Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

TRẠCH TRƯ ĐÃ VIẾT MỤC THẦN KÝ NHƯ THẾ NÀO?

 


Phỏng đoán một phương pháp sáng tác từ những dấu vết lịch sử, văn hóa và tư tưởng trong tác phẩm

Đọc Mục Thần Ký, thỉnh thoảng người ta bắt gặp những dấu vết khá quen nằm dưới lớp vỏ của một thế giới hoàn toàn hư cấu. Long Hán, Xích Minh, Khai Hoàng vốn là những tên gọi có căn nguyên trong vũ trụ luận Đạo giáo; Khai Hoàng đồng thời là niên hiệu của Tùy Văn Đế, gắn với sự tái thống nhất Trung Quốc sau thời Nam–Bắc triều. Duyên Khang là niên hiệu cuối cùng của Hán Hiến Đế. Thập Thiên Tôn có thể gợi nhớ đến hình thế quyền lực của Thập Thường Thị cuối Đông Hán. Ở một lớp khác, Vân Thiên Tôn thấp thoáng nhân cách của Tôn Trung Sơn, Hỏa Thiên Tôn gợi Viên Thế Khải, Ngự Thiên Tôn mang chức năng của một thủy tổ văn minh kiểu Hiên Viên Hoàng Đế. Xa hơn nữa, Lăng Thiên Tôn với mái tóc rối, niềm say mê nghiên cứu vật chất và thời gian khiến người đọc liên tưởng đến Einstein; Nguyệt Thiên Tôn tàn tật, sở trường về không gian lại gợi Stephen Hawking.

Các phép đối chiếu ấy có độ tin cậy rất khác nhau và phần lớn khó có thể chứng minh là chủ ý của tác giả. Điều đáng chú ý là chúng thường chỉ đúng một phần. Một nhân vật có thể giống người thật về nhân cách nhưng không lặp lại tiểu sử; một cấu trúc quyền lực có thể gợi một thời đại lịch sử trong khi những người tham dự lại mang dấu vết của nhiều thời đại khác nhau. Càng cố lập một bảng tương ứng giữa lịch sử và tiểu thuyết, người đọc càng gặp nhiều ngoại lệ. Có lẽ vấn đề nằm ở chính cách đặt câu hỏi: Trạch Trư không nhất thiết dùng lịch sử như một bộ mật mã để người đọc giải, mà sử dụng những gì đã tích trầm trong lịch sử và văn hóa như vật liệu để dựng nên một thế giới khác.

Từ giả thuyết này có thể thử suy ngược về phương pháp sáng tác của Mục Thần Ký. Một trường thiên có quy mô và độ phức tạp như vậy khó hình thành hoàn toàn bằng cách viết tới đâu nghĩ tới đó. Phía sau nó hẳn phải có một đại cấu trúc tương đối rõ, nhưng cấu trúc ấy không chỉ gồm cốt truyện và hệ thống nhân vật. Trạch Trư dường như còn chuẩn bị lịch sử của thế giới, quá trình phát triển của tri thức và một số vấn đề đủ lớn để có thể tái xuất dưới những hình thức khác nhau trong suốt tác phẩm. Lịch sử và văn hóa cung cấp cho cái khung ấy những hình thế đã có chiều sâu; các lí niệm được chuyển hóa thành quan hệ, thiết chế và quy luật vận hành. Tuy nhiên, để một bộ tiểu thuyết mạng được viết liên tục trong thời gian dài còn giữ được sinh khí, cấu trúc ban đầu cũng phải chừa đủ khoảng trống cho sự ứng biến và những phát hiện nảy sinh trong chính quá trình viết.

Đại cấu trúc: không chỉ có lịch sử mà còn có lịch sử của tri thức

Mục Thần Ký không chỉ dựng một thế giới rộng mà còn đặt thế giới ấy vào một quá khứ rất dài. Long Hán, Xích Minh, Thượng Hoàng, Khai Hoàng, Duyên Khang nối tiếp và chồng lấn; những nhân vật thuộc các thời đại cách nhau hàng trăm nghìn năm vẫn có thể can thiệp vào hiện tại. Du hành thời gian khiến cấu trúc phức tạp hơn khi một sự kiện được kể như truyền thuyết ở phần đầu về sau trở thành nơi Tần Mục trực tiếp hiện diện, thậm chí sự hiện diện ấy lại góp phần tạo nên chính lịch sử mà anh từng được nghe kể.

Với một cấu trúc như vậy, tác giả gần như bắt buộc phải có từ khá sớm một dòng thời gian tổng thể, đi cùng sơ đồ quan hệ nhân vật, sự hình thành và tan rã của các thế lực, những lần thay đổi thân phận và các điểm giao cắt do xuyên thời gian tạo ra. Khó hơn việc kiểm soát sự kiện là kiểm soát tri thức. Ở mỗi thời điểm, nhân vật nào đã biết điều gì, hệ thống tu luyện đã phát triển tới đâu, phát hiện nào chưa thể xuất hiện và những tri thức nào đã bị thất truyền đều phải tương đối nhất quán. Một nhân vật từng gặp Tần Mục trong quá khứ phải mang kinh nghiệm ấy khi gặp anh ở tương lai; một hệ thống tu luyện ở thời kỳ sơ khai không thể vô tình sở hữu những thành quả chỉ được hậu thế sáng tạo.

Điều này cho thấy Mục Thần Ký không chỉ xây lịch sử của các thời đại mà còn xây lịch sử của tri thức. Thần thông ban đầu có thể được tiếp nhận như một năng lực huyền bí nhưng dần trở thành đối tượng có thể phân tích; công pháp từ bí truyền môn phái được đưa vào nghiên cứu; thuật số tham gia giải cấu thần thông; những hệ thống tu luyện tưởng như vốn có từ thiên địa hóa ra cũng do tiền nhân sáng tạo và vì thế có thể được hậu nhân sửa đổi. Đến những tầng cuối cùng, vật chất, ý thức, thời gian và cấu trúc vũ trụ đều được đưa vào phạm vi nhận thức. Mỗi nền văn minh vì vậy không chỉ có lãnh thổ, chính thể và hệ thống quyền lực mà còn có một trình độ nhận thức riêng về thế giới.

Duyên Khang nổi bật chính ở phương diện này. Sự khác biệt của nó không chỉ nằm ở một hoàng đế hay quốc sư có năng lực cải cách mà ở việc hình thành một cơ chế khiến tri thức có thể lưu chuyển và sinh trưởng. Học cung mở rộng việc truyền bá kiến thức, công xưởng gắn tri thức với chế tạo và sản xuất, thuật số giúp những thần thông từng được bao phủ bởi tính thần bí trở thành đối tượng có thể phân tích; quá trình giao lưu giữa các hệ thống tu luyện lại liên tục kéo những bí truyền cá biệt vào một không gian chung để so sánh và cải tiến. Vì thế Duyên Khang không đơn giản mạnh lên theo logic tích lũy sức mạnh quen thuộc của tiểu thuyết huyền huyễn. Bản thân phương thức sản xuất tri thức của nó đã thay đổi.

Phía dưới lịch sử ấy còn có một số vấn đề liên tục tái xuất. Quyền lực của thần có phải một thuộc tính tự nhiên hay chỉ là kết quả của một lịch sử nhất định; bí truyền có nhất thiết thuộc về một dòng truyền thừa; một hệ thống từng tiến bộ có thể trở thành lực cản của thời đại mới; một nền văn minh đóng kín có thể tiếp tục phát triển; những gì được gọi là thiên đạo và Đại Đạo có thực sự nằm ngoài khả năng nhận thức của con người? Phạm vi khảo sát mở dần từ môn phái đến quốc gia, Thiên Đình, Cổ Thần rồi toàn bộ vũ trụ, nhưng vẫn có một mạch tư tưởng tương đối ổn định: những gì đang được coi là tất yếu đều có thể được lần ngược về quá trình hình thành của chúng; một khi đã có lịch sử, chúng cũng có khả năng được nhận thức và biến đổi. Có lẽ đại cấu trúc của Mục Thần Ký được dựng không chỉ bằng các biến cố mà còn bằng một số câu hỏi nguồn như vậy.

Lịch sử như kết cấu chịu lực

Nếu chỉ cần tạo màu sắc cổ xưa, Trạch Trư không nhất thiết phải sử dụng lịch sử theo cách phức tạp đến thế. Một tác giả fantasy hoàn toàn có thể phát minh niên hiệu, triều đại, chiến tranh và thần thoại mới. Nhưng vật liệu hoàn toàn mới chưa có trầm tích văn hóa, trong khi một tên gọi hay hình thế đã tồn tại lâu trong lịch sử thường mang theo những quan hệ ý nghĩa mà tác giả không cần xây dựng lại từ đầu.

Khai Hoàng là một ví dụ. Trong Đạo giáo, tên gọi này đã có chiều sâu vũ trụ luận; trong lịch sử Trung Quốc, nó đồng thời là niên hiệu của Tùy Văn Đế, gắn với việc thống nhất đất nước sau nhiều thế kỷ phân liệt. Khi Mục Thần Ký đặt Khai Hoàng sau những thời đại Thượng Hoàng phân chia Bắc–Nam, người đọc biết lịch sử Trung Hoa có thể nhận ra một nhịp điệu quen thuộc của phân liệt, tranh chấp chính thống và tái thống nhất. Không cần cho rằng Bắc–Nam Thượng Hoàng là một bản sao của Nam–Bắc triều hay Khai Hoàng chính là nhà Tùy. Điều được sử dụng có thể chỉ là một hình thế đã từng vận hành trong lịch sử.

Duyên Khang còn cho thấy rõ hơn cách một vật liệu cũ có thể được tái tạo trong cấu trúc mới. 延康 mang nghĩa gần với việc kéo dài sự an trị, nhưng trong lịch sử lại là niên hiệu cuối cùng của Hán Hiến Đế năm 220, xuất hiện đúng vào thời điểm Đông Hán không còn khả năng kéo dài. Trạch Trư dùng cái tên ấy cho một nền văn minh mà đặc tính nổi bật là liên tục tự cải cách. Nếu sự lựa chọn này có chủ ý, nghĩa của niên hiệu và số phận lịch sử của nó đã được đặt vào một quan hệ nghịch đảo khá tinh tế: sự trường tồn không còn dựa trên việc bảo tồn nguyên trạng mà trên khả năng liên tục thay đổi để duy trì sức sống. Duyên Khang của tiểu thuyết vì vậy có thể được đọc như một phản lịch sử đối với chính cái tên Duyên Khang từng tồn tại.

Liên tưởng giữa Thập Thiên Tôn và Thập Thường Thị cũng nên được hiểu ở cấp độ cấu trúc như vậy. Con số mười và hình thức tên gọi tự chúng chưa phải bằng chứng đáng kể; đáng chú ý hơn là hình thế quyền lực với một trung tâm đế quyền, xung quanh là những nhân vật nắm thực lực lớn, vừa hợp tác vừa tranh đoạt khiến chính thống danh nghĩa và sự vận hành thực tế của quyền lực không hoàn toàn trùng nhau. Nếu có sự vay mượn, Trạch Trư rõ ràng không sao chép mười hoạn quan cuối Đông Hán thành mười Thiên Tôn. Ông có thể chỉ lấy một cấu trúc quyền lực đã được lịch sử cung cấp rồi đặt vào đó những nhân cách và vấn đề thuộc các nguồn khác.

Cách làm này giải thích vì sao việc truy tìm nguyên mẫu thường chỉ đúng nửa chừng. Vân Thiên Tôn gợi Tôn Trung Sơn ở vị trí của một người mở đường, tập hợp lực lượng, để lại một sự nghiệp lớn hơn đời mình và một di sản tiếp tục được những người sau diễn giải; Hỏa Thiên Tôn lại có nét của Viên Thế Khải ở tính thực dụng của một nhân vật đứng giữa cũ và mới, tham gia vào quá trình chuyển đổi nhưng cũng có khả năng biến thành quả của chuyển đổi thành quyền lực. Không cần tiểu sử của họ trùng nhau, bởi thứ được vay mượn có thể chỉ là một kiểu nhân cách đặt trong một tình thế tương đồng. Khi những nhân cách ấy được đưa vào quan hệ, vấn đề chính trị tự phát sinh từ hành động của nhân vật thay vì phải được tác giả diễn giải bên ngoài.

Ngự Thiên Tôn cho thấy phạm vi tham chiếu còn rộng hơn lịch sử cận đại. Vai trò mở ra con đường tu luyện cho hậu thiên sinh linh khiến nhân vật này gần với kiểu thủy tổ văn minh như Hiên Viên Hoàng Đế: một nhân vật đánh dấu sự thay đổi căn bản trong khả năng của con người. Lăng và Nguyệt Thiên Tôn lại đưa vật liệu của khoa học hiện đại vào cùng thế giới. Lăng với khí chất nhà nghiên cứu, mái tóc rối và những suy tư về vật chất, chất–năng, thời gian gợi Einstein; Nguyệt tàn tật và chuyên sâu về không gian gợi Hawking. Những liên tưởng này không nhất thiết chứng minh Trạch Trư cố tình viết chân dung các nhân vật lịch sử hay khoa học cụ thể, nhưng chúng cho thấy ông có thể lấy những nét đã trở thành ký hiệu trong ký ức văn hóa rồi tái tổ chức chúng thành nhân vật fantasy.

Nếu sắp xếp theo niên đại, việc Hiên Viên Hoàng Đế, Tôn Trung Sơn, Viên Thế Khải, Einstein hay Hawking cùng thấp thoáng trong một hệ thống nhân vật sẽ trở nên hỗn loạn. Nhưng niên đại dường như không phải nguyên tắc tổ chức vật liệu của Trạch Trư. Thứ quan trọng hơn là sự tương đồng về nhân cách, chức năng hay tình thế lịch sử. Chính cách tháo rời và tái tổ hợp ấy cho phép ông tận dụng sức nặng của lịch sử mà không bị lịch sử trói vào phép phúng dụ một–một.

Khí quyển cổ xưa và khả năng chứa cái hiện đại

Việc sử dụng những cấu trúc đã tích trầm trong lịch sử còn giải quyết một vấn đề thẩm mỹ khác. Fantasy cổ trang rất dễ chỉ cổ ở lớp trang trí: nhân vật mặc cổ phục, sống trong cung điện, sử dụng binh khí và xưng hô bằng danh vị cổ, trong khi tâm lý xã hội và quan hệ quyền lực phía dưới vẫn hoàn toàn hiện đại. Mục Thần Ký có một lớp cổ sâu hơn vì Trạch Trư không chỉ vay đồ vật hay biểu tượng mà còn sử dụng những hình thức lịch sử như hoàng quyền, thần quyền, thế gia, môn phái, tông pháp, thiên mệnh, chính thống, niên hiệu, quan hệ Hoa–Di, biên tái, học cung, giáo phái và những thời kỳ phân tranh. Các cấu trúc ấy đã có đời sống lâu dài trong văn hóa Trung Hoa, vì vậy chúng tạo cảm giác về quá khứ bằng chính cách con người tổ chức quyền lực, tri thức và quan hệ xã hội.

Chính lớp nền này cho phép tác giả đưa những vấn đề rất hiện đại vào truyện mà không làm thế giới lập tức mất khí quyển cổ xưa. Những vấn đề của vật lý hiện đại không xuất hiện như một giáo trình mà được chuyển thành thần thông của Lăng Thiên Tôn; cải cách giáo dục đi qua học cung, phát triển sản xuất đi qua công xưởng, khoa học đi qua thuật số và việc nghiên cứu công pháp. Đối lập giữa ý thức và vật chất có thể được triển khai như xung đột giữa những con đường tu luyện. Cái hiện đại đã được chuyển dịch sang ngữ pháp của một thế giới huyền huyễn Trung Hoa trước khi trở thành một phần của nó.

Tạo Vật Chủ là một ví dụ rõ về cơ chế chuyển dịch ấy. Quan tưởng cho phép ý thức tạo thành tồn tại, khiến một vấn đề gần với chủ nghĩa duy tâm trở thành nguyên lý hoạt động của cả một nền văn minh. Đối diện với nó, Duyên Khang phát triển tri thức thông qua quan sát, cách vật trí tri, thuật số, nghiên cứu, chế tạo và thực tiễn. Hai cách hiểu thế giới không được đặt cạnh nhau như những mệnh đề triết học mà tạo ra hai con đường phát triển khác nhau. Khi Lăng Thiên Tôn đối đầu với Thái Đế, sự xung đột giữa thần thức và vật chất bất dịch thậm chí đưa đối lập giữa ý thức và vật chất vào chính cơ chế của trận chiến. Trạch Trư ở đây đã biến một lí niệm thành điều kiện vận hành của thế giới hư cấu, nhờ đó tư tưởng có thể sinh ra kỹ thuật, thiết chế, hành động và hậu quả mà không cần liên tục được thuyết minh.

“Thần vì người dùng” cũng có thể được đọc theo cách này. Ý nghĩa của nó không dừng ở một tuyên ngôn chống thần quyền. Trong tiến trình của truyện, con người ngày càng có khả năng nghiên cứu thần thông, phân tích Đại Đạo, sửa công pháp và tiếp cận những năng lực từng thuộc độc quyền của thần linh. Muốn thần phục vụ con người thì thần trước hết phải trở thành đối tượng có thể hiểu. Giải phóng khỏi thần quyền và sự phát triển của nhận thức vì vậy nằm trên cùng một đường dây: cái từng được bao phủ bởi tính thần bí được kéo vào phạm vi nghiên cứu, còn những gì từng được xem là bất biến dần lộ ra lịch sử hình thành của nó.

Khi lí niệm có đời sống

Duyên Khang có lẽ là nơi phương pháp này đạt hiệu quả thuyết phục nhất. Những ý tưởng về cải cách, phổ cập tri thức hay phát triển sản xuất không tồn tại chủ yếu dưới dạng khẩu hiệu mà có cơ sở vật chất và đời sống xã hội cụ thể. Học cung làm thay đổi phương thức truyền tri thức; công xưởng nối nghiên cứu với chế tạo; thuật số làm biến đổi cách người ta hiểu và cải tiến thần thông; giao thông và thủy vận mở rộng không gian kinh tế của quốc gia. Những thay đổi ấy đồng thời va chạm với lợi ích của môn phái và những hệ thống truyền thừa cũ, khiến cải cách hiện ra như một quá trình xã hội có người được hưởng lợi, có người mất đặc quyền và có những xung đột không thể giải quyết chỉ bằng thiện chí.

Dũng Giang có thể gợi Đại Vận Hà cũng chính ở cấp độ chức năng. Hệ thống thủy vận nối các đô thị đông dân với thương mại, sản xuất và quân sự, góp phần biến lãnh thổ Duyên Khang thành một chỉnh thể có khả năng lưu chuyển người, hàng hóa và tri thức. Không cần giả định Trạch Trư đã vẽ lại Đại Vận Hà trong địa lý fantasy; ông chỉ cần hiểu vai trò lịch sử của một mạng lưới giao thông như vậy và tái tạo vai trò ấy trong cấu trúc khác.

Thiên Thánh Giáo cũng vận hành theo một nguyên tắc tương tự. Nó mang hình thức giáo phái nhưng thành viên trải rộng trong xã hội, tham gia cứu tế, lao động và chính trị; giáo nghĩa được kéo xuống đời sống hàng ngày của trăm họ. Đáng chú ý hơn là việc truyện sớm ý thức nguy cơ một tổ chức sinh ra để phá đặc quyền, sau khi chiến thắng và tồn tại đủ lâu, có thể hình thành những thế gia và độc quyền mới. Đây là vấn đề quen thuộc của lịch sử cách mạng hiện đại, nhưng không cần đồng nhất Thiên Thánh Giáo với một chính đảng cụ thể mới nhận ra ý nghĩa của nó. Trạch Trư lấy một khả năng mà lịch sử đã chứng thực rồi cho khả năng ấy hoạt động trong hoàn cảnh khác; tư tưởng về sự tha hóa của tổ chức vì thế được thể hiện qua chính lịch sử của tổ chức.

Cách làm này có một lợi thế quan trọng: lịch sử cung cấp cho lí niệm những quan hệ đã chứng tỏ khả năng vận hành trong đời sống. Tác giả không phải tạo một tình huống nhân tạo chỉ để minh họa điều muốn nói. Khi một người mở đường, một kẻ thực dụng, một thiết chế cũ và một lực lượng cải cách được đặt vào một hình thế đủ chặt, những lựa chọn và hậu quả của họ tự tạo ra vấn đề. Trong phần thành công nhất của Mục Thần Ký, lí niệm vì thế thường có thân xác: nó hiện ra trong một con người, một thiết chế, một thành phố, một cuộc chiến hay một sự thay đổi của đời sống.

Từ lịch sử Trung Hoa đến mô hình thế giới

Về cuối Mục Thần Ký, quy mô tư duy của tác phẩm mở rộng đáng kể. Nếu Duyên Khang chủ yếu đặt vấn đề ở phạm vi một nền văn minh và Thiên Đình mở rộng sang trật tự quyền lực bao trùm, thì Ngũ Thái, Vô Nhai, Di La cung, Khai Thiên chúng và Đại Tịch Diệt bắt đầu vận hành ở quy mô gần với một hệ thống thế giới. Những phép đối chiếu ở đây khó kiểm chứng hơn và chỉ nên được giữ như giả thuyết đọc, nhưng chúng cho thấy khả năng của phương pháp đã được đẩy xa tới đâu.

Ngũ Thái trước hết thuộc vũ trụ luận Trung Hoa, song năm tồn tại nguyên thủy cùng tham gia cấu thành trật tự có thể khiến người đọc liên tưởng tới năm cường quốc thường trực của thế giới hiện đại. Vô Nhai và Thế Giới Thụ, với khả năng xuyên qua các vũ trụ và tích lũy qua những chu kỳ hủy diệt, có thể gợi logic của tư bản và mạng lưới toàn cầu hóa. Di La cung mang một số đặc điểm của hệ hình tư tưởng sau khi đã hình thành người sáng lập, truyền thống, học trò, chính thống và các cách diễn giải kế tiếp; Khai Thiên chúng lại có nét của chủ nghĩa cách mạng cứu thế, muốn phá bỏ trật tự hiện hữu để kiến tạo một thế giới hoàn mỹ, kể cả khi những con người đang sống có nguy cơ trở thành vật liệu cho mục tiêu ấy. Không cần từng phép liên tưởng phải đúng mới nhận ra sự thay đổi về quy mô: những vấn đề vốn thuộc chính trị, kinh tế, triết học và lịch sử hiện đại đã có thể được chuyển thành các lực lượng của vũ trụ fantasy.

Đại Tịch Diệt đặt tất cả các mô hình ấy trước cùng một giới hạn. Một trật tự chính trị, khả năng huy động tài nguyên, một hệ tư tưởng, một dự án cách mạng hay tri thức khoa học đều phải đối diện với nguy cơ sụp đổ của toàn hệ thống. Câu hỏi cuối truyện vì vậy lớn hơn rất xa cuộc đối đầu ban đầu giữa người và thần nhưng vẫn tiếp tục động tác nhận thức đã xuất hiện từ sớm: sau khi một giới hạn tưởng là tuyệt đối bị giải cấu, truyện tiếp tục tìm xem phía dưới nó còn một tầng quy luật nào khác. Từ chiêu thức và công pháp, quá trình ấy đi tới hệ thống tu luyện, Cổ Thần, Đại Đạo, vật chất, ý thức, thời gian rồi chính cấu trúc sinh diệt của vũ trụ.

Tham vọng này đồng thời bộc lộ giới hạn của phương pháp. Khi hầu hết hệ thống đã được mở ra, những khoản nợ của đại cấu trúc phải được thanh toán: bí mật cần giải thích, các thời đại phải nối lại, những vòng nhân quả cần khép và các mô hình vũ trụ phải đi đến kết quả. Phần cuối vì vậy có xu hướng game hóa mạnh hơn, trong khi con người cụ thể nhiều lúc lùi lại sau các bài toán của hệ thống. Có thể đây không phải dấu hiệu Trạch Trư cạn ý tưởng mà gần như điều ngược lại: lượng ý tưởng tích lũy quá lớn đã trở thành nghĩa vụ cấu trúc, buộc tác phẩm dành ngày càng nhiều năng lượng để hoàn tất chính bộ máy mà nó đã xây dựng.

Đại cấu trúc và dòng sáng tác hàng ngày

Tuy vậy, chỉ một hệ thống được chuẩn bị kỹ không thể giải thích sinh khí của Mục Thần Ký. Nếu phía sau tác phẩm chỉ có timeline, sơ đồ thế lực, kho tư liệu lịch sử và những vấn đề triết học, kết quả rất có thể là một công trình worldbuilding đồ sộ nhưng khô cứng. Phần hấp dẫn nhất của truyện lại chứa nhiều thứ khó hình dung đã được ghi hết trong đề cương: những lão già kỳ quặc ở Tàn Lão Thôn, các trò nghịch của Tần Mục, một con rồng béo, cách nhân vật phá sự trang nghiêm của nhau, những câu đùa bất chợt, những nhân vật phụ dần có đời sống vượt khỏi chức năng ban đầu. Một địa điểm vốn chỉ là chỗ đi qua có thể tích tụ lịch sử; một chi tiết nhỏ có thể được phát triển thành một nhánh lớn.

Có lẽ vì thế phương pháp của Trạch Trư không nên được hình dung như việc thi công một bản thiết kế đã hoàn chỉnh. Tác giả có thể biết khá rõ những mốc lớn, lịch sử nền và các vấn đề mình cần đi qua, nhưng vẫn để lại khoảng trống đáng kể giữa chúng. Việc viết nối tiếp hàng ngày diễn ra trong khoảng trống ấy. Tư liệu mới đọc, một liên tưởng vừa xuất hiện, sự phát triển bất ngờ của nhân vật hay một khả năng mới được nhận ra trong chính những gì đã viết đều có thể đi vào tác phẩm; nếu đủ phù hợp, chúng còn tác động ngược trở lại cấu trúc, khiến một chi tiết cũ được trao thêm ý nghĩa, một nhân vật có thêm quá khứ hoặc một hệ thống phụ được phát triển xa hơn dự kiến.

Đây có thể là lý do Mục Thần Ký vừa cho cảm giác được quy hoạch từ trước vừa có tính phóng túng của một tác phẩm đang được viết. Đại cấu trúc không phải đường ray buộc mọi chi tiết đi theo một lộ trình đã định mà giống một hệ thống đủ ổn định để chịu được sự tăng trưởng. Trong giai đoạn các nút lớn còn cách xa nhau, khoảng trống cho đời sống và ứng biến còn rộng; đến cuối truyện, khi những tuyến đã mở phải hội tụ, không gian ấy thu hẹp và cái khung ngày càng hiện rõ. Sự khác biệt về sức sống giữa các giai đoạn của tác phẩm có thể một phần bắt nguồn từ chính quan hệ này.

Phía dưới cả hai lớp — cấu trúc chuẩn bị trước và dòng sáng tác hàng ngày — dường như còn có một khí chất tương đối ổn định của người viết. Trạch Trư có thiện cảm rõ với học tập, nghiên cứu, chế tạo và cải tiến; thường nghi ngờ những trật tự tự nhận là bất biến; thích để những hệ thống khác nhau va chạm và hấp thu lẫn nhau; liên tục kéo cái thiêng xuống phạm vi nhận thức của con người. Hài hước cũng tham gia vào cùng một khí chất ấy khi những vị thần, bậc cao nhân hay chân lý trang nghiêm thường xuyên bị kéo trở lại đời sống. Nhờ một nguồn mạch như vậy, những vật liệu vốn không thuộc cùng thời đại hay cùng hệ tư tưởng vẫn có thể mang một sắc thái chung sau khi đi vào tác phẩm.

Sáng tạo như một năng lực tái cấu trúc

Từ những dấu vết trên, “tập đại thành” vẫn có thể là một cách gọi thích hợp đối với Mục Thần Ký, nhưng nếu chỉ hiểu là khả năng tập hợp nhiều tư liệu thì chưa đủ. Đạo giáo, Phật giáo, lịch sử Trung Hoa, cải cách, cách mạng, toán học, vật lý hiện đại và vũ trụ học không đi vào tác phẩm trong nguyên trạng. Chúng được tháo khỏi bối cảnh ban đầu, lựa chọn theo khả năng tương đồng với những tình thế mà tác giả cần xây dựng rồi đặt vào một hệ thống mới. Ở đó, lịch sử có thể trở thành thần thoại, một vấn đề triết học có thể trở thành cơ chế của thần thông, còn một cấu trúc chính trị hiện đại có thể được biểu hiện bằng ngôn ngữ của thế giới huyền cổ.

Như vậy, sự vay mượn không phải phần đối lập với sáng tạo mà là một thành phần trong phương pháp sáng tạo. Những hình thế đã tích trầm trong lịch sử đem theo chiều sâu và những quan hệ từng thực sự vận hành; việc tái tổ hợp chúng cho phép Trạch Trư xây dựng một lịch sử chưa từng tồn tại mà vẫn tạo cảm giác đã trải qua một quá khứ lâu dài. Quan trọng hơn, chúng cung cấp một môi trường văn hóa đủ dày để tác phẩm mang chứa những lí niệm rất hiện đại mà không mất khí quyển Trung Hoa cổ xưa.

Có thể vì vậy phương pháp sáng tác của Mục Thần Ký nằm trong sự kết hợp giữa một công việc chuẩn bị có tính hệ thống và một quá trình viết có khả năng tự sinh trưởng. Phần chuẩn bị trước hẳn bao gồm ít nhất dòng thời gian, quan hệ giữa các thời đại và nhân vật, sự phát triển của hệ thống tu luyện và tri thức, cùng những vấn đề chủ đạo cần được triển khai. Lịch sử và văn hóa cung cấp cho cấu trúc ấy những hình thế có sẵn chiều sâu. Trong quá trình viết, tác giả tiếp tục hấp thu tư liệu, phát triển những nhân vật chưa được dự kiến đầy đủ và điều chỉnh cái khung khi phát hiện những khả năng mới. Chính sự cân bằng giữa hai phần giúp một trường thiên hàng triệu chữ vừa không tan thành chuỗi phiêu lưu rời rạc vừa không trở thành bản triển khai cơ học của một đề cương.

Nếu giả thuyết này gần đúng, điểm đáng chú ý nhất trong phương pháp của Trạch Trư không nằm ở việc ông phát minh được bao nhiêu thứ hoàn toàn chưa từng có. Năng lực đặc biệt hơn là nhận ra giữa những vật liệu rất xa nhau những cấu trúc có thể chuyển dịch, rồi dựng được một thế giới đủ mạnh để chúng cùng vận hành mà không mất hẳn nguồn gốc cũng không còn nguyên nghĩa ban đầu. Chính trong quá trình ấy, những trầm tích lịch sử và văn hóa cũ tham gia tạo nên cái mới. Mục Thần Ký vì thế có thể chưa từng tồn tại ở bất kỳ đâu ngoài tiểu thuyết, nhưng thế giới ấy vẫn gây cảm giác rằng phía sau những gì người đọc được kể còn có một quá khứ rất dài, với những lớp lịch sử chỉ thỉnh thoảng mới lộ ra trên bề mặt.

 

ĐỌC MỤC THẦN KÝ: MỘT ĐỈNH CAO CỦA HUYỀN HUYỄN MẠNG VÀ VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN TRUY ĐỌC

 

Tôi đọc Mục Thần Ký của Trạch Trư bằng bản convert, trong một thời gian dài và có giai đoạn theo nhịp ra chương hằng ngày. Trong số khá nhiều tiểu thuyết huyền huyễn mạng từng đọc, đây vẫn là tác phẩm tôi thích nhất. Nói nó là một đỉnh cao của thể loại tất nhiên trước hết chỉ là phán đoán của một người đọc. Nhưng nhìn lại sau khi truyện đã kết thúc, tôi nhận ra cảm giác ấy không chủ yếu đến từ việc Mục Thần Ký sáng tạo ra một yếu tố nào hoàn toàn chưa từng có.

Tu luyện, thăng cấp, môn phái, bí cảnh, thần ma, thế giới nhiều tầng, hệ thống cảnh giới, những nền văn minh đã mất, tranh đấu với thiên đình, nhân vật chính liên tục phá giới hạn... đều là vật liệu quen thuộc của huyền huyễn mạng Trung Quốc. Ngay cả việc đưa khoa học, toán học hay những vấn đề xã hội hiện đại vào thế giới huyền huyễn cũng không phải hoàn toàn chưa có tiền lệ.

Điều đặc sắc của Trạch Trư nằm ở năng lực tập đại thành. Ông gom rất nhiều nguồn lực vốn làm nên sức hấp dẫn của huyền huyễn mạng — truyền thống thần thoại và tôn giáo Trung Quốc, võ hiệp, tu tiên, game, lịch sử, chính trị, khoa học hiện đại, hài hước, nhiệt huyết tuổi trẻ và trí tưởng tượng về cải cách xã hội — rồi đặt chúng vào một cấu trúc có khả năng tự mở rộng rất lâu mà trong phần lớn hành trình vẫn giữ được một trung tâm tinh thần tương đối nhất quán.

Quan trọng hơn, thế giới ấy không chỉ rộng ra. Nó tự biến đổi trong khi người đọc đang sống cùng nó.

Đại Khư mà ta gặp lúc đầu không còn là Đại Khư của vài trăm chương sau. Những người già ở Tàn Lão Thôn ban đầu là những nhân vật kỳ quặc, rồi từng người mở ra một lịch sử. Duyên Khang ban đầu là một quốc gia trong bản đồ, sau đó trở thành một xã hội đang biến pháp. Thần thông ban đầu là bí truyền của môn phái, rồi dần trở thành đối tượng nghiên cứu, cải tiến và phổ cập. Thiên đạo tưởng là nền tảng vĩnh hằng cuối cùng cũng bị kéo xuống thành vấn đề có thể chất vấn. Đến cuối truyện, chính vũ trụ trở thành đối tượng nghiên cứu.

Những chuyển động ấy gợi ra điều mà tôi cho là đặc sắc nhất trong cách Trạch Trư tập đại thành các vật liệu của huyền huyễn: ông không chỉ xây một thế giới để nhân vật khám phá mà xây một thế giới có lịch sử, trong đó con người, tri thức và các trật tự đều có khả năng trở thành cái khác.

Đặc điểm ấy lại gặp đúng hình thức tồn tại của tiểu thuyết mạng dài kỳ. Khi tác giả viết trong lúc độc giả đang đọc, sự biến đổi bên trong thế giới hư cấu được trải nghiệm song song với thời gian truy đọc bên ngoài văn bản. Vì thế Mục Thần Ký trở thành một trường hợp đặc biệt thích hợp để suy nghĩ về quan hệ giữa thời gian, thế giới hư cấu và kinh nghiệm thẩm mỹ.

Đọc xuyên qua câu chữ

Nghịch lý đầu tiên nằm ngay ở văn bản tôi thực sự đã đọc: một bản convert.

Nếu đem nó đo bằng tiêu chuẩn thông thường của văn chương dịch, người đọc đáng lẽ phải bỏ cuộc khá sớm. Cú pháp lổn nhổn, nhiều câu mang nguyên cấu trúc tiếng Trung, từ Hán Việt dày đặc, không ít đoạn chỉ có thể gọi là tiếng Việt theo một nghĩa khá rộng. Vậy mà người ta vẫn đọc hàng nghìn chương. Không những hiểu mà còn nhớ nhân vật, suy đoán thế giới, chờ đợi tình tiết; có khi bật cười, có khi rơi lệ, có lúc để mình cuốn vào cảm giác bi hùng phẫn liệt.

Người đọc convert lâu năm dần hình thành một kỹ năng có thể tạm gọi là “đọc xuyên qua câu chữ”. Não gần như tự động bỏ qua những cấu trúc tiếng Việt vụng về để nhận trực tiếp những đơn vị lớn hơn nằm phía sau: nhân vật, quan hệ, tình tiết, thiết lập, ý niệm và cấu trúc thế giới.

Điều này không có nghĩa câu chữ không quan trọng. Nó chỉ cho thấy trong một chế độ tiếp nhận khác, trọng số giữa các đơn vị thẩm mỹ có thể thay đổi.

Bản convert Trung–Việt còn tạo ra một hiệu ứng riêng. Những khối từ Hán Việt như Đại Khư, U Đô, Huyền Đô, Thiên Đình, Khai Hoàng, Thượng Hoàng, Duyên Khang, Thần Tàng, Tạo Vật Chủ... giữ lại một độ nén văn hóa khá cao. Người Việt đứng ở vị trí lạ lùng: không hoàn toàn thuộc không gian văn hóa đã sinh ra những từ ấy nhưng cũng không xa lạ với chúng. Có những chữ ta hiểu mà không cần dịch hết, đồng thời vẫn cảm thấy phía sau chúng còn một lớp trầm tích chưa khai hết.

Đọc đủ lâu, “Khai Hoàng” không còn hoạt động như một danh từ cần được dịch từng lần. Nó đã mang theo một thời đại, một hệ giá trị và một mạng lưới quan hệ. “Đại Khư” cũng không chỉ chỉ định một địa điểm mà trở thành một đơn vị nghĩa có độ nén ngày càng lớn.

Điều đáng chú ý không phải bản convert bí mật trở thành một thứ văn chương đẹp. Nó vẫn xù xì. Nhưng người đọc đã học cách tiếp nhận tác phẩm bằng những đơn vị lớn hơn câu. Một số khối Hán Việt thậm chí hoạt động gần như ký hiệu nén, cho phép một lượng lớn thông tin văn hóa và tự sự đi qua một bề mặt ngôn ngữ không trơn tru.

Vì vậy mới xuất hiện nghịch lý: văn bản có thể yếu ở cấp độ câu nhưng kinh nghiệm văn học vẫn mạnh ở cấp độ cấu trúc.

Một thế giới biết giữ quá khứ của mình

Đây là nơi Mục Thần Ký bắt đầu khác nhiều truyện thăng cấp thông thường.

Một khó khăn kinh điển của huyền huyễn trường thiên là bản đồ bị tiêu hao. Nhân vật rời tân thủ thôn, lên thành phố, sang quốc gia khác, phi thăng lên tiên giới; mỗi lần nâng cấp thế giới lại gần như bỏ lại thế giới cũ. Nhân vật cũ mất ý nghĩa, địa điểm cũ trở thành quá khứ và truyện có nguy cơ biến thành chuỗi sân khấu ngày càng lớn nhưng ngày càng ít liên hệ với nhau.

Trạch Trư ý thức khá rõ vấn đề này. Cấu trúc “liên hoa địa đồ” đặt Đại Khư như nhụy sen, các thế giới và thời đại khác lần lượt mở ra như những cánh sen. Nhưng thủ pháp quan trọng không chỉ là mở rộng bản đồ. Tần Mục liên tục quay trở lại những nơi tưởng đã biết và mỗi lần trở lại lại phát hiện một tầng lịch sử khác.

Đại Khư vì thế không bị tiêu hao sau khi nhân vật đã vượt khỏi cấp độ ban đầu của nó. Nó liên tục được tái nghĩa hóa.

Quy tắc đầu tiên rất đơn giản: trời tối thì đừng ra ngoài. Nhưng càng đi, người đọc càng phát hiện những phế tích, thời đại và nền văn minh đã chôn xuống bên dưới hiện tại. Không gian trở thành một dạng địa tầng lịch sử.

Tàn Lão Thôn cũng vận hành theo cách ấy. Ban đầu đó là “nhà” và những ông bà già kỳ quặc. Sau đó từng người mở ra một lịch sử riêng; những lịch sử ấy nối sang Nhân Hoàng, Thiên Thánh Giáo, Phật môn, Đạo môn và những biến cố lớn hơn. Thông tin mới không đơn giản được xếp cạnh thông tin cũ mà thường buộc người đọc phải hiểu lại cái mình từng thấy.

Một phế tích hóa ra là kết quả của một lịch sử. Một nhân vật từng buồn cười hóa ra mang một bi kịch. Một thần thoại hóa ra che giấu một quan hệ quyền lực. Một thứ được gọi là thiên lý hóa ra cũng có điều kiện hình thành.

Đây là một trong những kỹ thuật thế giới quan hiệu quả nhất của Mục Thần Ký: mở rộng không đồng nghĩa với vứt bỏ. Thế giới lớn lên bằng cách làm sâu những gì đã có.

Từ đó mới sinh ra một phẩm chất có thể tạm gọi là khả năng cư trú. Người đọc có nơi để trở về, nhưng sự trở về không đồng nghĩa với lặp lại. Nơi cũ vẫn nhận ra được, đồng thời đã có thêm chiều sâu. Một thế giới như vậy vừa cung cấp sự quen thuộc cần thiết cho truyện trường thiên, vừa tránh được cảm giác đứng yên.

Thời gian truy đọc và “ký ức đồng hành”

Đặc điểm đăng theo kỳ bổ sung cho cấu trúc ấy một chiều mà người đọc đến sau khó tái tạo hoàn toàn.

Người đọc liền một tác phẩm đã hoàn tất luôn có khả năng đi tiếp. Người truy đọc từng sống trong trạng thái chương tiếp theo thực sự chưa tồn tại. Một bí mật từng chưa có lời giải; một nhân vật từng mất tích nhiều tháng; một biến cố từng mở ra nhiều khả năng mà chưa khả năng nào được xác nhận.

Khoảng thời gian ấy không nằm trong câu chữ của bản hoàn chỉnh, nhưng nó đã tham gia vào kinh nghiệm tiếp nhận.

Tôi tạm gọi phần tích lũy này là “ký ức đồng hành”: những gì người đọc mang theo từ lịch sử đã sống cùng tác phẩm và được huy động trở lại khi nhân vật, địa điểm hay vấn đề cũ xuất hiện.

Mục Thần Ký, hiệu ứng ấy đặc biệt mạnh vì cấu trúc của Trạch Trư thường xuyên quay lại những gì đã đặt ra từ trước. Khoảng cách hàng trăm chương không chỉ kéo dài sự chờ đợi; nó tạo điều kiện để một lần trở lại có trọng lượng mà đọc liền khó tái tạo nguyên vẹn.

Nhưng trường hợp Duyên Khang còn cho thấy một điều khác quan trọng hơn sự gắn bó với nhân vật. Người đọc được đặt vào vị trí chứng kiến một xã hội biến đổi.

Duyên Khang lúc đầu không phải Duyên Khang về sau. Học cung thay đổi, công pháp thay đổi, kỹ thuật thay đổi, cách tổ chức tri thức thay đổi. Một phát minh từng mới mẻ vài trăm chương sau trở thành điều kiện bình thường cho những phát minh khác. Những lý tưởng từng chỉ nằm trong lời nói dần được kiểm nghiệm bằng thể chế, sản xuất và chiến tranh.

Hiệu quả ở đây gần với kinh nghiệm lịch sử hơn là sự tích lũy thông tin về world-building: ta từng biết trạng thái trước của xã hội ấy nên nhận ra được khoảng cách mà nó đã đi qua.

Có lẽ chính vì vậy Duyên Khang có lúc tạo cho tôi một cảm giác rất lạ. Nó không chỉ được miêu tả đủ chi tiết để đáng tin. Tôi đã được đặt vào vị trí của một người chứng kiến nó trở thành cái mà lúc đầu nó chưa phải.

Có những lúc đọc, tôi gần như “tin rằng có” một Duyên Khang như thế.

Khi lý niệm có thân xác

Nếu chỉ có cấu trúc thế giới thông minh, Mục Thần Ký vẫn chưa trở thành tác phẩm khiến tôi nhớ nhất. Hơn nửa đầu truyện còn làm được một việc khó hơn: biến những lý niệm lớn thành kinh nghiệm của con người cụ thể.

“Thần vi nhân dụng”, “nhân mệnh đại vu thiên”, “thánh nhân chi đạo tại bách tính nhật dụng” không đứng lại ở những lời tuyên ngôn. Chúng trở thành học cung, công xưởng, thần thông mới, biến pháp, chiến tranh và lựa chọn của nhân vật. Duyên Khang biến pháp vì vậy không chỉ là một chủ đề chính trị mà là quá trình một xã hội đem những nguyên tắc của mình ra thử nghiệm trong đời sống.

Thiên Thánh Giáo là một trường hợp thú vị. Bề ngoài nó kế thừa mô hình “ma giáo” của võ hiệp, nhưng mạng lưới giáo chúng, quan niệm nhập thế, thái độ với lao động và dân chúng khiến người đọc hiện đại dễ nhận ra những cộng hưởng với trí tưởng tượng cách mạng Trung Quốc thế kỷ XX. Không cần giải mã nó thành một ám dụ một-đối-một. Điều đáng chú ý hơn là tác phẩm đặt lý tưởng của giáo cao hơn chính tổ chức: nếu Duyên Khang thực hiện được “bách tính nhật dụng”, Duyên Khang đã trở thành Thiên Thánh Giáo theo nghĩa quan trọng nhất.

Từ đây xuất hiện một hình thức phê bình nội tại. Những lý tưởng như phục vụ dân chúng, chống đặc quyền, phổ cập tri thức và phát triển sản xuất trở thành tiêu chuẩn quay lại chất vấn môn phái độc quyền tri thức, thế gia tích lũy tài nguyên, người tu luyện khinh thường dân thường và cả nguy cơ những người chiến thắng cuối cùng hình thành tầng lớp lợi ích mới. Niềm tự hào về sự tự cường của một xã hội và sự phê phán những gì đang cản trở lý tưởng ấy không nhất thiết mâu thuẫn nhau.

Trong hoàn cảnh xuất bản và kiểm duyệt Trung Quốc, những lời tự giải thích của Trạch Trư vì vậy có giá trị tham khảo nhưng không nhất thiết là chiếc khóa cuối cùng của văn bản. “Ý tại ngôn ngoại” không có nghĩa mọi khoảng trống đều là mật mã chính trị; nó chỉ nhắc rằng cấu trúc của một tác phẩm có thể sản sinh những hàm nghĩa rộng hơn cách tác giả lựa chọn giải thích nó trước công chúng.

Điều quan trọng hơn đối với kinh nghiệm đọc là những lý niệm ấy có thân xác.

Tôi từng có thể để cảm xúc cuốn theo hơn nửa đầu truyện, có khi rơi lệ, có khi cảm thấy bi hùng phẫn liệt. Cái bi đến từ sự mong manh của những con người cụ thể; cái hùng từ việc họ vẫn hành động trước những lực lượng lớn hơn mình; cái phẫn xuất hiện khi đau khổ không còn được coi là định mệnh mà gắn với một trật tự đáng lẽ có thể khác đi.

Bởi vậy, người anh hùng lớn nhất của phần này đôi khi dường như không phải Tần Mục mà là Duyên Khang: một xã hội đang học cách tự thay đổi. Một người nghĩ, người khác chế tạo, người khác truyền dạy, người khác đánh trận. Người này chết thì người khác tiếp tục. Tần Mục dẫn người đọc đi qua lịch sử ấy nhưng không độc chiếm lịch sử.

Kết cấu quần tượng giúp Trạch Trư giữ được điều này khá lâu. Duyên Khang Quốc sư, Hư Sinh Hoa, những người già Tàn Lão Thôn và nhiều nhân vật khác có quỹ đạo riêng. Sự hài hước lại giữ họ còn là người: một kẻ vừa bàn đại đạo có thể ngay sau đó tham ăn, sĩ diện hay làm chuyện ngớ ngẩn. Khi bi kịch đến, nó vì thế xảy ra với những con người ta từng thấy sống chứ không phải những tượng đài được dựng sẵn để hy sinh.

Có lẽ đây là một trong những thành tựu khó nhất của Mục Thần Ký: dùng quy mô sử thi mà vẫn giữ được nhiệt độ của đời sống.

“Muốn trường sinh ư — học toán đi”

Tinh thần biến pháp ấy còn đi vào một nơi ít trang trọng hơn nhưng rất đặc sắc: Trạch Trư đưa toán học và khoa học tự nhiên vào chính cơ chế của thần thông.

Muốn học Đạo kiếm phải giỏi thuật số. Những truyền thống toán học Trung Quốc như Toán kinh thập thư, Đại diễn tổng số thuật, Tứ nguyên ngọc giám xuất hiện trên con đường dẫn tới kiếm pháp; các phép tính dần chạm tới những vấn đề của vi phân và tích phân. Trạch Trư tiếp tục đẩy lối tưởng tượng ấy sang vật lý, sinh học và cuối cùng là vũ trụ học.

Với một học sinh hay sinh viên vừa vật lộn với toán ở trường, trò chơi ấy tạo ra một sự đảo ngược khá vui. Những thứ đang nằm trong sách giáo khoa bỗng trở thành bí kíp tu tiên. Dân mạng có thể đùa: học mệt quá lên mạng đọc truyện giải trí, cuối cùng vẫn bị tác giả bắt học bài.

Nhưng phía sau câu đùa là một nguyên tắc quan trọng của thế giới Mục Thần Ký: biết tạo ra quyền năng.

Một pháp thuật không còn chỉ là bí truyền được tổ sư để lại. Nó có cấu tạo, có nguyên lý, có thể tháo ra, so sánh, phát hiện hạn chế rồi cải tiến. Người sau không chỉ kế thừa người trước mà có thể sửa người trước. Một phương pháp mới sau khi được phổ biến lại trở thành điểm xuất phát cho thế hệ kế tiếp.

Vì thế khoa học trong Mục Thần Ký không đơn thuần là một lớp trang trí hiện đại phủ lên huyền huyễn. Nó nối trực tiếp với Duyên Khang biến pháp. Cái mà Duyên Khang làm với thể chế, những người tu luyện làm với tri thức: từ chối coi cái được truyền lại là giới hạn cuối cùng.

Ở đây “thần vi nhân dụng” có thêm một tầng nhận thức. Muốn thần dùng được cho người thì con người trước hết phải hiểu được thần. Thần thông, thần linh rồi thiên đạo lần lượt bị kéo xuống thành đối tượng nghiên cứu.

Thế giới không chỉ được nhân vật khám phá - Nó đang tự học về chính nó.

Bởi vậy câu đùa “Muốn trường sinh ư — học toán đi” lại chạm khá đúng tinh thần tác phẩm. Trạch Trư không biến tiểu thuyết thành sách giáo khoa; ông làm một việc thú vị hơn: tạm thời tái mê hoặc tri thức trong sách giáo khoa, biến cái phải học thành cái người đọc muốn biết vì nó mở được thế giới.

Trớ trêu ở chỗ, đọc tu tiên để trốn học một lúc, đi một vòng rồi vẫn bị Trạch Trư lão ta lôi về bàn học.

Những vết nứt trong thế giới tập đại thành

Khả năng hấp thu nhiều truyền thống của Mục Thần Ký cũng khiến tác phẩm mang theo những thiên kiến nằm sẵn trong kho vật liệu ấy.

Khi trực tiếp suy nghĩ về quyền lực, tri thức hay khác biệt chủng tộc, Trạch Trư nhiều lần tỏ ra khá cởi mở. Nhưng ở tầng tưởng tượng ít được phản tỉnh hơn, cấu trúc Hoa–Di đôi khi vẫn trở lại. Trung tâm thường gắn với học cung, kỹ thuật, cải cách và khả năng tự đổi mới; một số vùng ngoại vi dễ được nhận diện qua phong tục lạ, vu thuật, nghi lễ, huyết thống hay khác biệt thân thể.

Vấn đề vì vậy không nhất thiết phải đặt thành câu hỏi Trạch Trư có “phân biệt chủng tộc” hay không. Một câu hỏi hữu ích hơn là: ai được trao quyền định nghĩa cái phổ quát?

Tần Mục có thể học Đạo, Phật, ma pháp, kỹ thuật của Tạo Vật Chủ và nhiều hệ thống khác rồi tháo chúng ra, tái tổ hợp. Những nền văn hóa khác được tham gia vào cái phổ quát, nhưng quyền tổng hợp thường vẫn nằm ở trung tâm. Ngay trong những đoạn rất rộng mở về bình đẳng chúng sinh hay Phật tính, các hình thức tôn giáo ngoại vi và dị vực đôi khi vẫn dễ trở thành chất liệu của cái kỳ dị.

Đây là một mâu thuẫn đáng chú ý của tính “tập đại thành”: tác phẩm hấp thu sức mạnh của nhiều truyền thống, đồng thời cũng có thể hấp thu những phân cấp văn hóa mà chính các truyền thống ấy mang theo.

Hình thức sáng tác dài kỳ càng làm những vết nứt này dễ lộ. Một người viết hàng triệu chữ dưới áp lực cập nhật khó duy trì cùng một mức độ tự phản tỉnh ở mọi thời điểm. Khi viết theo quán tính, những mô thức văn hóa có sẵn trở thành con đường ngắn nhất. Và đôi khi chính những chỗ ít được suy nghĩ nhất lại để lộ những tiền giả định sâu nhất.

Khi cả vũ trụ trở thành bài toán

Phần sau Mục Thần Ký khiến tôi giảm dần khả năng để cảm xúc cuốn theo, mặc dù quy mô ý tưởng vẫn tiếp tục tăng.

Nếu chỉ gọi đó là sự xuống sức của một bộ truyện quá dài thì chưa đủ. Điều thú vị hơn là nhược điểm hậu kỳ dường như sinh ra từ chính nguyên tắc từng làm nên sức mạnh của tác phẩm.

Trạch Trư trung thành quá mức với logic đã đặt ra từ đầu.

Nếu một chiêu kiếm có thể nghiên cứu thì thần thông có thể nghiên cứu. Nếu thần thông có cấu tạo thì thiên đạo cũng phải có cấu tạo. Nếu thiên đạo có thể nhận thức thì sự sinh thành và hủy diệt của vũ trụ cuối cùng cũng phải trở thành một bài toán.

Mười sáu vũ trụ đã diệt và vũ trụ thứ mười bảy vì thế không đơn thuần là cách nâng cấp sân khấu. Phía sau chúng thấp thoáng những vấn đề của vật lý vũ trụ hiện đại: khởi sinh và suy biến, năng lượng, vật chất, không-thời gian, trạng thái cuối cùng và khả năng một vũ trụ tiếp nối sau sự hủy diệt của vũ trụ trước. Trạch Trư trộn những ý niệm ấy với hỗn độn, Quy Khư, thành–trụ–hoại–không và những nguồn vũ trụ luận truyền thống để dựng thành thần thoại riêng.

Con đường bắt đầu từ câu hỏi một chiêu kiếm vận hành thế nào, đi qua thuật số, phù văn, vật chất và sinh mệnh, cuối cùng dẫn tới câu hỏi cả vũ trụ vận hành thế nào. Xét về tính nhất quán, Trạch Trư lão ta gần như cứng nhắc.

Nhưng ở đây xuất hiện một nghịch lý thẩm mỹ. Trong phần đầu, thời gian làm thế giới sâu thêm. Một ngôi làng nhỏ chứa cả lịch sử. Một nhân vật già nua mở ra một thời đại. Một phát minh nhỏ thay đổi đời sống con người. Đến phần cuối, thời gian phình thành hàng tỷ năm và mười sáu vũ trụ. Quy mô tăng lên nhưng mật độ nhân sinh lại giảm xuống. Một người dân Duyên Khang chết trong hoàn cảnh ta hiểu có thể gây đau đớn hơn sự hủy diệt của cả một vũ trụ đã trở nên quá trừu tượng.

Cái “phẫn” biến mất trước tiên, bởi rất khó phẫn nộ với một định luật vũ trụ. Sau đó cái “bi” cũng giảm, bởi mô hình không có gương mặt để ta thương.

Có thể nói cơ chế từng làm Mục Thần Ký trở nên có thể cư trú, khi bị đẩy đến cực hạn, lại bắt đầu phá hủy chính khả năng cư trú ấy. Ở đầu truyện, thế giới được dùng để chứa con người. Cuối truyện, con người có lúc trở thành phương tiện để vận hành mô hình thế giới. Đó có lẽ là vết sẹo lớn nhất của cơ chế game hóa và hệ thống hóa trong tác phẩm.

Điều thú vị là kết thúc lại dừng ở giới hạn ấy. Tần Mục tiếp tục đi tìm lời giải cho bài toán cuối cùng nhưng Trạch Trư không nói hắn giải bằng cách nào.

Nếu đọc theo logic toàn tác phẩm, sự bỏ lửng này khá đẹp. Sau hàng triệu chữ khẳng định công pháp có thể sửa, thần thông có thể nghiên cứu, thiên đạo có thể nhận thức và vũ trụ có thể mô hình hóa, cuối cùng tác giả gặp một bài toán mà tri thức hiện có chưa cung cấp đáp án. Ông không cần bịa hộ khoa học tương lai, nhưng cũng không biến giới hạn tri thức hôm nay thành giới hạn vĩnh viễn của ngày mai.

Tần Mục kết thúc hành trình trong một tư thế rất Duyên Khang:

Chưa giải được thì tiếp tục nghiên cứu.

“Muốn trường sinh ư — học toán đi” đến đây hóa ra có một kết thúc khá nghiêm túc. Học đến tận vũ trụ học. Rồi phần còn lại chưa có công thức.

Một đỉnh cao không hoàn hảo

Nhìn lại, có lẽ tôi thích Mục Thần Ký không phải vì nó hoàn hảo. Nó có nhiều nhược điểm rất điển hình của văn chương mạng: quá dài, không đồng đều, nhân vật về sau bị bỏ quên, hệ thống sức mạnh lạm phát, một số thiên kiến văn hóa đáng ngờ và phần cuối mất đi khá nhiều nhiệt độ nhân sinh từng khiến phần đầu mạnh mẽ. Nhưng gọi nó là một thành tựu tập đại thành của huyền huyễn mạng cũng chính vì nó đã đẩy rất nhiều khả năng của thể loại tới mức cao.

Nó lấy kho thần thoại, Đạo giáo, Phật giáo và lịch sử Trung Quốc làm vật liệu nhưng không chỉ phục cổ. Nó lấy cơ chế thăng cấp của game nhưng dùng thăng cấp cho cả tri thức và xã hội. Nó dựng một nhân vật chính cực mạnh nhưng trong phần dài vẫn giữ được quần tượng. Nó tạo một thế giới rất lớn nhưng biết quay về những địa điểm cũ. Nó dùng khoa học hiện đại để giải thiêng thần thông mà vẫn giữ được khoái cảm huyền huyễn. Nó đưa những lý tưởng về cải cách, bình đẳng và đời sống dân chúng vào một thể loại vốn rất dễ trượt sang sùng bái sức mạnh cá nhân.

Quan trọng nhất, những vật liệu rất khác nhau ấy không nằm cạnh nhau như một kho tạp phẩm của huyền huyễn. Chúng được Trạch Trư kéo vào cùng một nguyên tắc: không có trật tự nào hoàn toàn đóng kín; mọi thứ đều có lịch sử, có thể được nhận thức và có khả năng biến đổi.

Đại Khư không chỉ là phế tích mà là lịch sử bị chôn xuống không gian. Duyên Khang không chỉ là bối cảnh mà là một xã hội đang tự cải tạo. Thần thông không chỉ dùng để chiến đấu mà trở thành tri thức có thể nghiên cứu và tiến bộ. Thiên đình không chỉ là phe phản diện mà đại diện cho một trật tự đã tự nhiên hóa quyền lực của mình. Đến cuối cùng, ngay cả vũ trụ cũng bị đặt dưới câu hỏi nó hình thành, vận hành và diệt vong như thế nào.

Đây có lẽ là điểm khiến Mục Thần Ký trở thành một tác phẩm tập đại thành đặc sắc hơn là một kho tổng hợp vật liệu thể loại. Trạch Trư không chỉ lấy rất nhiều thứ vào truyện; ông đặt chúng vào một thế giới quan của biến đổi.

Nhưng chính nguyên tắc ấy cũng tạo ra giới hạn của tác phẩm. Khi lịch sử còn mang gương mặt con người, nó tạo ra Duyên Khang và những đoạn văn có thể khiến người đọc rơi lệ. Khi biến đổi được đẩy đến quy mô mười sáu vũ trụ, lịch sử dần trở thành vũ trụ học, con người nhường chỗ cho mô hình và sức mạnh cảm xúc suy giảm. Thành công và thất bại hậu kỳ vì thế không hoàn toàn tách rời nhau: chúng mọc ra từ cùng một tham vọng muốn biến mọi tồn tại thành thứ có thể hiểu, tháo ra và làm lại.

Nhìn từ đó, hình thức truyện mạng dài kỳ không còn chỉ là điều kiện xuất bản bên ngoài. Nó tương ứng một cách kỳ lạ với chính thế giới quan của tác phẩm. Trạch Trư viết một thế giới luôn đang trở thành cái khác, còn người đọc tiếp nhận thế giới ấy khi bản thân tác phẩm cũng chưa ngừng trở thành. Ở đây thời gian truy đọc mới thực sự tham gia vào kinh nghiệm thẩm mỹ.

Một cái kết yếu có thể khiến tôi đánh giá lại toàn thể Mục Thần Ký. Những đoạn kéo dài, sự suy giảm sức mạnh nhân sinh ở phần sau hay các thiên kiến văn hóa vẫn là những khuyết điểm thật. Nhưng đánh giá tác phẩm sau khi hoàn tất và kinh nghiệm từng sống cùng nó khi nó còn đang hình thành không hoàn toàn trùng nhau.

Tôi từng chờ chương mới, từng bật cười với những con người ở Tàn Lão Thôn, từng bị cuốn vào Duyên Khang biến pháp, từng thấy những tri thức trong sách giáo khoa bỗng biến thành bí quyết để con người thách thức thần linh, và từng nhìn một xã hội nhỏ bé đứng trước một trật tự tưởng như vĩnh hằng.

Những kinh nghiệm ấy đã xảy ra.

Có lẽ vì vậy một tác phẩm không hoàn hảo vẫn có thể trở thành, đối với một người đọc, đỉnh cao của một thể loại. Và từ trường hợp ấy, mỹ học tiếp nhận văn chương mạng còn để lại một câu hỏi mà tôi thấy đáng suy nghĩ:

Phần đời sống tinh thần được hình thành trong những năm người đọc sống cùng một tác phẩm đang viết có còn thuộc về tác phẩm ấy hay không, khi văn bản cuối cùng đã hoàn tất?


Ghi chú: Bài viết được hình thành từ kinh nghiệm đọc cá nhân, trao đổi và phản biện nhiều lượt với AI, sau đó đối chiếu với một số nghiên cứu và bình luận đã có về văn học mạng Trung Quốc và Mục Thần Ký. Các cách gọi như “đọc xuyên qua câu chữ”, “ký ức đồng hành” và “khả năng cư trú” được sử dụng như những công cụ diễn đạt cho kinh nghiệm đọc trong bài, không nhằm tuyên bố quyền ưu tiên học thuật.