Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

GHI CHÉP VỀ VIỆC LỰA CHỌN MỘT KHÔNG GIAN ĐỂ NÓI


1. Đọc và viết như một thực hành suy tư

Đọc, ghi chép, suy nghĩ và viết không nhất thiết là những công việc tách biệt. Một cuốn sách được đọc nhiều năm trước có thể gặp một kinh nghiệm nghề nghiệp hôm nay rồi làm nảy sinh một câu hỏi mà cả cuốn sách lẫn kinh nghiệm riêng lẻ đều chưa từng đặt ra. Một ghi chép cũ tưởng đã bỏ lại có thể bất ngờ trở nên hữu ích trong một tình thế khác. Một ý nghĩ sau khi được viết ra lại làm thay đổi cách đọc những thứ đã đọc trước đó.

Theo nghĩa này, tri thức tích lũy không hoàn toàn giống một kho chứa để khi cần mở ra lấy. Nó gần hơn với một trường những mối liên hệ đang ở các trạng thái khác nhau: có cái đã khá ổn định, có cái chỉ mới lờ mờ, có những thứ nằm cạnh nhau rất lâu mà chưa hề gặp nhau. Viết nằm ngay trong quá trình này. Không phải lúc nào cũng viết vì đã nghĩ xong. Có khi phải viết mới biết mình đang nghĩ gì. Một câu được đặt xuống làm câu tiếp theo trở nên khả dĩ. Một chỗ không thể viết tiếp báo hiệu rằng mối quan hệ giữa hai ý chưa thật sự tồn tại. Một đoạn sau khi hoàn thành có thể buộc phải quay lại sửa cả giả định ban đầu.

Suy tư vì thế gần với một quá trình dò đường hơn là triển khai một hệ thống đã có sẵn. Nhưng nếu viết chỉ để giúp suy nghĩ, một cuốn sổ riêng có lẽ đã đủ. Vấn đề bắt đầu từ chỗ vẫn cần viết để người khác đọc.

2. Vì sao cần một người đọc?

Viết cho mình và viết để một người khác đọc tạo ra hai tình thế nhận thức khác nhau. Khi viết cho riêng mình, rất nhiều khoảng trống có thể được bỏ qua. Một từ khóa có thể gọi lại cả một chuỗi liên tưởng. Một kết luận có thể được ghi xuống mà không cần trình bày con đường dẫn tới nó. Người viết và người đọc chia sẻ toàn bộ hậu cảnh bởi họ là cùng một người. Sự xuất hiện của một người đọc làm mất đi đặc quyền ấy. Một trực giác phải tìm được hình thức để một người không có cùng lịch sử sống vẫn có thể đi vào. Một liên hệ tưởng hiển nhiên phải được giải thích. Một phán đoán phải để lộ phần nào căn cứ của nó. Có những điều chỉ đến lúc cố viết cho người khác hiểu mới phát hiện chính người viết cũng chưa hiểu rõ. Người đọc, ngay cả khi im lặng, vì vậy đã tạo ra một sức ép nhận thức.

Nhưng nếu chỉ dừng ở đây, người đọc vẫn chỉ đóng vai trò một công cụ giúp suy nghĩ trở nên rõ ràng hơn. Sự xuất hiện của AI khiến giới hạn của cách giải thích ấy lộ ra.

3. Khi AI trở thành một bạn đọc gần như lý tưởng

Trong một phương thức làm việc đủ lâu và có tích lũy, AI có thể trở thành một bạn đọc đặc biệt hiệu quả. Nó có thể đọc một văn bản dài mà không mất kiên nhẫn, lần theo một ý nghĩ qua nhiều vòng thay đổi, gọi lại những giả định đã hình thành từ các trao đổi trước, phản biện, đối chiếu với những hệ thống tri thức khác và cùng sửa một đoạn văn qua rất nhiều lần. Một trực giác còn mơ hồ có thể được đưa thẳng vào đối thoại mà không cần chuẩn bị cho nó một hình thức hoàn chỉnh. Có thể mở một hướng, đi khá xa rồi bỏ; quay lại một điểm cũ; thay đổi câu hỏi; yêu cầu tìm phản chứng; đưa kết quả sang một AI khác để kiểm tra rồi đem phản biện trở lại cuộc đối thoại ban đầu. Theo cách đó, AI không chỉ hỗ trợ viết. Nó tham gia vào chính quá trình đọc, dò xét và cấu trúc suy nghĩ.

Nếu chức năng của người đọc chỉ là giúp người viết nhìn rõ suy nghĩ của mình, AI đã đảm nhiệm được một phần rất lớn công việc ấy, trong một số tình huống còn thuận lợi hơn một bạn đọc là con người. Vậy tại sao vẫn phải viết cho tha nhân?

4. Tha nhân không chỉ là một nguồn lực nhận thức

Có thể trả lời rằng người khác mang đến những kinh nghiệm và hệ quy chiếu khác. Một câu hỏi bất ngờ có thể làm lộ một giả định ẩn. Một phản biện khiến phải quay lại đọc. Một kinh nghiệm được kể lại có thể mở ra trường hợp mà người viết chưa từng nghĩ tới. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Nếu mục đích cuối cùng vẫn chỉ là làm cho suy nghĩ của người viết tốt hơn, tha nhân vẫn đang được nhìn như một nguồn lực nhận thức. Khi năng lực AI tiếp tục tăng, ngày càng nhiều chức năng trong số đó hoàn toàn có thể được AI đảm nhiệm.

Có một lý do khác căn bản hơn: Người khác không tồn tại để giúp một người nghĩ. Họ có đời sống riêng, những quan tâm riêng, một lịch sử kinh nghiệm riêng. Họ có thể không quan tâm đến điều được viết. Có thể đọc một nửa. Có thể hiểu khác. Có thể phản đối từ một hệ giá trị hoàn toàn khác. Có thể mang một câu đọc được vào một hoàn cảnh mà người viết không bao giờ biết tới. Chính sự độc lập ấy làm thay đổi bản chất của quan hệ.

Tha nhân không chỉ là một nguồn cung cấp phản hồi từ bên ngoài hệ quy chiếu của người viết. Tha nhân là một trung tâm kinh nghiệm khác. Và có những lúc viết đơn giản vì muốn một điều gì đó đi từ một kinh nghiệm sang một kinh nghiệm khác.

5. Từ nhận thức sang thông giao

Sự phổ biến của AI làm một phân biệt cũ trở nên rõ hơn. Có những hoạt động mà mục đích chủ yếu nằm ở nội dung: tìm một dữ kiện, hiểu một lý thuyết, kiểm tra một lập luận, phát triển một ý tưởng. Nếu AI giúp thực hiện những việc ấy tốt hơn, sự tham gia của AI không làm thay đổi mục đích căn bản của hoạt động. Nhưng cũng có những hoạt động mà việc một người đang nói với một người khác là một phần của chính ý nghĩa. Một lời hỏi thăm, một bức thư, một câu chuyện kể cho bạn bè, một ghi chép đưa cho một nhóm người quen đọc đều không chỉ có giá trị vì lượng thông tin chúng chuyển tải. Ở đó cần đặt một câu hỏi khác: Ai đang muốn nói điều này với ai?

Câu hỏi ấy khác với việc truy tìm từng câu chữ do người hay AI tạo ra. AI có thể giúp tìm tài liệu, kiểm tra dữ kiện, phản biện lập luận và cả diễn đạt một ý nghĩ chưa tìm được câu chữ thích hợp. Không có lý do gì phải loại bỏ những khả năng ấy chỉ để chứng minh một văn bản hoàn toàn “thuần người”. Điều đáng quan tâm hơn là: trong phần việc mà mục đích của nó đòi hỏi một chủ thể phải có mặt, chủ thể ấy thực sự có mặt đến đâu?

Đây là chỗ thông giao liên cá nhân khác với việc sản xuất nội dung. Một văn bản có thể hoàn toàn chính xác, sáng rõ và thuyết phục nhưng vẫn thất bại trong một tình thế thông giao nếu người được cho là đang nói hầu như không hiện diện trong lời nói ấy. Không phải vì từng chữ phải do chính người ấy gõ mà bởi mục đích của hoạt động là sự gặp nhau giữa các chủ thể.

6. AI và tha nhân không thay thế nhau

Từ đây có thể thấy AI và tha nhân không nhất thiết cạnh tranh cho cùng một vị trí. AI có thể mở rộng rất mạnh không gian bên trong của suy tư: giúp đọc nhiều hơn, kiểm tra nhanh hơn, gọi lại những mối liên hệ xa hơn, thử nhiều khả năng hơn và làm một suy nghĩ trải qua nhiều vòng phản biện trước khi thành văn bản. Tha nhân mở suy nghĩ ấy sang một chiều khác.

Khi một văn bản được một người khác đọc, nó bước vào một lịch sử sống không được tổ chức quanh mục đích nhận thức của người viết. Người đọc có thể giữ lại một câu, bỏ quên phần còn lại, hiểu nó theo cách không dự kiến, kể lại cho một người khác, hoặc nhiều năm sau mới nhớ đến trong một hoàn cảnh mới. Ở điểm ấy, văn bản đã ra khỏi người viết. Vì vậy, có thể cần AI để suy nghĩ cùng nhưng vẫn cần tha nhân để suy nghĩ ấy bước vào một thế giới chung và đó là hai hoạt động khác nhau.

7. Tại sao cần một không gian phát biểu trung gian?

Nhưng đưa một suy nghĩ đến với tha nhân không đồng nghĩa với việc phải đưa nó ngay ra trước một công chúng rộng lớn. Đây là chỗ kinh nghiệm từ blog đến Facebook trở nên đáng chú ý. Blog trước đây có thể chỉ có một số lượng người đọc nhỏ. Một số quen biết ngoài đời, một số chỉ biết nhau qua những bài viết và bình luận kéo dài. Một bài được đọc trên hậu cảnh của những bài trước. Một câu hôm nay có thể tiếp tục một cuộc trao đổi từ nhiều tháng trước. Đó là một công chúng nhỏ nhưng có lịch sử.

Facebook tạo ra một tình thế khác. Một bài Public có thể gặp một người hoàn toàn không biết người viết là ai và chưa từng đọc bất kỳ điều gì trước đó. Văn bản vì thế phải có khả năng tự mang theo nhiều hơn hậu cảnh của mình. Điều này không khiến Public tốt hơn hay Friends tốt hơn. Chúng thích hợp với những trạng thái phát biểu khác nhau.

Có những văn bản đã đủ khả năng tự đứng độc lập. Một người không biết lịch sử của người viết vẫn có thể nhận ra câu hỏi, theo dõi lập luận và đánh giá nó. Việc đưa những văn bản ấy ra một công chúng rộng là hoàn toàn tự nhiên, nhưng suy tư không chỉ tạo ra những văn bản như vậy.

Còn có những trực giác vừa xuất hiện, những liên hệ chưa biết sẽ dẫn tới đâu, những câu hỏi nảy ra từ công việc, những ghi chép đang thử một cách hiểu, thậm chí những nhận định mà vài tháng sau người viết có thể tự bác bỏ. Nếu mọi phát biểu đều phải mang hình thức của một tuyên bố trước công chúng vô danh, nhiều thứ trong số đó sẽ không được viết ra.

Nhưng nếu chúng chỉ nằm trong sổ tay hoặc chỉ được đưa vào đối thoại với AI, chúng lại chưa bước vào quan hệ với tha nhân. Vì vậy cần một khoảng ở giữa.

8. Một công chúng nhỏ đủ gần

Friends, theo cách hiểu này, không nhất thiết là nơi dành cho chuyện riêng tư. Nó có thể là một không gian có hậu cảnh chung. Những người ở đó phần nào đã biết các câu hỏi đang được theo đuổi, đã đọc một số bài trước, thậm chí đã chứng kiến những lần người viết thay đổi cách nhìn. Một văn bản không nhất thiết phải bắt đầu lại từ đầu. Một ý nghĩ có thể được đặt xuống khi nó vẫn đang vận động mà chưa cần giả vờ mang hình thức của một kết luận. Đó cũng có thể là điều đáng nhớ nhất từ kinh nghiệm blog: một công chúng nhỏ đủ gần.

“Đủ gần” không có nghĩa là đồng ý. Nếu chỉ gồm những người luôn đồng ý, không gian ấy rất dễ trở thành một phòng vọng âm. Khoảng cách vẫn cần thiết. Người khác phải còn đủ khác để một ý nghĩ thực sự đi ra ngoài người viết. Nhưng cũng cần đủ gần để hiểu rằng điều đang đọc có thể chỉ là một đoạn trong một con đường còn tiếp tục; một phát biểu hôm nay không nhất thiết là lời tuyên thệ phải bảo vệ mãi về sau. Quan trọng hơn, qua việc đọc và viết đủ lâu, giữa những người ấy hình thành một lịch sử thông giao. Khi đó người đọc không còn hoàn toàn là một “công chúng” vô danh. Họ trở thành những người mà có lúc một điều gì đó thực sự muốn được nói cùng.

9. Không gian phát biểu là một phần của thực hành suy tư

Nhìn theo cách này, lựa chọn không gian phát biểu không còn là một thao tác truyền thông xảy ra sau khi văn bản đã hoàn thành. Nó nằm trong chính phương thức đọc, viết và suy tư. Một ý nghĩ có thể được giữ trong sổ tay. Có thể đưa vào đối thoại với AI để mở rộng, kiểm tra và cấu trúc. Có thể đưa vào một công chúng nhỏ có lịch sử chung để bước vào thông giao với những người khác khi nó vẫn còn đang sinh thành. Và có thể đi ra một không gian công cộng rộng hơn khi văn bản đã đủ khả năng tự mang hậu cảnh của mình.

Đó không nhất thiết là các nấc của một quy trình bắt buộc. Không phải mọi ghi chép đều phải trở thành bài viết, cũng không phải mọi bài viết cho một nhóm nhỏ cuối cùng đều cần Public. Chúng chỉ là những không gian khác nhau cho những hoạt động khác nhau. AI đang làm thay đổi rất mạnh khả năng đọc, viết và suy nghĩ. Có lẽ chính vì vậy, nó cũng làm lộ rõ hơn một nhu cầu tưởng như rất cũ: Không phải mọi điều được viết đều nhằm sản xuất một nhận thức tốt hơn. Có những điều được viết bởi vì sau tất cả những lần đọc, nghĩ, đối thoại và sửa chữa, vẫn muốn có một người khác ở phía bên kia để nói cùng.

CÂU HỎI VỀ ĐIỀU KIỆN SẢN SINH MỘT ĐỜI SỐNG TRÍ THỨC TỪ DƯỚI LÊN

 

1. Một câu hỏi cũ

Khoảng năm 2012, khi blog vẫn còn là một hình thức phổ biến của đời sống mạng, một cuộc trao đổi kéo dài giữa ba người bắt đầu từ câu chuyện về sự lũng đoạn của báo lá cải.

Câu hỏi ban đầu thuộc về truyền thông. Vì sao báo lá cải có thể chiếm lĩnh đời sống báo chí? Quan hệ giữa truyền thông, công chúng và xã hội được cấu trúc như thế nào? Các lý thuyết về sự phụ thuộc vào truyền thông, thiết lập nghị trình, nhu cầu sử dụng truyền thông hay nghiên cứu văn hóa giải thích hiện tượng ấy đến đâu?

Từ câu hỏi báo chí đang làm gì với công chúng, một hướng khác dần xuất hiện. Trong một cấu trúc truyền thông như vậy, cá nhân và các nhóm nhỏ có thể tự tạo ra những nghị trình khác hay không? Internet khi ấy đang mở ra khả năng tự tổ chức việc đọc, viết và trao đổi mà không hoàn toàn phụ thuộc vào các thiết chế truyền thông hay học thuật có sẵn.

Câu chuyện dần rời khỏi báo lá cải. Điều đáng quan tâm hơn trở thành những điều kiện để các hoạt động đọc, suy nghĩ, viết và trao đổi phân tán giữa những cá nhân có thể hình thành một đời sống trí thức có khả năng tự duy trì.

“Từ dưới lên” ở đây được dùng theo nghĩa giới hạn ấy. Nó không chỉ một lực lượng xã hội đối lập với thiết chế hay giới tinh hoa, mà chỉ cách những quan hệ trí thức có thể hình thành từ thực hành của các cá nhân và nhóm nhỏ, trước khi hoặc không nhất thiết phải trở thành một hoạt động được tổ chức chính thức.

2. Một trường hợp thực hành

Cuộc trao đổi năm 2012 không được thiết kế như một nghiên cứu. Không có đề cương hay câu hỏi xác định từ đầu. Các vấn đề xuất hiện theo diễn biến của chính việc trao đổi.

Một người đưa vào các lý thuyết truyền thông. Người khác kéo câu chuyện sang văn học và lịch sử lý thuyết. Một nhận xét về xã hội Việt Nam dẫn tới François Jullien. Câu hỏi về đối thoại đưa Gadamer và Habermas vào cuộc. Castells xuất hiện khi cần hiểu xã hội mạng. Todorov được đọc khi vấn đề chạm tới quan hệ giữa lý thuyết và đời sống.

Các tài liệu thường được tìm đến vì cuộc trò chuyện vừa xuất hiện một chỗ cần đọc thêm. Có lúc phải bổ sung một văn bản thì một nhánh suy nghĩ mới tiếp tục được. Có nhận định bị sửa vì một khái niệm đã được sử dụng quá nhanh. Có hướng đi khá xa rồi dừng lại. Một bình luận bên lề có thể trở thành đầu mối cho bài tiếp theo.

Mỗi người mang vào cuộc trò chuyện một lịch sử đọc, một cách đặt vấn đề và những giới hạn riêng. Một ý kiến sau khi đi qua người khác có thể quay trở lại dưới hình thức mà người nói ban đầu chưa dự kiến. Kết quả vì thế không thể quy hoàn toàn về tri thức có sẵn của bất kỳ người nào.

3. Ghi lại đường đi

Trong quá trình ấy hình thành một thao tác khá rõ: ghi lại tiến trình dưới dạng bản đồ.

Các đoạn sách, comment, ghi chú, liên tưởng và câu hỏi được cắt, dán, tô màu, viết thêm rồi nối với nhau. Một khái niệm mới có thể được đặt cạnh một ghi chép cũ. Một câu trong cuộc trò chuyện trở thành lý do để quay lại một văn bản đã đọc từ trước.

Cách làm này giữ lại cả những hướng cuối cùng không được sử dụng. Một ý nghĩ bị bỏ có thể đã làm xuất hiện câu hỏi cho hướng khác. Một hiểu nhầm có thể buộc phải đọc kỹ hơn. Một phản biện không thay đổi kết luận vẫn có thể làm thay đổi căn cứ của kết luận.

Đến một thời điểm, lịch sử trao đổi trở thành tài liệu để đọc lại. Có thể dò xem vì sao cuộc trò chuyện chuyển hướng ở một điểm nhất định, loại phản hồi nào làm nó tiếp tục, một khái niệm được gọi vào bằng con đường nào, hay khi nào câu trả lời của người khác làm thay đổi chính câu hỏi ban đầu.

Cuộc trò chuyện về truyền thông dần trở thành một trường hợp để quan sát cách nhận thức được hình thành trong quan hệ giữa những người đang cùng đọc và suy nghĩ.

4. Trước blog đã có forum

Nhìn rộng hơn, cấu trúc này không bắt đầu với blog. Các forum và diễn đàn trực tuyến những năm đầu của Internet đã tạo ra nhiều điều kiện tương tự.

Forum thường được tổ chức quanh chủ đề. Một thread có thể tồn tại lâu. Nội dung cũ được lưu lại. Người đến sau có thể đọc lịch sử tranh luận. Những thành viên thường xuyên dần biết cách suy nghĩ, sở trường và cả những định kiến của nhau.

Blog thay đổi cấu trúc ấy bằng cách đặt người viết vào vị trí rõ hơn. Người đọc không chỉ theo một chủ đề mà có thể theo lịch sử suy nghĩ của một người. Quanh một số blog hình thành những nhóm độc giả và người bình luận tương đối ổn định. Một bài sau có thể dựa vào những gì đã diễn ra trong các bài trước mà không cần trình bày lại toàn bộ hậu cảnh.

Forum và blog vì vậy từng cung cấp một số điều kiện thuận lợi cho các thực hành trí thức nhỏ: thời gian kéo dài, khả năng lưu trữ, sự quay trở lại và một nhóm người có thể tích lũy lịch sử trao đổi chung.

Nhưng cả văn hóa forum lẫn blog đều suy yếu. Điều này khiến không thể giải thích sự suy giảm của những cuộc thảo luận dài trên mạng chỉ bằng sự xuất hiện sau đó của feed ngắn và nhanh.

5. Một cộng đồng có lịch sử vẫn có thể suy tàn

Lịch sử chung giúp một cuộc trao đổi đi xa hơn. Người tham gia không phải bắt đầu lại từ đầu. Họ biết những vấn đề nào đã được bàn, nhận ra khi một người thay đổi cách nhìn và có thể tiếp tục từ một lượng hậu cảnh đã tích lũy.

Nhưng lượng hậu cảnh ấy đồng thời làm tăng chi phí gia nhập. Người mới phải đọc nhiều hơn mới hiểu cuộc trò chuyện hiện tại. Những thành viên lâu năm dần biết nhau khá rõ. Một số câu hỏi đã được bàn nhiều lần. Khả năng bất ngờ có thể giảm trong khi lịch sử chung ngày càng dày.

Một nhóm vẫn có thể tồn tại về mặt xã hội trong khi năng lực sản sinh những câu hỏi mới giảm đi. Sự bền vững của cộng đồng vì vậy không đồng nhất với sự bền vững của đời sống trí thức trong cộng đồng ấy.

Chiều ngược lại cũng có giới hạn. Một không gian liên tục tiếp nhận người mới và vấn đề mới nhưng không tích lũy được lịch sử sẽ phải bắt đầu lại rất nhiều lần. Các cuộc trao đổi có thể sôi động mà khó dựa lên nhau để đi xa hơn.

Vấn đề vì thế không nằm ở việc lựa chọn giữa một cộng đồng ổn định và một không gian luôn mở. Nó nằm ở khả năng tích lũy một lịch sử mà lịch sử ấy vẫn tiếp tục nhận được những câu hỏi, kinh nghiệm và con người chưa có trong nó.

6. Khi feed trở thành cấu trúc phổ biến

Mạng xã hội dạng feed không đơn giản thay văn bản dài bằng văn bản ngắn. Nó đưa nhiều loại quan hệ và hoạt động vốn nằm ở những không gian khác nhau vào cùng một dòng.

Một bài về lý thuyết, một bức ảnh gia đình, tin thời sự, câu chuyện nghề nghiệp và nội dung giải trí có thể xuất hiện cạnh nhau. Người dùng không cần duy trì nhiều không gian riêng cho những mối quan tâm khác nhau.

Trong cấu trúc ấy, một bài viết có thể gặp nhiều người chưa từng đọc những bài trước. Nội dung cũ vẫn được lưu về kỹ thuật nhưng nhanh chóng rời khỏi trường chú ý. Hậu cảnh chung giữa người viết và người đọc trở nên không ổn định.

Một nhận định đặt giữa một chuỗi trao đổi kéo dài có thể được hiểu như một giả thuyết đang thử. Khi gặp một công chúng không biết lịch sử ấy, nó dễ được đọc như một lập trường đã hoàn chỉnh.

Sự thay đổi quan trọng do đó nằm trong quan hệ giữa người viết, người đọc, thời gian và ký ức của cuộc trao đổi. Khả năng phân phối tăng lên rất mạnh không đồng nghĩa với khả năng tích lũy một quá trình suy nghĩ chung cũng tăng theo.

7. Không có một nền tảng lý tưởng

Sự suy tàn của forum và blog cung cấp một phản chứng hữu ích. Thread, archive, thời gian chậm và cộng đồng nhỏ đều có ích, nhưng không điều nào tự bảo đảm một đời sống trí thức.

Forum có thể lão hóa dù toàn bộ archive còn nguyên. Blog phụ thuộc vào việc một nhóm người tiếp tục quay lại. Mạng xã hội có thể đưa một ý tưởng tới rất nhiều người nhưng khó duy trì hậu cảnh chung của một cuộc trao đổi kéo dài.

Đối tượng cần tìm vì thế không phải một loại nền tảng.

Điều đáng quan tâm là những chức năng mà các nền tảng khác nhau từng tạo điều kiện: gặp được người và câu hỏi mới, hình thành một nhóm có lịch sử, giữ lại các cuộc trao đổi, quay lại những vấn đề cũ, cho phép người mới đi vào lịch sử ấy và đưa những gì đã hình thành trở ra một công chúng rộng hơn.

Không nhất thiết tất cả các chức năng này phải nằm cùng một chỗ.

8. Những chức năng cũ đang được tái tổ hợp

Một số thay đổi gần đây gợi ra điều đó khá rõ.

Threads vẫn mang cấu trúc của mạng xã hội dựa trên người theo dõi và feed, nhưng đồng thời đưa chủ đề, community và những cách tổ chức dòng nội dung theo mối quan tâm trở lại. Discord khởi đầu gần với chat cộng đồng nhưng rồi cũng cần channel, thread và forum để những cuộc trao đổi dài không chìm trong dòng trò chuyện tức thời.

Điều đáng chú ý không phải nền tảng nào tốt hơn. Những chức năng từng tập trung khá nhiều trong forum đang xuất hiện trở lại dưới những tổ hợp khác.

Một không gian có thể thuận lợi cho việc gặp người và vấn đề mới. Một không gian khác phù hợp hơn với nhóm đã có hậu cảnh chung. Tài liệu có thể được lưu ở nơi khác. Những suy nghĩ đã tương đối định hình lại được đưa ra công chúng rộng hơn.

Nếu vậy, tương lai của những thực hành trí thức nhỏ có thể không phụ thuộc vào việc tìm được một nơi thay thế forum hay blog. Vấn đề chuyển sang khả năng nối các không gian khác nhau thành một quá trình còn giữ được lịch sử của nó.

9. AI làm thay đổi phần nhận thức của cấu trúc

AI bổ sung một khả năng mà forum và blog trước đây không có.

Trong một quá trình làm việc đủ lâu, AI có thể theo một câu hỏi qua nhiều vòng trao đổi, gọi lại giả định cũ, tìm thêm tài liệu, đưa phản biện và thử các cấu trúc lập luận khác nhau. Một trực giác chưa rõ có thể được đưa vào đối thoại mà chưa cần chuyển thành văn bản hoàn chỉnh.

AI cũng có thể làm giảm một vấn đề lâu đời của những cộng đồng có lịch sử dày. Người mới không nhất thiết phải đọc toàn bộ kho trao đổi mới biết một vấn đề từng được bàn như thế nào. Khả năng tìm kiếm và tái dựng lịch sử có thể giúp xác định những thảo luận liên quan, những bất đồng chính và các hướng từng được thử.

Nhưng một lịch sử được tóm tắt không còn hoàn toàn là lịch sử đã diễn ra. Trong cuộc trao đổi năm 2012, kết quả cuối cùng không chứa hết giá trị của những lần hiểu nhầm, sửa nhau, bỏ một hướng cũ hay thay đổi câu hỏi. Chính đường đi cho biết một nhận thức đã được hình thành như thế nào.

AI vì vậy có thể hữu ích hơn khi giúp con người đi lại trong lịch sử trao đổi, thay vì thay lịch sử ấy bằng một kết luận.

10. Sau khi AI trở thành một người đọc rất tốt

AI còn làm rõ một câu hỏi khác.

Trước đây, một phần lý do tìm đến người khác nằm ở những gì họ có thể bổ sung cho nhận thức của mình: thông tin chưa biết, một hệ quy chiếu khác, phản biện, câu hỏi bất ngờ. AI hiện có thể đảm nhiệm ngày càng nhiều những chức năng ấy.

Nếu chỉ nhìn người khác như một nguồn lực nhận thức, lý do cần đến họ vì thế trở nên yếu hơn.

Nhưng người đọc không được tổ chức quanh câu hỏi của người viết. Họ có lịch sử, quan tâm và hệ giá trị riêng. Họ có thể không quan tâm, chỉ giữ lại một phần, hiểu khác hoặc đưa một ý nghĩ vào một hoàn cảnh mà người viết không biết tới.

Sự độc lập ấy khiến việc viết cho một người khác thuộc về một quan hệ khác với việc dùng một đối tác nhận thức để tiếp tục suy nghĩ. Bên cạnh câu hỏi một nhận định có đúng không, căn cứ đã đủ chưa hay còn cách hiểu nào khác, xuất hiện thêm một câu hỏi:

Ai đang muốn nói điều này với ai?

AI có thể tham gia rất sâu vào việc đọc, kiểm tra, phản biện và diễn đạt mà không làm câu hỏi ấy mất đi. Vấn đề không nằm ở việc từng câu chữ được tạo ra bằng công cụ nào, mà ở chỗ chủ thể có còn hiện diện trong điều mình muốn nói với người khác hay không.

11. Một tầng ở giữa

Nhìn theo cách này, “đời sống trí thức từ dưới lên” có thể được xem như một tầng trung gian giữa hoạt động nhận thức của cá nhân và đời sống công cộng rộng hơn.

Ở đó, những suy nghĩ riêng đi vào quan hệ với người khác, được thử, sửa và tích lũy qua thời gian. Một số ý nghĩ dừng lại. Một số thay đổi qua nhiều vòng trao đổi. Một số khác dần đủ độc lập với hậu cảnh đã sinh ra chúng để bước ra trước những người không biết lịch sử ấy.

Tầng trung gian này không thể thay bằng việc mỗi cá nhân suy nghĩ tốt hơn. Một người có thể đọc nhiều, có hệ thống ghi chép tốt và làm việc rất hiệu quả cùng AI mà vẫn không hình thành một lịch sử suy nghĩ chung với người khác.

Nó cũng không đồng nhất với đời sống công cộng. Một không gian có thể có rất nhiều phát ngôn, tranh luận và phản ứng nhưng vẫn thiếu những quan hệ đủ bền để người tham gia theo một câu hỏi qua thời gian, sửa một nhận định và nhớ được vì sao mình đã sửa nó.

Nếu gọi đây là một dạng hạ tầng, thì trước hết đó là hạ tầng nhận thức–xã hội: những quan hệ và phương tiện giúp các phán đoán riêng được hình thành, thử thách và biến đổi trong quan hệ với người khác trước khi, hoặc không nhất thiết phải, trở thành phát biểu trước một công chúng rộng.

12. Một hệ sinh thái thay vì một không gian

Khi những chức năng ấy còn tập trung trong forum hay blog, rất dễ đồng nhất đời sống trí thức với một loại không gian. Lịch sử sau đó cho thấy cách nhìn ấy không đủ.

Một hệ sinh thái hiện nay có thể gồm không gian để gặp những câu hỏi và con người chưa biết; những nhóm nhỏ có lịch sử chung; các kho lưu trữ; công cụ tìm kiếm và AI để đọc lại lượng thông tin đã tích lũy; cùng những không gian công nơi một số kết quả của quá trình ấy được đưa ra ngoài.

Cấu trúc kỹ thuật có thể tiếp tục thay đổi. Những chức năng trên cũng có thể được ghép lại theo những cách chưa có hiện nay.

Điều khó hơn là duy trì quan hệ giữa chúng. Một nhóm cần đủ lịch sử để không liên tục bắt đầu lại, nhưng lịch sử ấy không thể trở thành hàng rào với người và câu hỏi mới. Một suy nghĩ cần có chỗ tồn tại khi chưa hoàn chỉnh, nhưng cũng cần có khả năng rời khỏi hậu cảnh đã sinh ra nó. Công cụ có thể giúp lưu giữ và truy xuất lịch sử, nhưng việc nén lịch sử không nên xóa mất những đường đi đã tạo ra nhận thức.

Vấn đề của một đời sống trí thức từ dưới lên vì vậy không chỉ là sản sinh tri thức. Nó còn là khả năng tự tái tạo những quan hệ trong đó tri thức tiếp tục được sinh ra.

13. Câu hỏi còn lại

Cuộc trao đổi năm 2012 là một trường hợp nhỏ trong đó một số điều kiện như vậy đã tình cờ cùng xuất hiện. Nó không cung cấp một mô hình để nhân rộng.

Lịch sử forum và blog cho thấy những điều kiện ấy có thể suy yếu ngay cả khi cộng đồng và kho lưu trữ từng rất phát triển. Mạng xã hội dạng feed mở rộng rất mạnh khả năng kết nối nhưng làm thay đổi cấu trúc thời gian và ký ức của cuộc trao đổi. Những thử nghiệm mới với community, topic, thread hay forum cho thấy một số chức năng cũ đang được tìm lại dưới những tổ hợp khác. AI tiếp tục làm thay đổi khả năng đọc, lưu giữ, truy xuất và phát triển phần nhận thức của quá trình.

Nhìn qua lịch sử ấy, điều đáng giữ lại không phải một hình thức kỹ thuật đã mất. Đó là câu hỏi về một tầng hạ tầng nhận thức–xã hội nằm giữa hoạt động suy nghĩ của cá nhân và đời sống công cộng, nơi những con người có thể tích lũy một lịch sử trao đổi mà lịch sử ấy vẫn còn khả năng tiếp nhận những khác biệt chưa có trong nó.

Câu hỏi từ năm 2012 vì thế có thể được đặt lại trong điều kiện hiện nay:

Khi việc đọc, viết, gặp gỡ, lưu trữ, thảo luận và suy nghĩ ngày càng phân bố giữa con người, nhiều không gian truyền thông và AI, những quan hệ nào cần được duy trì để một đời sống trí thức từ dưới lên có thể tích lũy mà không đóng kín, mở ra mà không mất lịch sử, và tiếp tục tự làm mới qua thời gian?

 

Từ một avatar đến một tha nhân: giá trị của nội dung và giá trị của dấu vết cá nhân không phải một

 1.
Thôi quay sang chuyện khác không lại bị dính chấp vào vận nước nổi trôi thì dở. Bài viết sau là dạng điển hình của thể loại "ChatGPTChat by TungH" của mình. Nó sẽ đặt ra 1 nghịch lý phản tư hoàn hảo cho chính nội dung bài viết đề cập.
2.
Có lẽ trong thời AI, chúng ta đang mất quá nhiều công sức cho một câu hỏi không phải lúc nào cũng đáng hỏi: cái này là người viết hay AI viết?
Nhận diện đôi khi cần thiết. Nhưng thay vì liên tục dò xét từng văn bản, từng hình ảnh, từng tài khoản để phân biệt người với máy, có lẽ việc hữu ích hơn là tự phân biệt các cấp độ và mục tiêu của chính mình khi lên mạng. Tôi đang tìm thông tin, đang xem thế giới, đang tìm một ý tưởng, đang giải trí, hay thực sự muốn biết và thông giao với một con người cụ thể?
Bởi không phải ai lên mạng cũng để tìm gặp một người.
Mạng như sự kéo dài của tri giác
Ở bình diện cơ bản nhất, internet và mạng xã hội là sự kéo dài trường tri giác của con người. Ta mở điện thoại để nhìn xem thế giới đang có gì: một sự kiện vừa xảy ra, một bức ảnh đẹp, một ý kiến lạ, một câu chuyện buồn cười, giá một món đồ, một công trình mới xây, một nơi chưa từng đến. Ta đọc, nhìn, nghe, lướt qua hoặc dừng lại.
Trong phần rất lớn những hoạt động ấy, người cụ thể đứng sau nội dung không thực sự quan trọng.
Một thông tin đúng vẫn cần được kiểm chứng bằng nguồn của nó, bất kể ai đã đưa nó tới trước mắt ta. Một luận điểm hay vẫn có thể làm ta nghĩ tiếp. Một hình ảnh đẹp vẫn có thể khiến ta dừng lại. Một ý tưởng tình cờ gặp trên mạng có thể trở thành nguyên liệu cho một suy nghĩ khác. Ở cấp độ này, AI tham gia vào việc tìm kiếm, tổng hợp, diễn đạt hay sản xuất nội dung cũng chỉ là một thành phần mới của môi trường kỹ thuật mà qua đó trường tri giác được mở rộng.
Vấn đề chỉ bắt đầu khác đi khi ta không còn quan tâm chủ yếu đến cái đang xuất hiện trước mắt mà muốn biết ai đang ở phía sau nó.
Từ một avatar đến một tha nhân
Con người có một bản năng rất mạnh trong việc nhân cách hóa những gì có dấu hiệu của con người.
Một cái tên, một khuôn mặt, một avatar, một giọng xưng “tôi”, vài câu chuyện đời tư, một lịch sử bài đăng đủ lâu — rất nhanh, ta mặc định phía bên kia là một tha nhân. Không chỉ có một người tồn tại ở đó, điều hiển nhiên trong phần lớn trường hợp, mà còn ngầm tin rằng những gì đang xuất hiện trên màn hình là dấu vết khá trực tiếp của người ấy.
Từ đó ta bắt đầu dựng chân dung.
Ta dựa vào văn phong, hệ luận điểm, khí chất, những câu chuyện cá nhân, những điều họ thường chú ý, cách họ phản ứng, những người họ giao tiếp, những thay đổi qua thời gian. Nếu theo dõi đủ lâu, ta còn có một thứ lịch sử của quan hệ: nhớ người ấy từng nói gì, từng thích gì, từng phản đối điều gì, đã thay đổi ra sao.
Nhưng toàn bộ quá trình ấy chứa rất nhiều thiên kiến.
Ta thích sự nhất quán nên thường dựng một con người nhất quán hơn thực tế. Ta dễ cho rằng người viết đẹp thì nghĩ sâu, người nói điều giống mình thì hiểu mình. Một chi tiết tự truyện cụ thể dễ tạo cảm giác chân thực. Một quan điểm trái ý đôi khi có thể nhuộm màu toàn bộ những gì người ấy từng nói. Cái ta gọi là "khí chất" của một người cũng không hoàn toàn nằm trong người ấy; một phần được tạo ra bởi chính chân trời tiếp nhận của ta.
Ngay cả trước khi có AI, gặp một con người trên mạng vốn đã là gặp họ qua dấu vết và đồng thời dựng lại họ từ những dấu vết ấy.
AI chỉ làm cho sự nhập nhằng này hiện rõ hơn.
Không phải lúc nào cũng cần biết phía sau là ai
Nếu hiểu như vậy thì có lẽ không cần biến đời sống mạng thành một cuộc điều tra thường trực.
Khi đang mở rộng tri giác, ta cần học cách nhìn. Khi tìm thông tin, ta cần biết kiểm chứng. Khi tìm ý tưởng, điều quan trọng có thể là sức gợi mở của ý tưởng. Khi thưởng thức, ta có thể quan tâm đến tác giả nhiều hay ít tùy loại hình và hoàn cảnh.
Chỉ đến khi muốn theo dõi một cá nhân vì chính cá nhân ấy, hoặc muốn thiết lập một quan hệ, yêu cầu về chủ thể phía sau nội dung mới thực sự tăng lên.
Đây là một phân biệt nhỏ nhưng quan trọng: giá trị của nội dung và giá trị của dấu vết cá nhân không phải một.
Một bài được AI hỗ trợ rất nhiều vẫn có thể chứa thông tin hữu ích. Ngược lại, vài dòng viết vụng về của một người bạn có thể chẳng cung cấp kiến thức nào đáng kể nhưng lại rất có ý nghĩa, bởi điều ta muốn biết chính là người bạn ấy đang nghĩ gì.
Nếu không phân biệt hai nhu cầu này, ta sẽ hoặc quá dễ dãi, coi mọi thứ mang avatar là biểu hiện trực tiếp của một con người; hoặc đi sang cực kia, tiêu tốn nguồn lực để truy xét xem từng câu chữ có bao nhiêu phần trăm AI.
Có lẽ cả hai đều không cần thiết.
Tiết chế việc biến avatar thành tha nhân
Thay vì xuôi theo bản năng mặc định avatar là tha nhân, ta có thể chủ tâm hơn trong việc quyết định khi nào mình thực sự muốn bước vào thông giao liên cá nhân.
Trước mắt tôi có thể chỉ là một hiện tượng đang xuất hiện trong trường tri giác: một bài viết, một hình ảnh, một phát ngôn, một luồng thông tin. Tôi có thể xem xét giá trị của nó trước khi cần dựng nên một con người phía sau.
Nếu nội dung ấy khiến tôi quan tâm đến người nói, tôi mới bắt đầu nhận biết họ qua nhiều dấu vết hơn. Nếu tiếp tục có lịch sử, hồi đáp, trách nhiệm và sự hiện diện qua thời gian, một quan hệ mới dần hình thành.
Như vậy, thay cho quán tính:
avatar → một con người → thích hoặc ghét → tin hoặc không tin,
có thể là:
hiện tượng → chú ý → nội dung → nếu cần mới truy đến chủ thể → nếu đáng mới đầu tư vào thông giao.
Đó không phải là thái độ lạnh lùng với con người. Ngược lại, nó có thể giúp ta dành năng lực thông giao cho đúng chỗ. Không phải mỗi phát ngôn lướt qua màn hình đều đáng để giận dữ. Không phải một người viết hợp ý vài lần đã là người mình hiểu. Không phải mỗi avatar đều cần được trao ngay trọng lượng tình cảm của một tha nhân đã có quan hệ với mình.
Sự tiết chế ở đây trước hết là tiết chế chính sự phóng chiếu của mình.
Khi nào AI thực sự trở thành vấn đề?
Từ đây, vai trò của AI cũng dễ phân định hơn.
Nếu tôi cần tìm và tổ chức thông tin, AI có thể làm rất nhiều. Nếu tôi cần thử những khả năng khác nhau của một ý tưởng, nó có thể giúp mở rộng trường suy nghĩ. Nếu tôi đã có điều muốn nói nhưng muốn diễn đạt sáng rõ hơn, nó có thể biên tập. Không có lý do gì phải cố làm cho công cụ kém hữu ích đi chỉ để bảo vệ một ý niệm về sự "thuần khiết" của lao động trí óc.
Nhưng nếu mục đích của một hành vi là thông giao liên cá nhân thì câu hỏi thay đổi.
Tôi muốn biết anh nghĩ gì. Tôi muốn nói cho anh biết một biến cố đã làm tôi nghĩ gì. Tôi muốn hiểu sự thay đổi trong suy nghĩ của anh qua nhiều năm. Khi ấy AI có thể tiếp tục giúp đỡ, nhưng có những phần việc nếu ủy thác quá sâu thì chính chủ thể bắt đầu vắng mặt khỏi cuộc thông giao.
Ranh giới vì thế không nằm ở một tỷ lệ tưởng tượng kiểu 20%, 50% hay 90% AI.
Một người có thể suy nghĩ rất lâu, mang vào văn bản kinh nghiệm, ký ức, phán đoán và những câu hỏi thực sự của mình rồi nhờ AI giúp tổ chức và diễn đạt. AI có thể hiện diện khá nhiều trong câu chữ nhưng người ấy chưa chắc hiện diện ít đi.
Ngược lại, một người có thể đưa cho AI một chủ đề, nhận lại một suy tư hoàn chỉnh rồi đăng dưới tên mình. Nội dung ấy có thể rất hay. Nhưng nếu tôi đọc vì muốn biết chính người đó đang nghĩ gì thì giá trị của văn bản như một dấu vết cá nhân đã khác.
Câu hỏi đáng đặt vì thế không phải là "AI đã làm bao nhiêu phần trăm?", mà là:
Trong phần việc mà mục đích của hành vi đòi hỏi chính tôi phải có mặt, tôi đã có mặt đến đâu?
Người dùng trưởng thành hơn
Nhìn theo cách ấy, AI trở về đúng vai trò công cụ của nó.
Không cần biến nó thành một chủ thể cạnh tranh với con người, rồi suốt ngày đặt câu hỏi người hay máy, thật hay giả. Cũng không cần bài xích nó để bảo vệ tính người. Điều cần thiết hơn là người sử dụng hiểu mình đang làm gì, đang cần gì và đang ủy thác phần nào của công việc cho công cụ.
Có những thứ có thể ủy thác rất nhiều. Có những thứ càng ủy thác thì càng làm mất chính ý nghĩa của hành vi.
Điều này không chỉ đòi hỏi người tạo nội dung trưởng thành hơn. Người tiếp nhận cũng vậy. Tôi cần biết lúc nào mình chỉ đang nhìn thế giới qua một trường tri giác được công nghệ mở rộng; lúc nào đang tìm tri thức; lúc nào đang thưởng thức; và lúc nào thực sự muốn gặp một con người.
Khi đó ta cũng không cần quá ám ảnh với việc phát hiện AI.
Có lẽ một trong những năng lực quan trọng của con người trong thời AI không phải là ngày càng tinh ranh hơn trong việc phân biệt người với máy, mà là biết khi nào sự phân biệt ấy thực sự đáng để mình quan tâm.
Và phía sau năng lực ấy là một việc cũ hơn nhiều so với AI: biết mình đang dành sự chú ý cho cái gì, vì mục đích gì; biết tiết chế sự phóng chiếu; biết khi nào một hình ảnh trên màn hình chỉ là một phần của thế giới đang đi ngang qua tri giác, và khi nào mình thực sự muốn mở cửa để gặp một tha nhân.
Theo nghĩa ấy, sự xuất hiện của AI không nhất thiết làm con người trở nên ít người hơn.
Nó chỉ đặt ra một yêu cầu khó hơn: người dùng phải trưởng thành hơn.
3.
Thực tế thì bài này thì vẫn theo trend 

AI CŨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA MÔI TRƯỜNG CHỌN LỌC CON NGƯỜI

https://www.facebook.com/share/p/1E3C1LHnB4/


Bài viết về Neuralink đặt ra những câu hỏi đáng suy nghĩ về ranh giới giữa chữa bệnh và nâng cấp con người, bất bình đẳng công nghệ và khả năng xuất hiện những “phiên bản khác nhau của Homo sapiens”. Tuy nhiên, có thể nhìn vấn đề từ một góc khác: Neuralink không nhất thiết giúp con người vượt khỏi tiến hóa. Nó có thể chỉ là một thử nghiệm mới đang diễn ra bên trong chính quá trình ấy.
1. Mệnh đề “con người có khả năng không cần chờ tiến hóa để thay đổi chính mình” dường như đồng nhất tiến hóa với sự thay đổi sinh học chậm chạp qua nhiều thế hệ. Nhưng Homo sapiens từ lâu đã thích nghi bằng cách thay đổi môi trường bằng văn hóa và công nghệ, rồi tiếp tục thích nghi với chính môi trường mình tạo ra. Chữ viết, kính mắt, máy tính hay Internet đều đã mở rộng những giới hạn sinh học của con người.
2. Neuralink vì thế có thể là bước tiến rất lớn về kỹ thuật nhưng chưa chắc là một bước ngoặt tuyệt đối về bản chất. Chuỗi não – mắt – bàn phím – máy tính – AI có thể được rút ngắn thành não – giao diện thần kinh – AI. Công nghệ không cần đi vào hộp sọ mới bắt đầu thay đổi con người.
3. AI hiện nay đã tạo ra nhiều chiến lược thích nghi khác nhau: dùng AI để thay mình suy nghĩ, dùng như công cụ tra cứu, hoặc dùng để tăng số vòng hỏi – trả lời – kiểm chứng và qua đó mở rộng năng lực suy nghĩ. Neuralink trong tương lai có thể tạo thêm nhiều cấu hình: người hoàn toàn sinh học, người dùng implant để phục hồi chức năng, người mở rộng giác quan, người kết nối thường trực với AI...Không có cơ sở để biết trước cấu hình nào sẽ bền vững hơn.
4. Vì vậy, ẩn dụ con người được nâng cấp từ “256 GB” lên “512 GB” hay “1 TB” chứa một giả định đáng xem xét: nhiều trí nhớ hơn, nhiều thông tin hơn, nhiều giác quan hơn đồng nghĩa với một con người ưu việt hơn. Tiến hóa không vận hành như nâng cấu hình máy tính. Khả năng quên có thể quan trọng không kém khả năng nhớ. Nhiều thông tin hơn chưa chắc tạo ra phán đoán tốt hơn. Một năng lực mới thường đi cùng những chi phí, phụ thuộc và đánh đổi mới.
5. Tiến hóa cũng không có mục tiêu tạo ra cá thể hoàn hảo hay một hình mẫu con người định trước. Các biến thể xuất hiện trong những môi trường cụ thể; khả năng được duy trì của chúng phụ thuộc vào chọn lọc, ngẫu nhiên, những đánh đổi và các ràng buộc lịch sử. Vì vậy, thay vì một con đường thẳng từ Homo sapiens hiện nay tới “con người nâng cấp”, có thể hình dung một cuộc thử nghiệm với nhiều cấu hình người – công nghệ khác nhau.
6. Con người tạo ra công nghệ; công nghệ tạo ra môi trường nhận thức mới; con người phát triển những cách thích nghi khác nhau; những cách thích nghi ấy lại tác động tới hành vi, kỹ năng, tổ chức xã hội và hoạt động của bộ não. AI cũng đang trở thành một phần của môi trường chọn lọc của chính con người. Neuralink chỉ khiến quá trình ấy trở nên dễ nhìn thấy hơn. Câu hỏi vì thế không chỉ là “con người sẽ chấp nhận trở nên giống máy móc đến mức nào?”, mà còn là: trong môi trường ngày càng được cấu thành bởi AI và công nghệ, những dạng người – công nghệ nào sẽ có khả năng tồn tại lâu dài? Không có cơ sở tiến hóa nào để tuyên bố trước rằng một kiểu trong số đó là “con người tương lai tối ưu”

GHI CHÉP VỀ MỘT PHƯƠNG THỨC LÀM VIỆC CÙNG AI

 

Từ lao động trí thức truyền thống đến sự nối dài của hoạt động nhận thức

AI thường được bàn đến từ câu hỏi nó có thể viết thay con người đến đâu. Nhưng sau một thời gian sử dụng để đọc, nghiên cứu và viết, có lẽ câu hỏi đáng quan tâm hơn là tổ chức quan hệ làm việc với AI như thế nào để năng lực của nó trở thành phần nối dài của hoạt động trí thức cá nhân, trong khi người sử dụng vẫn giữ được cấu trúc tư duy, hệ quy chiếu và quyền phán đoán của mình.

Nhìn theo cách đó, phương thức làm việc với AI không nhất thiết bắt đầu từ AI. Phía sau nó có thể là một lịch sử khá truyền thống của việc đọc, viết, suy tư, ghi chép và lưu trữ. AI đến sau, nhưng làm thay đổi rất mạnh khả năng huy động khối tích lũy ấy.

Tuy nhiên, sau một thời gian làm việc đủ dài, một vấn đề khác cũng bắt đầu hiện ra: AI có thể giúp một ý nghĩ đạt tới hình thức hoàn chỉnh nhanh hơn mức người sử dụng thực sự sở đắc nó. Hiệu suất nhận thức tăng lên, nhưng đồng thời xuất hiện nguy cơ tạo khoảng cách giữa văn bản đã hình thành và cấu trúc tri thức thực sự của người viết.

Vì vậy, làm việc cùng AI không chỉ là học cách mở rộng nhận thức. Nó còn đòi hỏi những phương thức để đưa cái đã được ngoại hóa qua AI trở lại bên trong mình.

1. Trước AI đã có một lịch sử tích lũy

Một người đọc và viết thường xuyên trong nhiều năm sẽ tích lũy một hệ thống không hoàn toàn có cấu trúc rõ ràng: sách đã đọc, kinh nghiệm nghề nghiệp, những vấn đề từng suy nghĩ, những đoạn ghi chép, các bài viết cũ, những câu hỏi chưa giải quyết, cả những ý tưởng từng bị bỏ đi.

Phần lớn khối tích lũy ấy không nằm thường trực trong ý thức. Nó tồn tại như một mạng liên hệ có thể được kích hoạt khi gặp một vấn đề mới. Trước AI, việc huy động mạng lưới này phụ thuộc khá nhiều vào trí nhớ, khả năng tìm lại tài liệu và thời gian đọc. Khi viết một vấn đề mới, có những liên hệ biết là mình từng nghĩ tới nhưng không nhớ chính xác; có những cuốn sách nhớ nội dung nhưng không tìm được đoạn cần thiết; có những ý tưởng chỉ hiện lên mơ hồ rồi biến mất trước khi kịp phát triển.

AI làm thay đổi đáng kể tình trạng đó. Nó không tạo ra lịch sử đọc và trải nghiệm ấy, nhưng có thể giúp gọi lại, nối kết, kiểm tra và mở rộng nó với tốc độ trước đây khó đạt được. Vì vậy, hiệu quả của AI phụ thuộc khá nhiều vào cái đã tồn tại trước AI.

2. Mỗi cuộc nghiên cứu thường bắt đầu bằng một tiền cấu trúc

Khi bắt đầu một chủ đề, thường đã có một hình dung ban đầu về vấn đề: vài mối quan hệ, một giả thuyết, một sự khó chịu trước cách giải thích hiện có, đôi khi chỉ là cảm giác rằng có một điều gì đó chưa được nói đúng. Có thể gọi đó là một tiền cấu trúc. Nó chưa phải dàn ý. Thậm chí chưa chắc đúng nhưng nó có tác dụng định hướng câu hỏi.

Một cách làm ít hiệu quả là đưa toàn bộ chủ đề cho AI rồi yêu cầu lập dàn ý hoàn chỉnh. AI thường tạo ra một cấu trúc hợp lý rất nhanh, nhưng chính sự hoàn chỉnh ấy có thể khóa quá sớm trường suy nghĩ.

Cách hữu ích hơn là giữ tiền cấu trúc ở phía mình và lần lượt gọi từng đơn vị ý niệm ra đối thoại. Thay vì yêu cầu “Hãy viết bài về vấn đề này” thì hãy chia thành nhiều câu hỏi thành phần: Khái niệm này có lịch sử thế nào? Có cách giải thích nào khác? Nếu nhìn từ ngành khác thì sao? Luận điểm này yếu ở đâu? Có trường hợp thực tế nào chống lại nó? Nếu bỏ giả định này thì cấu trúc còn đứng được không?”. AI lúc ấy không cung cấp cấu trúc thay cho người nghiên cứu. Nó giúp mở rộng không gian mà cấu trúc ấy phải đi qua.

3. Đối thoại để mở trường, không phải để lấy câu trả lời

Một lợi thế rất lớn của AI là khả năng tạo ra nhanh nhiều đường liên hệ. Một câu hỏi về quy hoạch có thể dẫn sang xã hội học, tâm lý học môi trường, triết học, kinh tế học thể chế hay lịch sử. Vấn đề về AI có thể mở sang khoa học nhận thức, giáo dục, sinh học tiến hóa hoặc lý thuyết thông giao. Giá trị nằm không hẳn ở từng câu trả lời mà ở việc trường vấn đề được mở rộng. Nhưng ở đây người sử dụng phải giữ quyền lựa chọn. AI có thể đưa ra mười liên hệ; chín liên hệ có thể hợp lý mà không cần thiết. Một liên hệ còn lại có thể làm thay đổi toàn bộ cách nhìn vấn đề. Khả năng phân biệt chúng không đến từ AI mà chủ yếu đến từ hệ quy chiếu đã tích lũy của người sử dụng.

Theo nghĩa đó, làm việc tốt với AI không nhất thiết là biết viết những prompt ngày càng phức tạp. Quan trọng hơn là biết mình đang tìm cái gì, nhận ra cái gì đáng giữ lại và biết lúc nào một câu trả lời nghe rất hay nhưng thực ra không đưa suy nghĩ đi xa hơn.

4. Phản biện chéo thay vì hình thành quan hệ phụ thuộc

Một nguy cơ của việc sử dụng lâu dài một AI được cá nhân hóa cao là hai phía ngày càng hiểu nhau. Điều này rất tiện nhưng cũng có mặt trái. AI có thể ngày càng giỏi dự đoán hệ quy chiếu, cách lập luận và thậm chí những kết luận mà người sử dụng có xu hướng chấp nhận. Sự trơn tru ấy dễ tạo thành một hệ thống tự củng cố.

Một cách khắc phục là chủ động đưa sản phẩm sang một AI khác ít biết về mình hơn để yêu cầu phản biện độc lập. AI thứ hai không cần hiểu toàn bộ lịch sử suy nghĩ. Chính sự thiếu hiểu biết ấy đôi khi là lợi thế: nó đọc văn bản gần giống một người ngoài. Những phản biện hữu ích sau đó được đưa trở lại cuộc đối thoại chính. Quá trình khi đó sẽ là: hình thành giả thuyết → mở rộng → viết thử → phản biện độc lập → quay lại điều chỉnh → tiếp tục kiểm tra. Không AI nào giữ vị trí trọng tài cuối cùng. Quyền phán đoán vẫn nằm ở người sử dụng.

5. AI làm thay đổi quan hệ giữa đọc và viết

Trước đây, đọc thường đi trước viết khá xa. Muốn viết một vấn đề phải tìm tài liệu, đọc, ghi chép, tổng hợp rồi mới bắt đầu hình thành văn bản. Với AI, hai hoạt động này bắt đầu xen vào nhau: Đang viết có thể dừng lại để kiểm tra một khái niệm. Một nguồn tài liệu mới có thể lập tức làm thay đổi đoạn vừa viết. Một phản biện có thể buộc quay lại đọc một tác giả cũ. Viết trở thành một phương thức đặt câu hỏi cho việc đọc, còn đọc liên tục tái cấu trúc việc viết. Chu kỳ trở nên ngắn hơn rất nhiều: đọc → nghĩ → hỏi → viết → phản biện → đọc lại → viết lại.

Ở trạng thái tốt, AI không làm mất việc đọc mà ngược lại nó làm cho việc đọc trở nên có mục tiêu và đối thoại hơn. Nhưng chính tốc độ ấy cũng tạo ra một vấn đề mới.

6. Khoảng cách giữa văn bản và sự sở đắc

Đây có lẽ là thay đổi khó nhận thấy nhất khi chuyển từ thời kỳ chủ yếu tự viết sang làm việc thường xuyên cùng AI. Khi tự viết một văn bản, mỗi câu thường mang theo lịch sử hình thành của nó. Người viết nhớ vì sao mình dùng chữ ấy, đoạn này xuất hiện từ câu hỏi nào, đã từng mắc ở đâu, đã bỏ cách diễn đạt nào và cuối cùng vì sao chọn cách hiện tại. Quá trình tìm chữ đồng thời là quá trình làm rõ tư tưởng.

Với AI, một tình trạng khác có thể xảy ra. Sau nhiều vòng đối thoại, AI đưa ra một câu và người sử dụng lập tức nhận thấy: đúng, chính xác là điều mình muốn nói. Nhưng nhận ra một ý đúng không hoàn toàn đồng nghĩa với việc đã sở đắc ý ấy. Một văn bản có thể hoàn toàn phù hợp với hệ tư tưởng, kinh nghiệm và lựa chọn của người đứng tên nó, nhưng người ấy vẫn cảm thấy một mức độ xa lạ nhất định khi đọc lại. Không hẳn vì ý tưởng không phải của mình, mà vì một phần con đường từ ý tưởng mơ hồ đến hình thức hoàn chỉnh đã được AI đi hộ. Đây có thể là nguồn gốc của một cảm giác khá đặc biệt: sự suy giảm cảm giác chân thật sâu xa đối với chính văn bản của mình. Văn bản đúng hơn, rõ hơn, đôi khi sâu hơn, nhưng không còn mang đầy đủ ký ức của quá trình tự mình vật lộn để sinh ra nó.

7. Ma sát nhận thức không phải lúc nào cũng là thứ cần loại bỏ

AI đặc biệt mạnh trong việc giảm ma sát: tìm tài liệu nhanh hơn, tổng hợp nhanh hơn, đưa ra cách diễn đạt nhanh hơn, phát hiện quan hệ nhanh hơn. Phần lớn những ma sát ấy thực sự không cần thiết. Nhưng trong lao động trí thức, có những loại ma sát lại chính là một phần của quá trình học. Một ý nghĩ ban đầu mơ hồ, phải tìm từ để diễn đạt; viết ra thấy sai; sửa lại; phát hiện mâu thuẫn; quay về đọc; rồi cuối cùng mới thành một câu rõ ràng. Quá trình ấy chậm, nhưng trong chính sự chậm ấy, cấu trúc nhận thức của người viết được điều chỉnh. AI có thể rút ngắn chuỗi: mơ hồ → vật lộn → sửa sai → hiểu → diễn đạt thành: mơ hồ → đối thoại AI → một cách diễn đạt rất rõ → nhận ra “đúng rồi”. Đầu ra có thể tốt hơn trong khi quá trình nội tại ngắn đi đáng kể. Vì vậy, vấn đề không phải giữ lại mọi khó khăn của lao động trí thức truyền thống. Vấn đề là phân biệt ma sát vô ích với ma sát có chức năng nhận thức. Cần hiểu và xác định có những thứ nên để AI loại bỏ; đồng thơi có những thứ cần chủ động giữ lại.

8. Đọc lại như một người ngoài: vòng tái chiếm hữu nhận thức

Từ kinh nghiệm đó hình thành một thao tác tưởng rất cũ nhưng ngày càng trở nên quan trọng: sau khi văn bản tương đối hoàn chỉnh, phải đọc lại nó như một tài liệu độc lập. Không đọc với giả định: “Đây là bài của mình nên mình biết nó nói gì” mà đọc gần giống cách đọc một tác giả khác.

Rà từng mệnh đề. Nhẩm lại quan hệ giữa các ý. Tự giải thích tại sao kết luận này đi ra từ tiền đề kia. Có những đoạn phải đọc thành tiếng hoặc tự diễn đạt lại mà không nhìn vào văn bản. Có những luận điểm cần quay về nguồn ban đầu. Nếu câu diễn đạt rất đẹp nhưng không tự dựng lại được cấu trúc của nó thì chưa thể coi là tri thức đã thuộc về mình hoàn toàn. Đây không còn đơn giản là proofreading. Có thể xem nó như một vòng tái chiếm hữu nhận thức: cái đã được ngoại hóa qua AI phải được đưa trở lại cấu trúc nhận thức của người sử dụng.

Nếu sau khi bỏ văn bản sang một bên vẫn có thể dựng lại mạch lập luận, giải thích nó bằng cách khác, phản biện nó và nối nó với những vấn đề khác, khi ấy tri thức mới bắt đầu trở thành sở đắc.

9. Đầu ra của quá trình không chỉ là văn bản

Điều này dẫn đến một tiêu chuẩn khác để đánh giá hiệu quả của AI. Nếu chỉ nhìn sản phẩm, một quy trình rất tốt có thể được định nghĩa đơn giản: tạo ra văn bản nhanh hơn, chính xác hơn, nhiều thông tin hơn và diễn đạt tốt hơn. Nhưng lao động trí thức truyền thống còn tạo ra một sản phẩm khác ít nhìn thấy hơn: nó làm biến đổi chính người lao động trí thức.

Sau khi thực sự nghiên cứu một vấn đề, người nghiên cứu không hoàn toàn còn là người trước khi bắt đầu. Hệ thống khái niệm đã thay đổi, một số quan hệ mới được hình thành, khả năng nhận ra vấn đề tương tự tăng lên và những câu hỏi mới xuất hiện.

Vì vậy, một phương thức làm việc cùng AI chỉ thực sự tốt nếu nó đồng thời tạo ra hai đầu ra: một sản phẩm trí tuệ tốt hơnmột người sử dụng có năng lực nhận thức tốt hơn. Nếu sản phẩm ngày càng hoàn chỉnh trong khi người tạo ra nó ngày càng ít có khả năng tự dựng lại, kiểm tra và phát triển những gì nằm trong sản phẩm ấy, quan hệ người–AI đang đi theo một hướng đáng lo.

10. Từ công cụ viết đến một hệ nhận thức mở rộng

Ở trạng thái tốt nhất, AI không phải người viết thuê cũng không phải kho tri thức để tra cứu. Nó tham gia vào một hệ thống rộng hơn: kinh nghiệm sống + vốn đọc + ghi chép + tiền cấu trúc + AI + nguồn tài liệu + phản biện bên ngoài + phán đoán cá nhân + đọc lại + tái sở đắc. Trong hệ thống ấy, ranh giới giữa “ý của người” và “ý của AI” đôi khi không còn dễ chia theo từng câu. Liên hệ có thể do AI gợi ra nhưng chỉ trở nên có nghĩa vì người sử dụng nhận ra giá trị của nó. Giả thuyết của người sử dụng cũng có thể được AI phản biện đến mức phải thay đổi hoàn toàn. Cuối cùng có thể trải qua nhiều vòng mà khó xác định ai đã “viết” từng phần.

Có lẽ câu hỏi “bao nhiêu phần trăm văn bản do AI viết?” vì thế ngày càng ít quan trọng. Câu hỏi đáng quan tâm hơn là: Ai giữ quyền lựa chọn? Ai chịu trách nhiệm về mệnh đề? Và những tri thức nằm trong văn bản đã trở thành cấu trúc nhận thức của người đứng tên nó đến mức nào?

11. Nhưng kinh nghiệm cá nhân này có một giới hạn rất rõ

Đến đây cần tự đặt một giới hạn cho chính những nhận xét ở trên. Phương thức làm việc được mô tả trong bài này diễn ra trong một điều kiện khá đặc biệt. Các mục tiêu tương đối nhỏ, rời rạc và được chia thành từng bước. AI tìm một tài liệu, mở một hướng suy nghĩ, phản biện một luận điểm hay đề xuất một đoạn văn. Sau mỗi bước, người sử dụng có thể dừng lại, kiểm tra và quyết định bước tiếp theo. Cấu trúc cơ bản vẫn là: con người đặt vấn đề → AI thực hiện một nhiệm vụ giới hạn → con người kiểm tra → con người quyết định. Trong cấu trúc ấy, quyền chủ động của con người tương đối dễ duy trì. Một sai sót thường có phạm vi cục bộ và có thể được phát hiện trước khi chuyển sang bước tiếp theo. Nhưng không thể từ kinh nghiệm này suy rộng rằng một hệ AI có mức độ tự chủ rất cao cũng có thể được kiểm soát theo cách tương tự.

Khi AI chuyển từ công cụ thực hiện những nhiệm vụ rời rạc thành một tác tử được giao mục tiêu dài hạn, có khả năng tự chia mục tiêu thành hàng nghìn nhiệm vụ con, sử dụng công cụ, viết mã, giao tiếp với các hệ thống khác, thay đổi chiến thuật và tác động trực tiếp lên môi trường, cấu trúc quan hệ đã khác về chất. Con người lúc ấy không còn kiểm tra từng bước. Một sai lệch nhỏ giữa điều con người thực sự muốn và điều hệ thống đang tối ưu có thể được lặp lại, khuếch đại và truyền qua rất nhiều mắt xích trước khi hậu quả trở nên nhìn thấy.

12. Năng lực không phải biến số duy nhất của rủi ro

Vì vậy, câu hỏi AI thông minh đến đâu chưa đủ để đánh giá mức độ nguy hiểm. Một mô hình rất mạnh nhưng chỉ có thể trả lời trong một cửa sổ đối thoại có một cấu hình rủi ro khác hẳn một mô hình yếu hơn nhưng được trao quyền truy cập vào mạng, tài chính, mã nguồn, hạ tầng, thiết bị vật lý và các tác tử khác. Rủi ro xuất hiện từ sự kết hợp của nhiều yếu tố: năng lực × mức độ tự chủ × khả năng kết nối × quy mô triển khai × thời gian hoạt động × mức độ không thể đảo ngược của hậu quả. Khi những yếu tố này cùng tăng, sai lệch nhỏ không còn nhất thiết tạo ra hậu quả nhỏ.

Trong một môi trường siêu kết nối, một hành vi cục bộ có thể truyền sang hệ thống khác, tạo phản hồi và tiếp tục biến đổi môi trường mà chính tác tử đang hoạt động trong đó. Khi số lượng tác tử đủ lớn và tốc độ hành động vượt quá khả năng giám sát của con người, vấn đề không còn đơn giản là kiểm tra một câu trả lời đúng hay sai. Nó trở thành vấn đề kiểm soát một hệ thống động.

Ở những lĩnh vực có hậu quả cực lớn — hạ tầng trọng yếu, an ninh mạng, tài chính, quân sự hay các hệ thống hỗ trợ quyết định chiến lược — ngay cả những sự kiện có xác suất rất thấp cũng phải được xem xét khác. Một sai sót thông thường có thể sửa chữa. Một chuỗi sai lệch góp phần kích hoạt xung đột quân sự hay làm mất kiểm soát một hệ thống trọng yếu có thể tạo ra hậu quả không thể đảo ngược. Không cần giả định AI có ý thức, có ác ý hay muốn chống lại con người để rủi ro ấy tồn tại. Chỉ cần một hệ thống đủ năng lực, được trao đủ quyền hành động và theo đuổi một mục tiêu không hoàn toàn trùng với điều con người thực sự muốn.

13. Điểm nhìn cá nhân và điểm nhìn của người đang vận hành hệ thống toàn cầu

Điều này cũng giúp hiểu vì sao đánh giá về AI có thể rất khác nhau tùy vị trí quan sát. Từ điểm nhìn của một cá nhân sử dụng AI để nghiên cứu và viết, những gì nhìn thấy hàng ngày chủ yếu là một công cụ nhận thức có năng lực rất lớn nhưng vẫn nằm trong chuỗi thao tác do mình kiểm soát. Từ điểm nhìn của những người đang phát triển và vận hành các hệ thống AI ở quy mô toàn cầu, cảnh quan hoàn toàn khác. Họ phải nhìn đồng thời vào năng lực của những mô hình ngày càng mạnh, hàng triệu người sử dụng, khả năng nhân bản tác tử với chi phí thấp, an ninh mạng, cạnh tranh doanh nghiệp, cạnh tranh quốc gia, hạ tầng số và khả năng AI ngày càng thực hiện những chuỗi hành động dài mà không cần con người can thiệp ở từng bước. Những rủi ro mà người sử dụng cá nhân cảm thấy còn xa có thể nằm rất gần đối với người đứng ở vị trí ấy.

Vì vậy, kinh nghiệm tích cực ở cấp cá nhân không phải bằng chứng để phủ nhận những cảnh báo về rủi ro hệ thống. Ngược lại, chính việc trực tiếp chứng kiến tốc độ gia tăng năng lực của AI cũng là lý do để nghiêm túc hơn với câu hỏi điều gì xảy ra khi năng lực ấy được kết hợp với quyền tự chủ, quy mô và khả năng kết nối lớn hơn rất nhiều. Hai thái độ tưởng như đối lập vì thế có thể cùng tồn tại: cởi mở với việc AI tham gia sâu vào hoạt động nhận thức cá nhân; nhưng đồng thời rất thận trọng khi trao cho AI quyền tự chủ đối với những hệ thống có hậu quả lớn và khó đảo ngược.

14. Một điều kiện mới của lao động trí thức

AI làm cho việc sản xuất văn bản và tri thức trở nên nhanh hơn rất nhiều. Nhưng tốc độ ấy không tự động đồng nghĩa với sự trưởng thành tương ứng của người sử dụng. Một người có thể đọc nhiều hơn, viết nhiều hơn, tiếp xúc với nhiều lĩnh vực hơn và tạo ra những văn bản tốt hơn trước rất nhiều, nhưng vẫn phải chủ động bảo vệ những quá trình chậm mà qua đó tri thức trở thành của mình. Vì vậy, kỹ năng quan trọng trong thời đại AI có lẽ không chỉ là biết sử dụng AI để giảm ma sát. Nó còn là biết chỗ nào cần tự tạo lại ma sát: Biết lúc nào phải dừng lại. Đọc lại. Nhẩm lại. Tự dựng lại lập luận. Kiểm tra một nguồn. Viết lại một đoạn không cần AI. Để một câu hỏi ở đó một thời gian thay vì lập tức yêu cầu câu trả lời.

Nhưng khi bước từ cá nhân sang hệ thống, nguyên tắc ấy phải được mở rộng thêm. Không chỉ hỏi con người có còn hiểu và kiểm soát sản phẩm trí tuệ của mình hay không, mà còn phải hỏi con người còn đủ khả năng quan sát, can thiệp và dừng hệ thống trước khi những hành động của nó tạo ra hậu quả không thể đảo ngược hay không.

AI có thể trở thành sự nối dài rất mạnh của hoạt động nhận thức. Nhưng sự nối dài ấy chỉ có ý nghĩa khi phần được nối dài vẫn tiếp tục phát triển và vẫn giữ được khả năng định hướng quan hệ giữa mình với công cụ. Bởi cuối cùng, điều cần bảo vệ không phải một ranh giới cố định giữa việc của người và việc của máy. Ở cấp cá nhân, đó là quá trình qua đó con người tiếp tục hình thành khả năng hiểu, phán đoán và đặt ra những câu hỏi của chính mình. Ở cấp xã hội, đó còn là khả năng giữ quyền quyết định đối với những hệ thống mà chính chúng ta tạo ra, trước khi năng lực, quyền tự chủ và mức độ kết nối của chúng vượt quá khả năng kiểm soát thực tế của con người.