Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

THỜI GIAN CÓ VẺ KHÔNG QUAN TÂM LẮM ĐẾN LÝ LỊCH

“Ký ức bám rễ vào cái cụ thể, vào không gian, cử chỉ, hình ảnh và đồ vật.” 

(Những di chỉ của ký ức Pierre Nora, Nxb Tri Thức, 2009)

 

Quanh Hồ Gươm đang có nhiều ý tưởng muốn làm cho lịch sử trở nên rõ ràng hơn: nối những biểu tượng thành trục, mở thêm những tầm nhìn, gọi lại một ngôi chùa đã mất, và cuối cùng đặt thêm một Khải Hoàn Môn để câu chuyện có đầu có cuối. Ý tưởng nghe khá mạch lạc. Chỉ có lịch sử Hồ Gươm hình như từ trước đến nay lại không có thói quen sống mạch lạc như vậy.

Chuyện nổi tiếng nhất đương nhiên là vua Lê trả gươm cho Rùa thần. Nhưng câu chuyện chúng ta thuộc lòng hôm nay bản thân cũng là kết quả của một quá trình kể lại và bồi đắp lâu dài. Còn Tháp Rùa, thứ ngày nay gần như không thể tách khỏi trường nghĩa Lê Lợi – gươm thần – Rùa Vàng, lại là công trình cuối thế kỷ XIX. Sinh sau sự kiện được kể vài trăm năm, chẳng họ hàng trực tiếp gì, nhưng ở với nhau lâu ngày rồi cũng thành người một nhà. Thời gian có vẻ không quan tâm lắm đến lý lịch.

Bờ tây hồ cũng vậy. Khu vực Nhà thờ Lớn gắn với dấu tích của chùa và tháp Báo Thiên nổi tiếng thời Lý, nhưng qua nhiều thế kỷ nơi này đã trải qua những biến đổi phức tạp trước khi Nhà thờ xuất hiện cuối thế kỷ XIX. Nếu chỉ xét nguồn gốc thì đây là một công trình Công giáo được dựng trong thời kỳ Hà Nội đang bị tái cấu trúc mạnh mẽ dưới quyền lực thuộc địa. Nhưng gần một thế kỷ rưỡi trôi qua, người Hà Nội đi lễ, đi chơi, hẹn hò, uống trà, chụp ảnh cưới, nghe chuông nhà thờ và quen với bóng dáng nó trong thành phố. Một công trình từng thuộc về một cuộc thay đổi trật tự không gian nay lại trở thành một phần của “Hà Nội xưa”. Thời gian không hỏi giấy khai sinh.

Gần đó là tượng vua Lê. Vua thuộc thế kỷ XV, tượng thuộc cuối thế kỷ XIX và việc dựng tượng lại gắn với Hoàng Cao Khải, một nhân vật mà lý lịch chính trị đặt cạnh Lê Lợi tạo ra một tổ hợp khá khó giải thích nếu ta cứ nhất quyết đòi các biểu tượng phải thống nhất về tư tưởng. Một nhân vật quan trọng của bộ máy bản xứ trong trật tự thuộc địa góp phần dựng tượng vị vua đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ phương Bắc, ngay cạnh cái hồ đang ngày càng được gắn chặt với huyền thoại trả gươm. Tượng thì không phải làm bản tự khai.

Sang phía đông hồ lại gặp chùa Báo Ân. Ngôi chùa lớn được Nguyễn Đăng Giai đứng ra xây dựng giữa thế kỷ XIX, nhưng ngay người đương thời cũng đã có những lời châm biếm khá cay nghiệt về việc huy động nguồn lực để xây chùa. Người Pháp đến, phần lớn chùa bị phá; thành phố hiện đại tiếp tục viết lên khu vực ấy bằng Điện lực, Bưu điện, công sở, ngân hàng, phố thương mại và những thiết chế mới. Hơn một thế kỷ sau, chùa đã mất bỗng được nhớ đến như một lớp lịch sử cần “gợi nhắc”, trong khi một số thứ đã thực sự đứng đó hơn trăm năm lại có nguy cơ bị xem đơn giản là công trình hiện trạng. Cái còn có thể phá vì đã cũ; cái mất có thể xây mới vì là lịch sử. "Ngạ tử Đài thành Phật cứu ai?".

Mà những thứ trông kém phần lịch sử ấy đôi khi lại làm nên lịch sử nhiều hơn ta tưởng. Người Pháp không chỉ dựng mấy tòa nhà Tây quanh hồ. Thành phố mới còn có điện, bưu điện, nhà in, trường học, ngân hàng, bản đồ, thống kê, báo chí và một bộ máy công chức mới. Benedict Anderson từng chỉ ra vai trò của in ấn, giáo dục và hành chính trong việc tạo nên những cộng đồng quốc gia hiện đại: những người xa lạ bắt đầu đọc cùng một thứ tiếng, học những tri thức tương tự, nhìn cùng những bản đồ và tưởng tượng mình đang sống trong một thế giới chung. Trớ trêu thay, chính những công cụ của chế độ thuộc địa sau đó lại được người bản xứ chiếm dụng để nghĩ về quốc dân, lịch sử và tương lai của mình.

Quanh Hồ Gươm có gần đủ bộ. Đầu Hàng Đào có Đông Kinh Nghĩa Thục. Hàng Gai, Hàng Bông có nhà in, hiệu sách. Tràng Tiền có cơ sở in lớn. Bên hồ có Bưu điện, Điện lực; xa thêm chút nữa là các công sở, trường học, ngân hàng, nhà hát. Thành thử quanh nơi ngày nay chứa đặc quánh các biểu tượng về quốc gia từng tồn tại cả một phần hạ tầng sản xuất và lưu thông ý thức về quốc gia hiện đại. Những thứ ấy không chỉ được xây trong thành phố. Chúng tham gia làm ra một kiểu thành phố mới, một lớp người mới và một công chúng mới.

Câu chuyện đến thời chúng ta vẫn giữ được vẻ nhập nhằng ấy. Hội Kiến trúc sư Việt Nam từng đặt trụ sở ở 23 Đinh Tiên Hoàng, ngay khu vực phía bắc hồ hiện được đề xuất cải tạo mạnh. Hội vừa tổ chức đại hội tại Nhà hát Hồ Gươm, một công trình mới thuộc hệ thống thiết chế văn hóa – an ninh của thành phố. Cũng chính giới kiến trúc những ngày này đang tranh luận khá sôi nổi về đồ án đề xuất đặt một Khải Hoàn Môn trên phố Đinh Tiên Hoàng, không xa nơi Hội từng đặt trụ sở. Chẳng nên suy diễn gì từ những vòng nối ấy; chỉ có thể nói Hồ Gươm dường như rất có duyên khiến những con người, công trình và thiết chế của nhiều thời đại cứ gặp lại nhau theo những cách chẳng ai thiết kế trước.

Nhìn từ nhân học đô thị, chuyện ấy thực ra chẳng có gì bất thường. Biểu tượng không sinh ra một lần rồi đứng nguyên với một ý nghĩa. Người ta dựng nó, phá nó, kể lại về nó, quên nó, nhớ lại nó, chiếm dụng nó cho một mục đích khác; đôi khi còn đem nó ra đùa. Một công trình của quyền lực này có thể trở thành ký ức thân thuộc của cộng đồng khác. Một biểu tượng được dựng vì một lý do có thể vài thế hệ sau được yêu quý vì lý do hoàn toàn khác. Thành phố sống được chính bởi khả năng tiêu hóa những thứ không cùng lý lịch như thế.

Bởi vậy, có lẽ điều đáng ngại nhất không phải Hồ Gươm đang có quá nhiều lớp lịch sử. Cũng không phải các lớp ấy lộn xộn, thậm chí đôi khi trái khoáy với nhau. Đó chính là độ lùi của thời gian lịch sử.

Điều đáng ngại hơn là sau vài trăm năm con người xây, phá, kể, quên, nhớ và sống cùng nhau để tạo ra một mớ quan hệ rắc rối nhưng khá bền, một ngày chúng ta bỗng thấy chúng chưa đủ rõ. Thế là lấy thước nối Tháp Rùa với đền Ngọc Sơn, nối tiếp lên một Khải Hoàn Môn; mở Nhà thờ Lớn cho nhìn thẳng ra hồ; rồi tìm cách gọi lại một ngôi chùa đã biến mất.

Thời gian vốn không quan tâm lắm đến lý lịch. Có khi chỉ người làm quy hoạch mới sốt ruột muốn làm hộ nó một bản lý lịch cho ngay ngắn.

 


Không có nhận xét nào: