1. Đọc và viết như một thực hành suy tư
Đọc, ghi chép, suy nghĩ và viết không nhất thiết là những công việc tách biệt. Một cuốn sách được đọc nhiều năm trước có thể gặp một kinh nghiệm nghề nghiệp hôm nay rồi làm nảy sinh một câu hỏi mà cả cuốn sách lẫn kinh nghiệm riêng lẻ đều chưa từng đặt ra. Một ghi chép cũ tưởng đã bỏ lại có thể bất ngờ trở nên hữu ích trong một tình thế khác. Một ý nghĩ sau khi được viết ra lại làm thay đổi cách đọc những thứ đã đọc trước đó.
Theo nghĩa này, tri thức tích lũy không hoàn toàn giống một kho chứa để khi cần mở ra lấy. Nó gần hơn với một trường những mối liên hệ đang ở các trạng thái khác nhau: có cái đã khá ổn định, có cái chỉ mới lờ mờ, có những thứ nằm cạnh nhau rất lâu mà chưa hề gặp nhau. Viết nằm ngay trong quá trình này. Không phải lúc nào cũng viết vì đã nghĩ xong. Có khi phải viết mới biết mình đang nghĩ gì. Một câu được đặt xuống làm câu tiếp theo trở nên khả dĩ. Một chỗ không thể viết tiếp báo hiệu rằng mối quan hệ giữa hai ý chưa thật sự tồn tại. Một đoạn sau khi hoàn thành có thể buộc phải quay lại sửa cả giả định ban đầu.
Suy tư vì thế gần với một quá trình dò đường hơn là triển khai một hệ thống đã có sẵn. Nhưng nếu viết chỉ để giúp suy nghĩ, một cuốn sổ riêng có lẽ đã đủ. Vấn đề bắt đầu từ chỗ vẫn cần viết để người khác đọc.
2. Vì sao cần một người đọc?
Viết cho mình và viết để một người khác đọc tạo ra hai tình thế nhận thức khác nhau. Khi viết cho riêng mình, rất nhiều khoảng trống có thể được bỏ qua. Một từ khóa có thể gọi lại cả một chuỗi liên tưởng. Một kết luận có thể được ghi xuống mà không cần trình bày con đường dẫn tới nó. Người viết và người đọc chia sẻ toàn bộ hậu cảnh bởi họ là cùng một người. Sự xuất hiện của một người đọc làm mất đi đặc quyền ấy. Một trực giác phải tìm được hình thức để một người không có cùng lịch sử sống vẫn có thể đi vào. Một liên hệ tưởng hiển nhiên phải được giải thích. Một phán đoán phải để lộ phần nào căn cứ của nó. Có những điều chỉ đến lúc cố viết cho người khác hiểu mới phát hiện chính người viết cũng chưa hiểu rõ. Người đọc, ngay cả khi im lặng, vì vậy đã tạo ra một sức ép nhận thức.
Nhưng nếu chỉ dừng ở đây, người đọc vẫn chỉ đóng vai trò một công cụ giúp suy nghĩ trở nên rõ ràng hơn. Sự xuất hiện của AI khiến giới hạn của cách giải thích ấy lộ ra.
3. Khi AI trở thành một bạn đọc gần như lý tưởng
Trong một phương thức làm việc đủ lâu và có tích lũy, AI có thể trở thành một bạn đọc đặc biệt hiệu quả. Nó có thể đọc một văn bản dài mà không mất kiên nhẫn, lần theo một ý nghĩ qua nhiều vòng thay đổi, gọi lại những giả định đã hình thành từ các trao đổi trước, phản biện, đối chiếu với những hệ thống tri thức khác và cùng sửa một đoạn văn qua rất nhiều lần. Một trực giác còn mơ hồ có thể được đưa thẳng vào đối thoại mà không cần chuẩn bị cho nó một hình thức hoàn chỉnh. Có thể mở một hướng, đi khá xa rồi bỏ; quay lại một điểm cũ; thay đổi câu hỏi; yêu cầu tìm phản chứng; đưa kết quả sang một AI khác để kiểm tra rồi đem phản biện trở lại cuộc đối thoại ban đầu. Theo cách đó, AI không chỉ hỗ trợ viết. Nó tham gia vào chính quá trình đọc, dò xét và cấu trúc suy nghĩ.
Nếu chức năng của người đọc chỉ là giúp người viết nhìn rõ suy nghĩ của mình, AI đã đảm nhiệm được một phần rất lớn công việc ấy, trong một số tình huống còn thuận lợi hơn một bạn đọc là con người. Vậy tại sao vẫn phải viết cho tha nhân?
4. Tha nhân không chỉ là một nguồn lực nhận thức
Có thể trả lời rằng người khác mang đến những kinh nghiệm và hệ quy chiếu khác. Một câu hỏi bất ngờ có thể làm lộ một giả định ẩn. Một phản biện khiến phải quay lại đọc. Một kinh nghiệm được kể lại có thể mở ra trường hợp mà người viết chưa từng nghĩ tới. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Nếu mục đích cuối cùng vẫn chỉ là làm cho suy nghĩ của người viết tốt hơn, tha nhân vẫn đang được nhìn như một nguồn lực nhận thức. Khi năng lực AI tiếp tục tăng, ngày càng nhiều chức năng trong số đó hoàn toàn có thể được AI đảm nhiệm.
Có một lý do khác căn bản hơn: Người khác không tồn tại để giúp một người nghĩ. Họ có đời sống riêng, những quan tâm riêng, một lịch sử kinh nghiệm riêng. Họ có thể không quan tâm đến điều được viết. Có thể đọc một nửa. Có thể hiểu khác. Có thể phản đối từ một hệ giá trị hoàn toàn khác. Có thể mang một câu đọc được vào một hoàn cảnh mà người viết không bao giờ biết tới. Chính sự độc lập ấy làm thay đổi bản chất của quan hệ.
Tha nhân không chỉ là một nguồn cung cấp phản hồi từ bên ngoài hệ quy chiếu của người viết. Tha nhân là một trung tâm kinh nghiệm khác. Và có những lúc viết đơn giản vì muốn một điều gì đó đi từ một kinh nghiệm sang một kinh nghiệm khác.
5. Từ nhận thức sang thông giao
Sự phổ biến của AI làm một phân biệt cũ trở nên rõ hơn. Có những hoạt động mà mục đích chủ yếu nằm ở nội dung: tìm một dữ kiện, hiểu một lý thuyết, kiểm tra một lập luận, phát triển một ý tưởng. Nếu AI giúp thực hiện những việc ấy tốt hơn, sự tham gia của AI không làm thay đổi mục đích căn bản của hoạt động. Nhưng cũng có những hoạt động mà việc một người đang nói với một người khác là một phần của chính ý nghĩa. Một lời hỏi thăm, một bức thư, một câu chuyện kể cho bạn bè, một ghi chép đưa cho một nhóm người quen đọc đều không chỉ có giá trị vì lượng thông tin chúng chuyển tải. Ở đó cần đặt một câu hỏi khác: Ai đang muốn nói điều này với ai?
Câu hỏi ấy khác với việc truy tìm từng câu chữ do người hay AI tạo ra. AI có thể giúp tìm tài liệu, kiểm tra dữ kiện, phản biện lập luận và cả diễn đạt một ý nghĩ chưa tìm được câu chữ thích hợp. Không có lý do gì phải loại bỏ những khả năng ấy chỉ để chứng minh một văn bản hoàn toàn “thuần người”. Điều đáng quan tâm hơn là: trong phần việc mà mục đích của nó đòi hỏi một chủ thể phải có mặt, chủ thể ấy thực sự có mặt đến đâu?
Đây là chỗ thông giao liên cá nhân khác với việc sản xuất nội dung. Một văn bản có thể hoàn toàn chính xác, sáng rõ và thuyết phục nhưng vẫn thất bại trong một tình thế thông giao nếu người được cho là đang nói hầu như không hiện diện trong lời nói ấy. Không phải vì từng chữ phải do chính người ấy gõ mà bởi mục đích của hoạt động là sự gặp nhau giữa các chủ thể.
6. AI và tha nhân không thay thế nhau
Từ đây có thể thấy AI và tha nhân không nhất thiết cạnh tranh cho cùng một vị trí. AI có thể mở rộng rất mạnh không gian bên trong của suy tư: giúp đọc nhiều hơn, kiểm tra nhanh hơn, gọi lại những mối liên hệ xa hơn, thử nhiều khả năng hơn và làm một suy nghĩ trải qua nhiều vòng phản biện trước khi thành văn bản. Tha nhân mở suy nghĩ ấy sang một chiều khác.
Khi một văn bản được một người khác đọc, nó bước vào một lịch sử sống không được tổ chức quanh mục đích nhận thức của người viết. Người đọc có thể giữ lại một câu, bỏ quên phần còn lại, hiểu nó theo cách không dự kiến, kể lại cho một người khác, hoặc nhiều năm sau mới nhớ đến trong một hoàn cảnh mới. Ở điểm ấy, văn bản đã ra khỏi người viết. Vì vậy, có thể cần AI để suy nghĩ cùng nhưng vẫn cần tha nhân để suy nghĩ ấy bước vào một thế giới chung và đó là hai hoạt động khác nhau.
7. Tại sao cần một không gian phát biểu trung gian?
Nhưng đưa một suy nghĩ đến với tha nhân không đồng nghĩa với việc phải đưa nó ngay ra trước một công chúng rộng lớn. Đây là chỗ kinh nghiệm từ blog đến Facebook trở nên đáng chú ý. Blog trước đây có thể chỉ có một số lượng người đọc nhỏ. Một số quen biết ngoài đời, một số chỉ biết nhau qua những bài viết và bình luận kéo dài. Một bài được đọc trên hậu cảnh của những bài trước. Một câu hôm nay có thể tiếp tục một cuộc trao đổi từ nhiều tháng trước. Đó là một công chúng nhỏ nhưng có lịch sử.
Facebook tạo ra một tình thế khác. Một bài Public có thể gặp một người hoàn toàn không biết người viết là ai và chưa từng đọc bất kỳ điều gì trước đó. Văn bản vì thế phải có khả năng tự mang theo nhiều hơn hậu cảnh của mình. Điều này không khiến Public tốt hơn hay Friends tốt hơn. Chúng thích hợp với những trạng thái phát biểu khác nhau.
Có những văn bản đã đủ khả năng tự đứng độc lập. Một người không biết lịch sử của người viết vẫn có thể nhận ra câu hỏi, theo dõi lập luận và đánh giá nó. Việc đưa những văn bản ấy ra một công chúng rộng là hoàn toàn tự nhiên, nhưng suy tư không chỉ tạo ra những văn bản như vậy.
Còn có những trực giác vừa xuất hiện, những liên hệ chưa biết sẽ dẫn tới đâu, những câu hỏi nảy ra từ công việc, những ghi chép đang thử một cách hiểu, thậm chí những nhận định mà vài tháng sau người viết có thể tự bác bỏ. Nếu mọi phát biểu đều phải mang hình thức của một tuyên bố trước công chúng vô danh, nhiều thứ trong số đó sẽ không được viết ra.
Nhưng nếu chúng chỉ nằm trong sổ tay hoặc chỉ được đưa vào đối thoại với AI, chúng lại chưa bước vào quan hệ với tha nhân. Vì vậy cần một khoảng ở giữa.
8. Một công chúng nhỏ đủ gần
Friends, theo cách hiểu này, không nhất thiết là nơi dành cho chuyện riêng tư. Nó có thể là một không gian có hậu cảnh chung. Những người ở đó phần nào đã biết các câu hỏi đang được theo đuổi, đã đọc một số bài trước, thậm chí đã chứng kiến những lần người viết thay đổi cách nhìn. Một văn bản không nhất thiết phải bắt đầu lại từ đầu. Một ý nghĩ có thể được đặt xuống khi nó vẫn đang vận động mà chưa cần giả vờ mang hình thức của một kết luận. Đó cũng có thể là điều đáng nhớ nhất từ kinh nghiệm blog: một công chúng nhỏ đủ gần.
“Đủ gần” không có nghĩa là đồng ý. Nếu chỉ gồm những người luôn đồng ý, không gian ấy rất dễ trở thành một phòng vọng âm. Khoảng cách vẫn cần thiết. Người khác phải còn đủ khác để một ý nghĩ thực sự đi ra ngoài người viết. Nhưng cũng cần đủ gần để hiểu rằng điều đang đọc có thể chỉ là một đoạn trong một con đường còn tiếp tục; một phát biểu hôm nay không nhất thiết là lời tuyên thệ phải bảo vệ mãi về sau. Quan trọng hơn, qua việc đọc và viết đủ lâu, giữa những người ấy hình thành một lịch sử thông giao. Khi đó người đọc không còn hoàn toàn là một “công chúng” vô danh. Họ trở thành những người mà có lúc một điều gì đó thực sự muốn được nói cùng.
9. Không gian phát biểu là một phần của thực hành suy tư
Nhìn theo cách này, lựa chọn không gian phát biểu không còn là một thao tác truyền thông xảy ra sau khi văn bản đã hoàn thành. Nó nằm trong chính phương thức đọc, viết và suy tư. Một ý nghĩ có thể được giữ trong sổ tay. Có thể đưa vào đối thoại với AI để mở rộng, kiểm tra và cấu trúc. Có thể đưa vào một công chúng nhỏ có lịch sử chung để bước vào thông giao với những người khác khi nó vẫn còn đang sinh thành. Và có thể đi ra một không gian công cộng rộng hơn khi văn bản đã đủ khả năng tự mang hậu cảnh của mình.
Đó không nhất thiết là các nấc của một quy trình bắt buộc. Không phải mọi ghi chép đều phải trở thành bài viết, cũng không phải mọi bài viết cho một nhóm nhỏ cuối cùng đều cần Public. Chúng chỉ là những không gian khác nhau cho những hoạt động khác nhau. AI đang làm thay đổi rất mạnh khả năng đọc, viết và suy nghĩ. Có lẽ chính vì vậy, nó cũng làm lộ rõ hơn một nhu cầu tưởng như rất cũ: Không phải mọi điều được viết đều nhằm sản xuất một nhận thức tốt hơn. Có những điều được viết bởi vì sau tất cả những lần đọc, nghĩ, đối thoại và sửa chữa, vẫn muốn có một người khác ở phía bên kia để nói cùng.
