Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

SỰ SINH THÀNH CỦA Ý NGHĨA ĐỜI SỐNG TRONG ĐÔ THỊ

 1.

Ý nghĩa không có sẵn trong không gian

Trong thành phố thường có nhiều nơi chẳng có gì đặc biệt nếu nhìn trên bản đồ quy hoạch: Một gốc cây, một quán nước, đoạn vỉa hè hơi rộng, bậc thềm trước cửa nhà, khoảng sân giữa mấy khu tập thể. Chúng không phải công trình điểm nhấn, đôi khi còn chẳng thật đúng tiêu chuẩn thiết kế đô thị; nhưng thử bỏ chúng đi, có thể một phần đời sống của khu phố cũng mất theo.

Một khoảng sân chung cư ban đầu chỉ là phần đất trống giữa mấy khối nhà. Rồi trẻ con chơi ở đó, người lớn chờ con, người già tập thể dục, một hàng nước xuất hiện. Hai mươi năm sau, đám trẻ đã lớn, cái cây cũng lớn, vài người chuyển đi, vài người không còn nữa. Khoảng trống ban đầu đã trở thành một nơi chốn. Ý nghĩa không được xây cùng ngày với cái sân. Nó hình thành dần trong đời sống.

2.

Thành phố không chỉ có hình dạng, mà còn có nhịp

Trên bản vẽ, một con đường có chiều rộng, chỉ giới, mặt cắt và quan hệ với mạng giao thông. Trong thực tế, nó còn có giờ người bán hàng mở cửa, giờ trẻ con đi học, lúc dân văn phòng tràn ra ăn trưa, khoảng chiều người già ngồi trước cửa. Ngày thường khác cuối tuần. Mùa hè khác mùa đông. Ngày lễ khác.

Bởi vậy, đọc một nơi không chỉ là hỏi cái gì nằm ở đâu. Còn phải xem ở đó xảy ra việc gì, ai tham gia, vào lúc nào và việc ấy lặp lại ra sao. Một đoạn vỉa hè ban ngày là lối đi nhưng tối đến có thể thành nơi trẻ con chơi. Khoảng trống trước đình phần lớn thời gian khá yên, đến ngày lễ lại thành trung tâm của cả cộng đồng. Cấu trúc vật chất gần như không đổi, nhưng đời sống trong đó liên tục thay đổi theo thời gian.

Sự lặp lại khiến một đường đi thành đường quen, một chỗ ngồi thành chỗ hẹn, một hoạt động thành tập quán. Tập quán đi vào ký ức. Ký ức được kể lại và bám vào địa điểm. Có thể hình dung một chuỗi khá đơn giản: Vật thể → quan hệ không gian → kinh nghiệm → thực hành → ký ức → ý nghĩa.

3.

Thời gian cũng là một vật liệu của đô thị

Người làm thiết kế quen với đất, nước, cây xanh, bê tông, giao thông, mật độ và chiều cao. Thời gian khó vẽ hơn nhiều. Nhưng chính nó làm một bậc đá mòn đi, một hàng cây trở thành ký ức, một lối tắt thành đường, một địa điểm thành chỗ hẹn mà người trong khu vực không cần giải thích cho nhau.

Điều này phần nào giải thích vì sao có những khu đô thị mới rất hoàn chỉnh nhưng vẫn tạo cảm giác thiếu, trong khi một khu phố cũ lộn xộn và bất tiện lại rất khó thay thế. Không nhất thiết cái cũ đẹp hơn. Chỉ là đời sống đã có đủ thời gian bám vào nó.

Vì thế, bản sắc đô thị khó có thể được tạo ra chỉ bằng hình thức kiến trúc, vật liệu hay một câu chuyện lịch sử được lựa chọn sẵn. Phần lớn ý nghĩa đời sống được hình thành từ những việc ít khi xuất hiện trong thuyết minh quy hoạch: đi làm, đi học, mua rau, uống trà, đưa con đi chơi, đứng chờ, gặp nhau, đi bộ một vòng quen thuộc. Từng việc đều rất nhỏ nhưng khi lặp lại đủ lâu, chúng tạo thành cấu trúc vô hình của một nơi chốn.

4.

Không thể thiết kế trực tiếp ý nghĩa

Một trục không trở thành biểu tượng chỉ vì được gọi là trục biểu tượng. Một quảng trường không trở thành nơi nghi lễ chỉ vì có tượng đài. Một khu đô thị cũng không có bản sắc chỉ nhờ sử dụng vài mô típ kiến trúc địa phương. Thiết kế có thể tạo điều kiện, gợi mở hoặc đánh dấu. Sau đó, không gian còn phải được con người sử dụng, thích nghi, kể lại và đôi khi sửa đổi. Ý nghĩa xuất hiện trong quá trình ấy.

Bởi vậy một nơi lâu đời thường có nhiều lớp nghĩa cùng tồn tại. Một cái hồ có thể là cảnh quan với khách du lịch, nơi tập thể dục của người sống gần đó, ký ức tuổi thơ của người đã chuyển đi, chỗ hẹn của một thế hệ khác, không gian lễ hội trong vài ngày của năm và biểu tượng lịch sử ở một tầng rộng hơn. Không nhất thiết phải quy tất cả những điều ấy về một câu chuyện duy nhất.

5.

Can thiệp vào không gian cũng là can thiệp vào các quan hệ

Đây là vấn đề đáng lưu ý nhất khi chỉnh trang những khu vực đã có đời sống lâu dài. Mở một trường nhìn có thể đồng thời làm mất một dãy hoạt động ven đường. Tạo một quảng trường nghi lễ có thể thu hẹp chỗ dành cho sinh hoạt không chính thức. Làm sạch một vỉa hè có thể cải thiện khả năng đi bộ nhưng cũng có thể loại bỏ những hoạt động nhỏ đã góp phần duy trì đời sống khu phố.

Vì vậy, trước một phương án, câu hỏi không nên chỉ là nơi này sẽ đẹp hơn hay trật tự hơn. Cần biết những quan hệ nào đang tạo nên đời sống của nơi đó, và phương án sẽ làm chúng thay đổi ra sao.

Một cái cây khi ấy không chỉ có đường kính tán và tình trạng sinh trưởng; còn phải biết ai ngồi dưới nó. Vỉa hè không chỉ có chiều rộng; còn phải xem nó được chia sẻ giữa những người nào vào những thời điểm khác nhau. Một di tích không chỉ có hồ sơ lịch sử; còn có những thực hành và cộng đồng vẫn cần đến nó hôm nay.

Ở đây cũng xuất hiện câu hỏi về quyền lực. Không phải ký ức nào cũng được giữ lại, câu chuyện nào cũng được kể và nhóm người nào cũng có khả năng tiếp tục ở lại sau một cuộc chỉnh trang. Một nơi có thể đẹp hơn, giá trị đất đai tăng lên, khách du lịch đông hơn, trong khi những người từng góp phần tạo nên đời sống của nó lại dần biến mất.

6.

Quy hoạch có thể làm gì?

Có lẽ cần tiết chế một chút tham vọng của người thiết kế. Không thể biết một nơi sẽ mang ý nghĩa gì sau hai mươi năm. Nhưng có thể nhận ra những quan hệ đang tồn tại, những nhịp sống đang nuôi dưỡng chúng và những thứ một khi mất đi sẽ rất khó phục hồi. Từ đó mới quyết định cần can thiệp đến đâu. Cần xây thêm chỗ này, mở một kết nối chỗ kia. Có khi chỉ cần thay đổi cách vận hành. Cũng có thể, sau khi quan sát đủ kỹ, giải pháp hợp lý là giữ lại phần lớn những gì đang có.

Thành phố luôn còn một phần nằm ngoài dự tính của người thiết kế, bởi người sống trong đó sẽ tiếp tục sử dụng, thích nghi và để lại dấu vết của mình. Một người có thể gắn bó với một góc phố vì từng đứng đợi ai ở đó; với một hàng cây vì nhiều năm đi học vẫn đi dưới nó; với một quán nhỏ vì những người bạn từng ngồi quanh chiếc bàn ấy. Chẳng điều nào xuất hiện trong hồ sơ quy hoạch, nhưng nhiều năm sau, khi góc phố thay đổi, hàng cây bị chặt hay quán nhỏ đóng cửa, người ấy mới nhận ra một phần thành phố của mình vừa mất đi.

Ý nghĩa đô thị thường sinh thành như thế. Từ những quan hệ rất nhỏ, được đời sống lặp lại đủ lâu để trở thành ký ức. Một ngày nào đó, người ta bắt đầu gọi nơi ấy bằng một cách rất bình thường là chỗ của mình.

 

HÒN ĐÁ THỬ VÀNG CỦA MỘT KINH NGHIỆM TRI THỨC

Hòn đá thử vàng của một kinh nghiệm tri thức không chỉ nằm ở lượng thông tin được tiếp nhận hay chất lượng sản phẩm được tạo ra, mà ở việc nó làm thay đổi năng lực hiểu, định vị, phán đoán và hành động của chủ thể trước thế giới như thế nào.

  • François Jullien, khi dẫn Mạnh Tử, đã xem “lòng không nỡ” như một “hòn đá thử vàng” của đạo đức: tìm một điểm tựa đã hình thành bên trong chủ thể thay vì chỉ dựa vào những chuẩn mực đặt từ bên ngoài. Có thể mượn liên tưởng ấy để đặt một câu hỏi cho tri thức: sau một kinh nghiệm tri thức, điều gì thực sự thay đổi ở chủ thể đã trải qua nó?
  • Não học cung cấp một nền tảng vật chất thú vị cho câu hỏi này. Học và ghi nhớ gắn với tính dẻo thần kinh: các kết nối có thể được tăng cường, suy yếu và tái tổ chức. Nhưng biến đổi thần kinh chưa đồng nghĩa với tri thức. Một định kiến, quảng cáo hay nỗi sợ cũng có thể để lại dấu vết bền vững. Vì vậy, không thể lấy sự thay đổi của bộ não tự nó làm tiêu chuẩn cho giá trị của một kinh nghiệm tri thức.
  • Cũng không nên hình dung quá trình hình thành tri thức như một chuỗi tuyến tính tất yếu. Có thể dùng thông tin ghi nhớ liên kết tái cấu trúc sinh thành như một sơ đồ gợi ý, nhưng thực tế nhận thức có thể quanh co, đứt gãy, quên rồi nhớ lại, được tái diễn giải nhiều lần. Tri thức cũng tồn tại dưới nhiều dạng: tri thức có thể diễn đạt, tri thức thao tác, tri thức ngầm, những hiểu biết được bảo tồn và truyền lại mà không nhất thiết phải dẫn ngay tới một nhận thức mới.
  • Vì vậy, khả năng sinh thành không phải điều kiện bắt buộc để một cái biết được gọi là tri thức. Nhưng nó vẫn là một dấu hiệu mạnh cho thấy tri thức đã tham gia sâu vào cấu trúc nhận thức: từ cái đã biết, chủ thể có thể nhìn thấy quan hệ mới, nhận ra trường hợp mới, đặt câu hỏi mới hoặc hình thành một cách hiểu trước đó chưa có.
  • Một biểu hiện đặc biệt đáng chú ý của khả năng ấy là phát hiện vấn đề. Tri thức có thể làm thay đổi không chỉ những câu trả lời một người có thể đưa ra, mà cả những gì người ấy có khả năng nhận ra là đáng chú ý, bất thường hay cần được giải thích. Đứng trước cùng một thực tại nhưng bắt đầu nhìn thấy những vấn đề trước đây chưa nhìn thấy là một bằng chứng thực hành khá mạnh cho sự thay đổi của cấu trúc nhận thức.
  • Khả năng này không hình thành từ khoảng trống. Nền tảng giáo dục tạo ra các khả năng phân biệt; vốn văn hóa mở rộng trường liên tưởng; tri thức nền giúp nhận ra tương hợp và bất thường; kinh nghiệm thực hành tạo ra những trực giác khó quy hết thành mệnh đề. Mỗi cá nhân lại có một lịch sử riêng của thân thể, ký ức, nghề nghiệp, những cuộc gặp, thành công, thất bại, ham muốn và môi trường văn hóa. Các lớp ấy chồng lấn và va chạm với nhau, khiến cùng một sự vật có thể trở thành vấn đề đối với người này nhưng hoàn toàn bình thường đối với người khác.
  • Tuy nhiên, lịch sử sống của con người không phải là bảo chứng cho giá trị nhận thức của tri thức. Một câu hỏi toán học do AI sinh ra không kém giá trị chỉ vì AI không có tuổi thơ, ham muốn hay mất mát. Cần phân biệt hai chuyện: giá trị nhận thức của một ý tưởngý nghĩa của ý tưởng ấy đối với một chủ thể. Một ý tưởng có thể có giá trị độc lập với nguồn gốc của nó; lịch sử sống chỉ giúp giải thích vì sao nó trở nên hệ trọng, gợi mở hoặc có khả năng biến đổi một con người cụ thể.
  • Bởi vậy cũng không nên dựng một phòng tuyến rằng con người hơn AI vì “biết sáng tạo”, “biết phát hiện vấn đề” hay “biết đặt câu hỏi”. AI hoàn toàn có thể ngày càng giỏi trong tất cả những việc ấy. Câu hỏi đáng quan tâm hơn không phải là tìm một năng lực cuối cùng mà con người mãi mãi độc quyền, mà là con người sẽ quan hệ như thế nào với một hệ thống nhận thức có thể thực hiện ngày càng nhiều thao tác trí tuệ từng được xem là đặc trưng của mình.
  • AI trước hết đang cường hóa rất mạnh khả năng tiếp cận và xử lý tri thức. Một câu hỏi từng cần nhiều ngày tìm kiếm có thể được khảo sát sơ bộ trong vài phút; một giả thuyết có thể nhanh chóng được đối chiếu với nhiều quan điểm và phản chứng. Con người có thể đi qua nhiều vòng hỏi → trả lời → kiểm chứng → hỏi tiếp hơn trước rất nhiều. Đây là một mở rộng thực sự của năng lực nhận thức, không nên chỉ nhìn như một nguy cơ.
  • Nhưng sự mở rộng ấy cũng làm xuất hiện một khả năng khác. AI có thể tạo ra những cấu trúc tri thức mà một cá nhân không thể nội hóa hoàn toàn; xa hơn nữa, có thể xuất hiện những hệ thống suy luận mà giới hạn sinh học của con người khiến chúng ta không thể hiểu toàn bộ theo cách AI vận hành chúng. Khi đó, tiêu chuẩn “sau cùng trong đầu con người còn lại cái gì?” trở nên quá hẹp.
  • Thực ra tri thức của loài người từ lâu đã vượt khỏi khả năng của từng cá nhân. Không ai nội hóa toàn bộ tri thức cần thiết để chế tạo một máy bay, vận hành hệ thống điện hay duy trì nền y học hiện đại. Tri thức được phân bố giữa con người, sách vở, thiết bị, tổ chức và thiết chế. Điểm mới đáng kể của AI là những thành phần bên ngoài con người không còn chỉ lưu giữ tri thức mà ngày càng có khả năng thao tác, suy luận và sinh thành tri thức.
  • Vì vậy, mô hình chủ thể → sở hữu tri thức có lẽ cần được mở rộng thành chủ thể ↔ hệ thống nhận thức mở rộng ↔ tri thức. Một phần cái biết nằm trong đầu người; một phần nằm trong cộng đồng và thiết chế; một phần nằm trong máy móc; và ngày càng nhiều năng lực nhận thức có thể nằm trong chính quan hệ giữa những thành phần ấy.
  • Tranh luận gần đây trong cộng đồng toán học làm hiện rõ vấn đề này. Khi AI ngày càng có khả năng giải những bài toán rất khó, nhiều nhà toán học hàng đầu nhắc lại rằng việc giải được một bài toán không bao quát toàn bộ mục đích của toán học. Toán học còn là việc hình thành khái niệm, nhìn thấy cấu trúc, xây dựng lý thuyết, kết nối những miền hiểu biết và mở ra những câu hỏi mới. Nhưng cũng phải để ngỏ một khả năng khó hơn: AI có thể tạo ra tri thức toán học có giá trị mà không một cá nhân nào hiểu được trọn vẹn.
  • Khi đó, vấn đề không còn là buộc mọi tri thức phải được con người nội hóa. Một tri thức vẫn có thể đúng, hữu ích và có sức sinh thành dù vượt quá khả năng hiểu đầy đủ của từng cá nhân. Hòn đá thử vàng vì thế phải dịch chuyển từ mức độ sở hữu tri thức sang chất lượng quan hệ của chủ thể với tri thức.
  • Một người có thể không hiểu toàn bộ một hệ thống nhưng vẫn cần biết mình đang dựa vào cái gì: bằng chứng của nó mạnh đến đâu, giới hạn ở đâu, có thể thất bại theo cách nào, khi nào cần nghi ngờ, kết quả ấy liên quan thế nào tới vấn đề đang giải quyết và trách nhiệm đối với quyết định cuối cùng thuộc về ai. Biết sử dụng, biết giới hạn của cái mình sử dụng và biết mình không biết gì cũng là những năng lực nhận thức quan trọng.
  • Theo cách nhìn này, việc ủy quyền nhận thức cho AI không tự nó là một sự suy thoái. Phân công lao động trí tuệ vốn là điều kiện của văn minh. Trong thực tế nghề nghiệp, khoa học và đời sống, con người luôn dựa vào tri thức và năng lực của người khác cũng như những công cụ mình không hoàn toàn hiểu. Áp lực thời gian và hiệu suất còn khiến việc giao cho AI phát hiện bất thường, tìm kiếm khả năng hay đề xuất câu hỏi trở thành một lựa chọn hợp lý.
  • Vấn đề vì thế không phải có ủy quyền hay không, mà là ủy quyền cái gì, trên căn cứ nào, giữ lại khả năng kiểm soát nào và ai chịu trách nhiệm về hậu quả. Ranh giới cần quan tâm không đơn giản nằm giữa “AI giúp con người nhìn” và “AI nhìn thay con người”, mà nằm ở mức độ con người còn có khả năng định vị chính mình trong một hệ thống nhận thức ngày càng vượt quá năng lực của từng cá nhân.
  • Ngay cả khả năng phát hiện vấn đề cũng cần được hiểu lại theo cách này. AI có thể phát hiện một bất thường mà không con người nào từng nhận thấy, thậm chí đề xuất câu hỏi tốt hơn câu hỏi của con người. Nhưng từ hàng triệu quan hệ và khả năng có thể được phát hiện, xã hội vẫn phải đối diện với những vấn đề khác: điều gì đáng theo đuổi, nguồn lực nên dành cho đâu, rủi ro nào có thể chấp nhận, tri thức ấy sẽ được dùng vào việc gì và hậu quả của nó đối với đời sống là gì. AI cũng có thể tham dự vào những câu hỏi này; không cần tuyên bố chúng là độc quyền vĩnh viễn của con người. Nhưng tri thức tự nó không tự quyết định được toàn bộ mục đích và trật tự giá trị của việc sử dụng chính nó.
  • Vì vậy, “hòn đá thử vàng” ban đầu vẫn có thể được giữ ở một nghĩa hẹp: một dấu hiệu mạnh của kinh nghiệm tri thức là nó làm thay đổi những gì con người có khả năng nhìn thấy, suy nghĩ và sinh thành. Nhưng trong điều kiện AI, cần thêm một nghĩa rộng hơn: một kinh nghiệm tri thức có giá trị khi nó làm thay đổi năng lực của chủ thể trong việc hiểu, định vị, phán đoán và hành động trước thế giới, kể cả khi một phần tri thức mà chủ thể dựa vào không thể được nội hóa hoàn toàn.
  • Điều cần bảo vệ trước AI, vì vậy, không nhất thiết là từng thao tác trí tuệ mà con người từng độc quyền thực hiện. Những phòng tuyến như “AI không thể giải toán”, “AI không thể sáng tạo” hay “AI không thể đặt câu hỏi” đều có thể lần lượt mất đi. Điều đáng quan tâm hơn là con người còn giữ và phát triển được khả năng thiết lập một quan hệ có hiểu biết, có phán đoán và có trách nhiệm với một hệ sinh thái trí tuệ ngày càng lớn hơn chính mình hay không.
  • Câu hỏi cuối cùng vì thế cũng thay đổi. Không chỉ là: sau nhiều năm sống cùng AI, con người có nhìn thấy nhiều hơn và hỏi được sâu hơn không? Mà rộng hơn: khi trí tuệ của thế giới ngày càng vượt khỏi giới hạn của từng cá nhân, con người sẽ trở thành loại chủ thể nào trong quan hệ với một thế giới biết nhiều hơn chính mình?

Tri thức có thể ngày càng vượt khỏi khả năng nội hóa của từng con người. Điều đó không nhất thiết làm giảm giá trị của tri thức, cũng không nhất thiết làm giảm giá trị của con người. Nhưng nó buộc phải nhìn lại một giả định đã tồn tại rất lâu: rằng hiểu biết của con người và biên giới của tri thức cuối cùng phải trùng nhau. Có lẽ trong thời đại AI, học cách sống, phán đoán và hành động có trách nhiệm trong quan hệ với những cái biết vượt khỏi chính mình cũng sẽ trở thành một phần của năng lực hiểu biết.

 


Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Chủ nhiệm quy hoạch: từ năng lực thiết kế đến năng lực tổ chức tình thế - 12 PHẨM CHẤT VÀ KĨ NĂNG CẦN THIẾT

 

Trong thực hành nghề nghiệp, chủ nhiệm quy hoạch đôi khi được hình dung như một kiến trúc sư làm việc ở quy mô lớn hơn: thay vì tổ chức một công trình hay khuôn viên, họ tổ chức một khu đô thị, một khu chức năng hay một vùng lãnh thổ. Cách hình dung này chỉ đúng một phần. Quy mô lớn hơn làm tăng số lượng đối tượng phải xử lý, nhưng sự khác biệt căn bản của quy hoạch nằm ở chỗ đối tượng thiết kế không còn chỉ là không gian mà là một tình thế phát triển phức hợp.

Trong một đồ án quy hoạch, địa hình, cảnh quan, dân cư, giao thông và công trình chỉ là phần hữu hình. Cùng tác động lên phương án còn có pháp luật, chính sách, quyền sở hữu, thị trường, nguồn vốn, lịch sử, văn hóa, lợi ích cộng đồng, năng lực quản trị, các dự án đã và đang triển khai cùng những kỳ vọng khác nhau về tương lai. Mỗi lĩnh vực lại có chuyên gia, hệ tri thức và tiêu chuẩn đánh giá riêng. Nhiều yêu cầu trong số đó không những không đồng nhất mà còn trực tiếp xung đột.

Bởi vậy, năng lực cốt lõi của một chủ nhiệm quy hoạch không thể quy giản thành khả năng tạo ra một phương án không gian tốt. Đó là năng lực nhận diện đúng tình thế, tổ chức tri thức liên ngành, xác lập trật tự ưu tiên, điều phối các xung lực khác nhau và cuối cùng chuyển toàn bộ quá trình ấy thành những quyết định không gian có thể lập luận, phê duyệt và thực hiện.

1.

Định nghĩa bài toán trước khi giải bài toán

Một trong những khác biệt quan trọng giữa người thực hiện kỹ thuật và người chủ nhiệm nằm ở khả năng đặt lại vấn đề. Nhiệm vụ quy hoạch thường đã xác định phạm vi, mục tiêu, tính chất và các yêu cầu nghiên cứu. Tuy nhiên, đó mới là đầu bài về pháp lý và quản lý. Khi nghiên cứu bắt đầu, có thể phát hiện ranh giới hành chính không trùng với phạm vi tác động thực tế; một vấn đề giao thông thực chất bắt nguồn từ cấu trúc sử dụng đất; một khu vực được định hướng phát triển du lịch nhưng thiếu động lực tạo dòng khách; hay đối tượng cần bảo tồn không phải một công trình riêng lẻ mà là toàn bộ cấu trúc cảnh quan và văn hóa đã sản sinh ra công trình ấy.

Do đó, công việc đầu tiên chưa hẳn là tìm giải pháp mà là kiểm tra: bài toán được giao có thực sự là bài toán cần giải hay không? Điều này đòi hỏi người chủ nhiệm phải chịu được một giai đoạn bất định tương đối dài. Cần có khả năng giữ đồng thời nhiều giả thuyết, không yêu quá sớm một phương án và đặc biệt không biến quá trình nghiên cứu thành việc thu thập bằng chứng cho một ý tưởng đã được lựa chọn trước. Đây trước hết là một kỷ luật nhận thức.

2.

Nhìn lãnh thổ như một trường quan hệ

Quy hoạch không chỉ làm việc với các đối tượng mà chủ yếu làm việc với quan hệ giữa các đối tượng. Một tuyến giao thông mới không đơn thuần là một đường trên bản đồ. Nó có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận, giá đất, cấu trúc thương mại, hướng phát triển dân cư và áp lực lên môi trường. Một nhà ga có thể hình thành cực phát triển mới. Một dòng sông vừa là cấu trúc sinh thái, hành lang thoát lũ, cảnh quan, nguồn lực du lịch, ranh giới tự nhiên và ký ức văn hóa. Một di tích vừa đặt ra giới hạn bảo tồn vừa có thể trở thành nguồn lực nhận diện và phát triển của đô thị.

Khả năng nhìn thấy các quan hệ này có thể gọi là năng lực đọc thế của một lãnh thổ. Nhưng “thế” trong quy hoạch không chỉ là thế đất hay hình thế không gian. Những lực quan trọng nhất đôi khi hoàn toàn vô hình: một quy định pháp luật, một chủ trương đầu tư, quyền sử dụng đất, năng lực ngân sách, tâm lý thị trường, ký ức cộng đồng, dư luận xã hội hay quyền quyết định của một cơ quan quản lý đều có thể làm thay đổi số phận của một phương án.

Người chủ nhiệm vì vậy phải nhận biết không chỉ có những lực nào mà còn tương quan giữa chúng ra sao: lực nào là điều kiện cứng, lực nào có thể thương lượng, lực nào đang mạnh nhưng chỉ có tính ngắn hạn, lực nào hiện còn yếu nhưng có thể quyết định cấu trúc phát triển trong vài thập niên tới. Khi đó tư duy không gian chuyển thành tư duy chiến lược.

3.

Biết rộng để có thể sử dụng tri thức chuyên sâu

Quy hoạch ngày càng trở thành một hoạt động liên ngành. Một đồ án có thể đồng thời cần kiến thức về giao thông, kinh tế, xã hội học, môi trường, thủy văn, địa chất, hạ tầng, văn hóa, lịch sử, pháp luật, bất động sản và tài chính dự án.

Không một chủ nhiệm nào có thể trở thành chuyên gia đầu ngành trong tất cả các lĩnh vực ấy. Yêu cầu thực tế hơn nhưng cũng khó hơn là phải biết đủ để sử dụng chuyên gia. Người chủ nhiệm cần hiểu một kết quả nghiên cứu chuyên ngành đang dựa trên những giả định nào, mức độ chắc chắn đến đâu, kết luận nào có ý nghĩa trực tiếp đối với quy hoạch và câu hỏi nào cần đặt tiếp. Không nhất thiết tự xây dựng mô hình thủy lực nhưng phải biết một kết luận về ngập lụt đang dựa trên chu kỳ nào, kịch bản nào và dẫn đến giới hạn sử dụng đất nào. Không nhất thiết tự xây dựng mô hình tài chính nhưng phải nhận biết một dự án có nguồn thu, chi phí đầu tư và điều kiện thị trường cơ bản ra sao.

Năng lực liên ngành vì vậy không đồng nghĩa với biết nhiều kiến thức rời rạc. Quan trọng hơn là khả năng nhận biết giá trị và giới hạn của từng loại tri thức đối với quyết định quy hoạch.

Phiên dịch giữa những ngôn ngữ chuyên môn

Mỗi chuyên ngành nhìn cùng một lãnh thổ bằng một hệ quy chiếu khác nhau. Kỹ sư giao thông quan tâm đến lưu lượng và năng lực mạng lưới. Nhà sinh thái nhìn hệ sinh cảnh và khả năng chịu tải. Nhà kinh tế quan tâm đến hiệu quả phân bổ nguồn lực. Nhà bảo tồn đặt câu hỏi về tính xác thực và toàn vẹn. Nhà đầu tư tính toán khả năng sinh lời. Chính quyền phải cân nhắc mục tiêu phát triển, nguồn ngân sách và khả năng quản trị. Người dân lại nhìn vấn đề từ sinh kế, tài sản và chất lượng sống hàng ngày.

Chủ nhiệm quy hoạch đứng ở nơi những ngôn ngữ ấy gặp nhau. Công việc của họ không dừng ở việc tập hợp báo cáo chuyên ngành. Một kết quả nghiên cứu phải được chuyển qua ít nhất ba bước:

Thông tin chuyên ngành → ý nghĩa đối với quy hoạch → quyết định không gian.

Một đồ án có thể có rất nhiều nghiên cứu nhưng vẫn yếu nếu những tri thức ấy chỉ nằm cạnh nhau trong thuyết minh. Giá trị của chủ nhiệm nằm ở khả năng làm chúng tác động lẫn nhau và cuối cùng hội tụ vào một cấu trúc chung. Nói cách khác, phân tích có thể phân công, tổng hợp thì khó phân công.

4.

Phán đoán và thiết lập trật tự giá trị

Các yêu cầu trong quy hoạch hiếm khi có thể đồng thời được tối đa hóa. Tăng diện tích kinh doanh có thể làm giảm không gian công cộng. Một tuyến đường cải thiện kết nối nhưng có thể chia cắt cộng đồng hoặc phá vỡ cảnh quan. Mật độ cao giúp tăng hiệu quả sử dụng hạ tầng nhưng làm tăng áp lực môi trường. Bảo tồn nghiêm ngặt có thể xung đột với sinh kế và nhu cầu phát triển.

Trong những tình huống ấy, khẩu hiệu “hài hòa các lợi ích” không đủ để tạo ra quyết định. Chủ nhiệm phải xác định: điều gì là điều kiện tiên quyết, điều gì có thể thương lượng, điều gì có thể bù đắp, giá trị nào phải được ưu tiên và cái gì cần được để dành cho những khả năng tương lai chưa xuất hiện. Trật tự ấy không thể chỉ dựa vào sở thích cá nhân. Nó phải được xây dựng từ bằng chứng khoa học, pháp luật, mục tiêu chính sách, đặc điểm nơi chốn, nhu cầu xã hội và khả năng thực hiện. Đây chính là địa hạt của phán đoán nghề nghiệp: phần công việc khó được thay thế hoàn toàn bằng tiêu chuẩn, quy trình hay phép tính tối ưu.

5.

Thiết kế không gian vẫn là năng lực không thể thiếu

Việc nhấn mạnh tính liên ngành không làm giảm vai trò của năng lực thiết kế. Cuối cùng, rất nhiều quan hệ trừu tượng vẫn phải được chuyển thành một cấu trúc vật chất cụ thể: mạng lưới giao thông, phân bố chức năng, mật độ, tầng cao, khoảng trống, cảnh quan, tuyến, điểm, ranh giới và danh mục dự án.

Nhưng thiết kế quy hoạch không nên được hiểu đơn thuần là tạo hình đẹp trên bản đồ. Một nét vẽ có thể kéo theo hàng loạt hệ quả về đất đai, giao thông, giải phóng mặt bằng, giá trị bất động sản, đầu tư hạ tầng và cấu trúc phát triển nhiều thập niên. Một màu sử dụng đất không chỉ là ký hiệu đồ họa mà là một quyết định phân bổ quyền phát triển. Theo nghĩa đó: Vẽ quy hoạch là vẽ hệ quả. Năng lực thiết kế của chủ nhiệm nằm ở khả năng nhìn một cấu trúc không gian đồng thời với những chuỗi hệ quả mà cấu trúc ấy có thể kích hoạt.

6.

Từ phương án tối ưu đến cấu trúc có khả năng thích nghi

Khác với một công trình chuẩn bị được xây dựng, quy hoạch chủ yếu làm việc với tương lai chưa xảy ra. Dự báo dân số có thể sai. Tuyến hạ tầng dự kiến có thể chậm. Nhà đầu tư chiến lược có thể không xuất hiện. Một ngành kinh tế được kỳ vọng có thể suy giảm. Công nghệ có thể làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất. Bởi vậy, tư duy quy hoạch cần chuyển từ việc tìm một tương lai duy nhất sang xây dựng và kiểm tra các kịch bản.

Nếu một dự án động lực không được thực hiện thì cấu trúc còn vận hành không? Nếu dân số chỉ đạt 70% dự báo thì đầu tư hạ tầng có trở nên lãng phí? Nếu nguồn vốn công hạn chế thì phần nào phải làm trước? Nếu điều kiện thị trường thay đổi thì những khu vực nào có khả năng chuyển đổi? Một phương án mạnh không nhất thiết là phương án tối ưu trong một kịch bản duy nhất. Nó cần chứa những quyết định nền tảng vẫn hợp lý trong nhiều khả năng tương lai khác nhau – qua đó mang được độ bền chiến lược của quy hoạch.

7.

Thương lượng là một phần của chuyên môn

Quy hoạch phân bổ không gian, nguồn lực và cơ hội phát triển nên tất yếu liên quan đến lợi ích. Vì vậy, kỹ năng thương lượng không phải phần việc hành chính bên ngoài thiết kế mà là một năng lực nghề nghiệp. Người chủ nhiệm phải biết lắng nghe để phân biệt giữa ý kiến được phát biểu và lợi ích nằm phía sau ý kiến ấy; biết những yêu cầu nào có thể dung hòa và những giới hạn nào không nên vượt qua; biết khi nào cần thuyết phục bằng dữ liệu, khi nào bằng cấu trúc phương án và khi nào cần tìm một giải pháp thứ ba để các bên đều có thể tham gia.

Thương lượng không có nghĩa là chiều lòng tất cả. Mục tiêu là cho các xung lực hợp lý một vị trí thích đáng mà không để một xung lực đơn lẻ phá vỡ cấu trúc chung. Bởi vậy, khả năng viết, nói, trình bày, đặt câu hỏi, điều hành hội thảo và phản biện phải được xem như những kỹ năng chuyên môn của chủ nhiệm quy hoạch.

8.

Lập luận bằng đồ án

Một quyết định quy hoạch quan trọng không chỉ cần hợp lý mà phải có khả năng giải trình. Chuỗi lập luận cơ bản có thể hình dung như sau: Dữ liệu → nhận định → vấn đề hoặc giá trị → nguyên tắc xử lý → giải pháp → hệ quả. Nếu một mắt xích bị mất, giải pháp rất dễ trở thành ý chí chủ quan. Điều này giải thích tại sao năng lực viết có vai trò lớn đối với chủ nhiệm. Bản vẽ và thuyết minh không phải hai sản phẩm tách biệt: chúng là hai phương thức biểu đạt của cùng một lập luận.

Trong các đồ án có nhiều cấp thẩm định, năng lực này càng quan trọng. Mỗi chuyên gia có thể kiểm tra phương án từ một hệ tri thức khác nhau. Hồ sơ phải đủ chặt chẽ để những chuỗi lập luận chuyên ngành khác nhau cuối cùng cùng dẫn đến một cấu trúc quy hoạch có thể bảo vệ được.

9.

Hiểu cấu trúc quyền lực của quyết định

Quy hoạch liên quan trực tiếp đến đất đai, đầu tư và phân bổ nguồn lực. Vì vậy nó không tồn tại bên ngoài quyền lực. Người chủ nhiệm cần biết ai có quyền quyết định, ai có quyền phủ quyết, ai cung cấp nguồn lực, ai được hưởng lợi, ai phải chịu chi phí và đặc biệt ai chịu tác động nhưng không có tiếng nói tương xứng trong quá trình lập quy hoạch.

Hiểu quyền lực không đồng nghĩa với chính trị hóa hoạt động chuyên môn. Ngược lại, nhận thức được cấu trúc quyền lực là điều kiện để bảo vệ tính chuyên môn khỏi sự ngây thơ. Một phương án có thể rất tốt trên bản vẽ nhưng hoàn toàn không khả thi về thể chế. Ngược lại, một yêu cầu có quyền lực hậu thuẫn cũng không mặc nhiên trở thành một quyết định quy hoạch đúng. Chủ nhiệm phải làm việc trong khoảng căng giữa hai phía ấy.

10.

Trách nhiệm nghề nghiệp và giới hạn của sự thỏa hiệp

Quy hoạch hiếm khi đặt người làm nghề trước lựa chọn đơn giản giữa đúng và sai. Thường gặp hơn là những phương án đều chứa cả lợi ích và tổn thất. Do đó, đạo đức nghề nghiệp cần được hiểu theo nghĩa thực tế hơn: luôn nhận biết ai đang trả giá cho một quyết định và giá trị nào đang không có người đại diện. Một cộng đồng yếu thế có thể không hiện diện trong cuộc họp. Một hệ sinh thái không thể tự phát biểu. Một cảnh quan lịch sử không có quyền sở hữu nhưng có thể bị mất vĩnh viễn. Lợi ích của những thế hệ tương lai càng không có đại diện trực tiếp.

Tuy nhiên, trách nhiệm nghề nghiệp cũng không đồng nghĩa với việc lựa chọn những lý tưởng không thể thực hiện. Một phương án không có nguồn lực, không có cơ chế triển khai và không thích nghi được với điều kiện kinh tế – xã hội thực tế rất khó tạo ra giá trị lâu dài. Khả năng thực hiện cũng là một phần của trách nhiệm.

11.

Chủ nhiệm như người tổ chức trí tuệ tập thể

Một đồ án quy hoạch lớn có thể huy động hàng chục chuyên gia và một lượng dữ liệu vượt xa khả năng xử lý sâu của bất kỳ cá nhân nào. Bởi vậy, chủ nhiệm không nhất thiết phải là người biết nhiều nhất trong từng lĩnh vực. Năng lực quan trọng hơn là làm cho trí tuệ của tập thể lớn hơn tổng số những báo cáo chuyên ngành. Quá trình ấy gồm một chuỗi công việc: đặt đúng câu hỏi, lựa chọn đúng chuyên gia, giao đúng bài toán, nhận biết kết quả nào thực sự quan trọng, phát hiện mâu thuẫn giữa các chuyên ngành, tổ chức đối thoại, tổng hợp và cuối cùng chịu trách nhiệm quyết định.

Có thể hình dung cấu trúc năng lực của một chủ nhiệm quy hoạch theo chuỗi:

Quan sát → đặt vấn đề → tư duy hệ thống → huy động tri thức liên ngành → tổng hợp → phán đoán → thiết kế không gian → lập luận → thương lượng → quyết định → tổ chức thực hiện → phản tỉnh.

Phía dưới chuỗi kỹ năng ấy là ba phẩm chất khó hình thành bằng những khóa đào tạo ngắn hạn: sự tò mò đủ lớn để bước sang những lĩnh vực chưa biết; sự khiêm tốn để nhận ra lúc nào phải nghe người hiểu sâu hơn mình; và bản lĩnh để sau khi đã nghe nhiều phía vẫn có thể đưa ra một quyết định và chịu trách nhiệm về nó.

12.

Một nghề tổ chức tương lai

Nếu kiến trúc thường bắt đầu bằng câu hỏi không gian nào nên được tạo ra, quy hoạch phải đi ngược thêm vài bước: tình thế thực sự là gì; những lực nào đang tạo nên nó; điều gì đáng được ưu tiên; những tương lai nào có thể xảy ra; tương lai nào đáng được thúc đẩy; và cấu trúc không gian nào có khả năng khiến tương lai ấy trở nên khả thi? Theo cách hiểu này, chủ nhiệm quy hoạch không chỉ là nhà thiết kế, cũng không phải nhà quản lý tập hợp các chuyên ngành. Họ đứng ở vị trí trung gian giữa tri thức và quyết định, giữa không gian và chính sách, giữa những lợi ích hiện tại và những hệ quả dài hạn. Sản phẩm quan trọng nhất vì thế chưa chắc là một bản vẽ đẹp. Đó là khả năng biến một tình thế vốn chứa nhiều dữ liệu rời rạc, lợi ích xung đột và tương lai bất định thành một trật tự có thể hiểu, có thể tranh luận, có thể quyết định và cuối cùng có khả năng trở thành hiện thực. Ở cấp độ ấy, quy hoạch không còn đơn thuần là nghề bố trí không gian. Nó là một nghề tổ chức những điều kiện để tương lai có thể xảy ra.

 

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

THỜI GIAN CÓ VẺ KHÔNG QUAN TÂM LẮM ĐẾN LÝ LỊCH

“Ký ức bám rễ vào cái cụ thể, vào không gian, cử chỉ, hình ảnh và đồ vật.” 

(Những di chỉ của ký ức Pierre Nora, Nxb Tri Thức, 2009)

 

Quanh Hồ Gươm đang có nhiều ý tưởng muốn làm cho lịch sử trở nên rõ ràng hơn: nối những biểu tượng thành trục, mở thêm những tầm nhìn, gọi lại một ngôi chùa đã mất, và cuối cùng đặt thêm một Khải Hoàn Môn để câu chuyện có đầu có cuối. Ý tưởng nghe khá mạch lạc. Chỉ có lịch sử Hồ Gươm hình như từ trước đến nay lại không có thói quen sống mạch lạc như vậy.

Chuyện nổi tiếng nhất đương nhiên là vua Lê trả gươm cho Rùa thần. Nhưng câu chuyện chúng ta thuộc lòng hôm nay bản thân cũng là kết quả của một quá trình kể lại và bồi đắp lâu dài. Còn Tháp Rùa, thứ ngày nay gần như không thể tách khỏi trường nghĩa Lê Lợi – gươm thần – Rùa Vàng, lại là công trình cuối thế kỷ XIX. Sinh sau sự kiện được kể vài trăm năm, chẳng họ hàng trực tiếp gì, nhưng ở với nhau lâu ngày rồi cũng thành người một nhà. Thời gian có vẻ không quan tâm lắm đến lý lịch.

Bờ tây hồ cũng vậy. Khu vực Nhà thờ Lớn gắn với dấu tích của chùa và tháp Báo Thiên nổi tiếng thời Lý, nhưng qua nhiều thế kỷ nơi này đã trải qua những biến đổi phức tạp trước khi Nhà thờ xuất hiện cuối thế kỷ XIX. Nếu chỉ xét nguồn gốc thì đây là một công trình Công giáo được dựng trong thời kỳ Hà Nội đang bị tái cấu trúc mạnh mẽ dưới quyền lực thuộc địa. Nhưng gần một thế kỷ rưỡi trôi qua, người Hà Nội đi lễ, đi chơi, hẹn hò, uống trà, chụp ảnh cưới, nghe chuông nhà thờ và quen với bóng dáng nó trong thành phố. Một công trình từng thuộc về một cuộc thay đổi trật tự không gian nay lại trở thành một phần của “Hà Nội xưa”. Thời gian không hỏi giấy khai sinh.

Gần đó là tượng vua Lê. Vua thuộc thế kỷ XV, tượng thuộc cuối thế kỷ XIX và việc dựng tượng lại gắn với Hoàng Cao Khải, một nhân vật mà lý lịch chính trị đặt cạnh Lê Lợi tạo ra một tổ hợp khá khó giải thích nếu ta cứ nhất quyết đòi các biểu tượng phải thống nhất về tư tưởng. Một nhân vật quan trọng của bộ máy bản xứ trong trật tự thuộc địa góp phần dựng tượng vị vua đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ phương Bắc, ngay cạnh cái hồ đang ngày càng được gắn chặt với huyền thoại trả gươm. Tượng thì không phải làm bản tự khai.

Sang phía đông hồ lại gặp chùa Báo Ân. Ngôi chùa lớn được Nguyễn Đăng Giai đứng ra xây dựng giữa thế kỷ XIX, nhưng ngay người đương thời cũng đã có những lời châm biếm khá cay nghiệt về việc huy động nguồn lực để xây chùa. Người Pháp đến, phần lớn chùa bị phá; thành phố hiện đại tiếp tục viết lên khu vực ấy bằng Điện lực, Bưu điện, công sở, ngân hàng, phố thương mại và những thiết chế mới. Hơn một thế kỷ sau, chùa đã mất bỗng được nhớ đến như một lớp lịch sử cần “gợi nhắc”, trong khi một số thứ đã thực sự đứng đó hơn trăm năm lại có nguy cơ bị xem đơn giản là công trình hiện trạng. Cái còn có thể phá vì đã cũ; cái mất có thể xây mới vì là lịch sử. "Ngạ tử Đài thành Phật cứu ai?".

Mà những thứ trông kém phần lịch sử ấy đôi khi lại làm nên lịch sử nhiều hơn ta tưởng. Người Pháp không chỉ dựng mấy tòa nhà Tây quanh hồ. Thành phố mới còn có điện, bưu điện, nhà in, trường học, ngân hàng, bản đồ, thống kê, báo chí và một bộ máy công chức mới. Benedict Anderson từng chỉ ra vai trò của in ấn, giáo dục và hành chính trong việc tạo nên những cộng đồng quốc gia hiện đại: những người xa lạ bắt đầu đọc cùng một thứ tiếng, học những tri thức tương tự, nhìn cùng những bản đồ và tưởng tượng mình đang sống trong một thế giới chung. Trớ trêu thay, chính những công cụ của chế độ thuộc địa sau đó lại được người bản xứ chiếm dụng để nghĩ về quốc dân, lịch sử và tương lai của mình.

Quanh Hồ Gươm có gần đủ bộ. Đầu Hàng Đào có Đông Kinh Nghĩa Thục. Hàng Gai, Hàng Bông có nhà in, hiệu sách. Tràng Tiền có cơ sở in lớn. Bên hồ có Bưu điện, Điện lực; xa thêm chút nữa là các công sở, trường học, ngân hàng, nhà hát. Thành thử quanh nơi ngày nay chứa đặc quánh các biểu tượng về quốc gia từng tồn tại cả một phần hạ tầng sản xuất và lưu thông ý thức về quốc gia hiện đại. Những thứ ấy không chỉ được xây trong thành phố. Chúng tham gia làm ra một kiểu thành phố mới, một lớp người mới và một công chúng mới.

Câu chuyện đến thời chúng ta vẫn giữ được vẻ nhập nhằng ấy. Hội Kiến trúc sư Việt Nam từng đặt trụ sở ở 23 Đinh Tiên Hoàng, ngay khu vực phía bắc hồ hiện được đề xuất cải tạo mạnh. Hội vừa tổ chức đại hội tại Nhà hát Hồ Gươm, một công trình mới thuộc hệ thống thiết chế văn hóa – an ninh của thành phố. Cũng chính giới kiến trúc những ngày này đang tranh luận khá sôi nổi về đồ án đề xuất đặt một Khải Hoàn Môn trên phố Đinh Tiên Hoàng, không xa nơi Hội từng đặt trụ sở. Chẳng nên suy diễn gì từ những vòng nối ấy; chỉ có thể nói Hồ Gươm dường như rất có duyên khiến những con người, công trình và thiết chế của nhiều thời đại cứ gặp lại nhau theo những cách chẳng ai thiết kế trước.

Nhìn từ nhân học đô thị, chuyện ấy thực ra chẳng có gì bất thường. Biểu tượng không sinh ra một lần rồi đứng nguyên với một ý nghĩa. Người ta dựng nó, phá nó, kể lại về nó, quên nó, nhớ lại nó, chiếm dụng nó cho một mục đích khác; đôi khi còn đem nó ra đùa. Một công trình của quyền lực này có thể trở thành ký ức thân thuộc của cộng đồng khác. Một biểu tượng được dựng vì một lý do có thể vài thế hệ sau được yêu quý vì lý do hoàn toàn khác. Thành phố sống được chính bởi khả năng tiêu hóa những thứ không cùng lý lịch như thế.

Bởi vậy, có lẽ điều đáng ngại nhất không phải Hồ Gươm đang có quá nhiều lớp lịch sử. Cũng không phải các lớp ấy lộn xộn, thậm chí đôi khi trái khoáy với nhau. Đó chính là độ lùi của thời gian lịch sử.

Điều đáng ngại hơn là sau vài trăm năm con người xây, phá, kể, quên, nhớ và sống cùng nhau để tạo ra một mớ quan hệ rắc rối nhưng khá bền, một ngày chúng ta bỗng thấy chúng chưa đủ rõ. Thế là lấy thước nối Tháp Rùa với đền Ngọc Sơn, nối tiếp lên một Khải Hoàn Môn; mở Nhà thờ Lớn cho nhìn thẳng ra hồ; rồi tìm cách gọi lại một ngôi chùa đã biến mất.

Thời gian vốn không quan tâm lắm đến lý lịch. Có khi chỉ người làm quy hoạch mới sốt ruột muốn làm hộ nó một bản lý lịch cho ngay ngắn.