoàn toàn thống nhất.

Điều liên kết chúng không nhất thiết là một trục. Có lẽ chính mặt nước mới là thành tố tổ chức căn bản. Chung quanh khoảng rỗng ấy là vòng đi bộ, mạng đường phố đổ về hồ, những tán cây, các khoảng mở và đóng của trường nhìn, những nơi người ta dừng lại, gặp nhau, tập thể dục, nghỉ ngơi, thực hành tín ngưỡng hay đơn giản đi ngang qua trên đường đến nơi khác. Những biểu tượng cùng hiện diện trong một trường không gian nhưng giữ khoảng cách với nhau. Nếu nhìn như vậy, Hồ Gươm gần với một trường đô thị đa tâm hơn là một bố cục hướng trục.

Sự khác biệt ấy không nhỏ. Trong một cấu trúc trục, các thành phần được đặt vào quan hệ thứ bậc: đầu trục, cuối trục, điểm nhấn, đối cảnh, phông nền. Trong một trường đa tâm, nhiều thành tố có thể cùng mạnh mà không cần quy phục một trung tâm hình học duy nhất. Quan hệ giữa chúng được tạo ra bởi chuyển động, khoảng cách, ký ức và sự thay đổi liên tục của điểm nhìn.

Tháp Rùa và Đền Ngọc Sơn vốn đã liên hệ với nhau

Tháp Rùa và Đền Ngọc Sơn là một ví dụ rất rõ. Hai công trình cùng nằm trên mặt nước, cùng tham gia vào hình ảnh biểu tượng của Hồ Gươm, nhưng chúng tạo ra hai quan hệ gần như đối nghịch với con người.

Tháp Rùa chủ yếu là một đối tượng để nhìn. Người ta không thường xuyên đi tới đó. Nó hiện ra ở xa, lúc trọn vẹn, lúc bị tán cây che khuất, khi nằm giữa khoảng nước rộng, khi lọt vào một khe nhìn từ phố. Chính khoảng cách làm nên một phần sức mạnh của nó. Trong đời sống đô thị, Tháp Rùa gần với một mốc thị giác hơn là một điểm hoạt động.

Đền Ngọc Sơn thì khác. Muốn kinh nghiệm nó, con người phải đi vào. Từ phố bước qua cổng, từ bờ đi lên cầu Thê Húc, vượt mặt nước, tới đảo rồi vào đền. Một khoảng cách địa lý rất nhỏ được chuyển thành một chuỗi thay đổi trạng thái: phố – bờ – cầu – nước – đảo – nơi thờ tự. Đền Ngọc Sơn vì thế không chỉ được nhìn mà còn được thực hành bằng thân thể, bằng hành vi và trong những trường hợp nhất định bằng nghi lễ.

Một bên cho ta nhìn. Một bên cho ta đi vào.

Chính mặt hồ cho phép hai phương thức ấy cùng tồn tại. Chúng có quan hệ với nhau mà không cần một đường thẳng nối chúng thành một mệnh đề.

Nếu đưa chúng vào một trục hình học chính tắc, vấn đề không đơn giản là làm cho quan hệ giữa hai biểu tượng trở nên “rõ hơn”. Ta đang thay đổi bản chất của quan hệ ấy: từ hai thành tố cùng tồn tại trong một trường cảnh quan sang những thành phần của một bố cục được sắp đặt.

Khi quy hoạch sáng tác một câu chuyện mới

Liên kết các biểu tượng không phải tự thân là một sai lầm. Lịch sử đô thị có vô số trường hợp những trục mới đã tạo ra giá trị lớn. Một chuỗi không gian có thể giúp con người nhận biết thành phố, dẫn dắt chuyển động, thiết lập quan hệ giữa các thiết chế và tạo nên những không gian nghi lễ hoặc tưởng niệm có sức mạnh đặc biệt.

Nhưng cần phân biệt hai thao tác.

Nếu giữa hai địa điểm vốn tồn tại một quan hệ lịch sử, nghi lễ hay cấu trúc không gian đã bị che khuất, thiết kế có thể làm quan hệ ấy hiển lộ trở lại. Quy hoạch khi đó đóng vai trò nhận diện và trình bày một giá trị đã tích lũy trong lịch sử.

Nếu quan hệ ấy trước đây không tồn tại, việc nối chúng bằng một trục là một sáng tác mới. Không có gì cấm thành phố sáng tác những giá trị mới. Thành phố sống không thể chỉ bảo tồn quá khứ. Nhưng khi ấy cần thừa nhận rõ rằng ý nghĩa mới không phải một giá trị lịch sử được “phát hiện”, mà là một diễn giải đương đại do người thiết kế đặt vào nơi chốn.

Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng đối với di sản. Bởi một sáng tác mới rất dễ vay mượn uy tín của những biểu tượng cũ để tạo cho mình vẻ tất yếu. Tháp Rùa đã có ý nghĩa. Đền Ngọc Sơn đã có ý nghĩa. Đặt một vật thể mới trên đường nối giữa chúng không đương nhiên khiến vật thể ấy kế thừa ý nghĩa của cả hai.

Ý nghĩa đô thị không truyền dẫn bằng hình học: Biểu tượng không thể được quyết định trên bản vẽ - Một công trình có thể được thiết kế với ý định trở thành biểu tượng. Nhưng ý định biểu tượng và biểu tượng thực sự là hai chuyện khác nhau.

Tháp Rùa không trở thành biểu tượng của Hà Nội chỉ vì hình thức kiến trúc của nó. Nó trở thành biểu tượng sau vô số lần được nhìn thấy, được vẽ, chụp, kể lại, xuất hiện trong sách báo, ký ức cá nhân và những câu chuyện về thành phố. Đền Ngọc Sơn cũng không chỉ có giá trị vì kiến trúc. Hàng thế hệ đã bước qua cầu Thê Húc, vào đền, thực hành nghi lễ, đưa khách phương xa tới thăm, kể lại những câu chuyện liên quan đến nơi này. Ý nghĩa được bồi tích qua hành vi, sự lặp lại, ký ức và thời gian.

Đó là một quá trình sản xuất ý nghĩa xã hội.

Người thiết kế có thể tạo ra điều kiện để quá trình ấy xảy ra. Có thể đánh dấu một nơi, mở ra một khả năng sử dụng, tạo một cảnh quan đủ sức hấp dẫn để con người quay lại. Nhưng không thể dùng một bản vẽ quy hoạch để quyết định trước rằng xã hội sẽ trao cho một vật thể mới ý nghĩa gì và ý nghĩa ấy sẽ tồn tại bao lâu.

Đây có lẽ là điểm cần thận trọng nhất khi đưa thêm một biểu tượng lớn vào Hồ Gươm. Một biểu tượng mới không bước vào một khoảng trắng. Nó bước vào một trường ý nghĩa đã rất dày.

Từ nhiều khung nhìn đến một khung nhìn chính thức

Một công trình lớn ở phía Bắc được thiết kế như một khung nhìn hướng qua hồ còn đặt ra một vấn đề khác: nó có thể thay đổi cách Tháp Rùa hiện diện trong cảnh quan.

Hiện nay Tháp Rùa không có một mặt tiền đô thị duy nhất. Người ta bắt gặp nó từ nhiều vị trí. Có lúc nhìn qua những tán cây, có lúc giữa một khoảng mở trên đường dạo, có lúc từ cầu Thê Húc, có lúc từ phía phố. Cùng một vật thể nhưng thay đổi liên tục theo khoảng cách, mùa cây, ánh sáng, mặt nước và vị trí của người quan sát. Đây là một phẩm chất rất đặc biệt: biểu tượng ổn định nhưng kinh nghiệm về biểu tượng không ổn định.

Khi một kiến trúc lớn được tạo ra để đóng khung một hướng nhìn chính, quan hệ bắt đầu đảo ngược. Trước đây, Tháp Rùa nằm trong cảnh quan và người đi trong thành phố tự tìm thấy những khung hình của mình. Sau can thiệp, cảnh quan có nguy cơ được tổ chức để trình diễn Tháp Rùa theo một khung hình đã được định trước.

Từ nhiều cách nhìn chuyển sang một cách nhìn được ưu tiên. Từ một biểu tượng có thể được tình cờ bắt gặp chuyển sang một biểu tượng được dàn cảnh. Giá trị mới có thể rất mạnh về thị giác. Nhưng cái mất đi chính là một phần tự do trong kinh nghiệm đô thị.

Phá một dãy phố không chỉ là phá những ngôi nhà

Câu chuyện trở nên nghiêm trọng hơn khi việc tạo quảng trường và trục mới đòi hỏi phá bỏ mô đô thị hiện hữu.

Trong tư duy bố cục kiến trúc, những dãy nhà có thể xuất hiện như vật cản. Bỏ chúng đi, khoảng trống trở nên rõ ràng, trục nhìn được giải phóng, công trình biểu tượng có đủ khoảng lùi để hiện diện. Trên tổng mặt bằng, thao tác ấy thường rất thuyết phục.

Nhưng thành phố không được cấu tạo bằng những khối đặc và khoảng rỗng đơn thuần. Một dãy phố là nhịp mặt tiền, cửa hàng, lối vào, ngõ nhỏ, ranh giới công – tư, địa chỉ, cư dân, hoạt động tầng một, những đường đi quen thuộc và các quan hệ kinh tế đã tích lũy qua thời gian. Giá trị của nó không nhất thiết nằm trong từng căn nhà riêng lẻ. Giá trị nằm trong mô đô thị mà toàn bộ chúng tạo ra.

Phá mô ấy để tạo quảng trường nghĩa là thực hiện một cuộc trao đổi: lấy đi một cấu trúc đời sống phức tạp để đổi lấy một khoảng trống có khả năng biểu đạt mạnh hơn.

Không thể đánh giá cuộc trao đổi ấy chỉ bằng câu hỏi những căn nhà bị phá có phải di tích hay không. Câu hỏi đúng hơn phải là: giá trị đô thị do khoảng trống mới tạo ra có lớn hơn tổng giá trị của mô đô thị bị lấy đi hay không?

Từ nơi chốn được sống sang không gian được trình diễn

Quảng trường lớn, trục mạnh và đại kiến trúc biểu tượng có một ưu thế không thể phủ nhận: chúng tạo ra khả năng trình diễn. Những sự kiện lớn dễ tổ chức hơn. Hình ảnh thành phố trở nên rõ ràng hơn. Không gian có thể gây ấn tượng tức thời và dễ được truyền thông bằng những phối cảnh đẹp.

Nhưng Hồ Gươm hiện nay có một sức mạnh khác: Người già tập thể dục vào sáng sớm. Người đi làm cắt ngang qua hồ. Khách du lịch đứng chụp ảnh. Trẻ em chạy chơi. Một đôi người ngồi trên ghế. Dòng người từ phố cổ tràn xuống rồi lại tản đi. Những tán cây che khuất một phần mặt nước. Tháp Rùa lúc hiện lúc mất. Đền Ngọc Sơn đông người vào những thời điểm nhất định rồi lại trở về trạng thái yên hơn. Những hoạt động ấy không cùng phục vụ một kịch bản - Chúng tạo nên đời sống đô thị.

Một cấu trúc được thiết kế quá hoàn chỉnh có thể tăng cường khả năng trình diễn nhưng đồng thời làm giảm những bất định cho phép đời sống tự chiếm dụng không gian. Đây là nghịch lý quen thuộc của nhiều dự án cải tạo trung tâm lịch sử: càng cố làm cho nơi chốn trở nên “đặc biệt”, đôi khi càng làm mất những điều bình thường đã khiến nó trở nên đặc biệt.

Từ một trường đa nghĩa sang một mệnh đề

Có lẽ vì thế, vấn đề căn bản của phương án không nằm ở chuyện một Khải Hoàn Môn đẹp hay xấu. Cũng chưa cần bắt đầu bằng tranh luận nó có phù hợp với truyền thống kiến trúc Việt Nam hay không.

Vấn đề sâu hơn nằm ở loại trật tự đô thị mà nó đề nghị.

Hồ Gươm hiện hữu là kết quả của nhiều lớp lịch sử chồng lên nhau. Những thành tố không hoàn toàn đồng đại, không hoàn toàn đồng nghĩa và cũng không hoàn toàn tuân theo một hệ hình học duy nhất. Nhưng chính quá trình tích lũy ấy tạo nên một trường ký ức và biểu tượng rất giàu có. Thành phố cổ, thành phố thuộc địa, tín ngưỡng, huyền thoại, thương mại, đời sống thường nhật và những biểu tượng quốc gia cùng hiện diện quanh một mặt nước tương đối nhỏ.

Sự không thuần nhất ấy không nhất thiết là một khiếm khuyết cần được chỉnh lý. Nó có thể chính là giá trị.

Nếu đặt vào đó một trục lớn, một quảng trường lớn và một biểu tượng mới đủ mạnh để tổ chức lại toàn bộ trường không gian, ta đang chuyển từ một trật tự tích lũy sang một trật tự sáng tác, từ một trường đa tâm sang một bố cục thứ bậc, từ nhiều câu chuyện có thể cùng tồn tại sang một mệnh đề được phát biểu rõ ràng hơn.

Mệnh đề mới có thể đẹp. Có thể hùng vĩ. Có thể tạo ra một hình ảnh Hà Nội rất khác. Nhưng trước khi lựa chọn nó, cần biết chính xác cái gì đang được đánh đổi.

Điều cần bảo tồn có thể không phải từng vật thể

Điều này dẫn tới một cách hiểu rộng hơn về bảo tồn Hồ Gươm. Nếu chỉ lập danh mục các công trình có giá trị rồi bảo vệ từng đối tượng, chúng ta vẫn có thể giữ nguyên Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Tháp Bút và những cây cổ thụ, trong khi cấu trúc khiến chúng có ý nghĩa đã bị thay đổi căn bản.

Bởi giá trị của Hồ Gươm không nằm riêng trong từng vật thể. Nó nằm trong khoảng cách giữa Tháp Rùa và bờ hồ; trong hành trình từ phố qua cầu Thê Húc tới Ngọc Sơn; trong những khoảng nhìn mở ra rồi khép lại bởi tán cây; trong quan hệ giữa mặt nước và dãy phố; trong việc một con phố nhỏ bất ngờ kết thúc bằng ánh sáng của mặt hồ; trong sự đan xen giữa nơi linh thiêng và đời sống thường nhật; trong khả năng một biểu tượng quốc gia vẫn có thể cùng tồn tại với một người đang ngồi uống nước hay tập thể dục cách đó vài chục mét.

Nói cách khác, đối tượng cần bảo tồn không chỉ là vật thể, mà còn là quan hệ. Và quan hệ khó bảo tồn hơn vật thể rất nhiều, bởi nó không có ranh giới để khoanh trên bản đồ.

Câu hỏi trước khi vẽ thêm một biểu tượng

Bởi vậy, trước khi hỏi nên thiết kế một công trình biểu tượng mới như thế nào, có lẽ cần quay trở lại một câu hỏi căn bản hơn: Hồ Gươm hiện đang vận hành bằng loại trật tự nào?

Nếu nghiên cứu kỹ, câu trả lời có thể không phải là một trục. Nó có thể là mặt nước, vòng đi bộ, mạng phố đổ về hồ, chuỗi điểm nhìn, tán cây, những điểm tụ hoạt động, các biểu tượng ở những khoảng cách khác nhau và vô số thực hành đời thường đã tích lũy qua nhiều thế hệ.

Một trường hơn là một trục.

Nếu đúng như vậy, đặt một trục hoành tráng vào Hồ Gươm không đơn thuần là bổ sung thêm một giá trị. Đó là thay thế một loại trật tự bằng một loại trật tự khác.

Quy hoạch vẫn có quyền làm điều đó. Thành phố không thể bị đóng băng để trở thành bảo tàng của chính mình. Nhưng một can thiệp càng mạnh thì nghĩa vụ giải trình về giá trị càng lớn. Cái mới phải chứng minh được rằng giá trị nó tạo ra đủ sức bù đắp cho những quan hệ đô thị, ký ức, mô hình đời sống và khả thể diễn giải mà nó làm mất đi.

Vì thế câu hỏi quan trọng nhất đối với một trục biểu tượng mới ở Hồ Gươm cuối cùng không phải là: nó có hoành tráng hay không? Cũng không phải “nó có tạo thêm một biểu tượng cho Hà Nội hay không?” mà là “có một lý do lịch sử, đô thị và văn hóa nào đủ lớn để chúng ta thay đổi chính ngữ pháp không gian đã khiến Hồ Gươm trở thành Hồ Gươm?”.