Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011

Đọc "Du hành cùng Herodotus". Ryszard Kapuscinski.

Những cuốn sách tôi đọc được trong khoảng 1-2 tháng gần đây đều được đọc theo kiểu tranh thủ. Khởi đầu là cố gắng thu xếp để cầm nó lên đọc một chút, với tư tưởng nếu nó hay thì sẽ còn đọc lại, kỹ hơn; còn không ít ra cũng là đọc cho xong, để khuây khoả. "Du hành cùng Herodotus" đã từng được nâng lên đặt xuống vài lần để có thể bắt đầu, lần này thì đã có thể đọc đều đặn đến tận cuối với một dư vị riêng.

"Một cuốn du ký" - bây giờ hoá ra vẫn còn có thể gấp lại một cuốn du ký để lắng nghe trong tâm trí mình những cảm giác bồi hồi. Như thể mình vừa rời khỏi một chặng đường nhiều ký ức, biến cố. Như thể mình đã để lại một phần ở đâu đó; cũng như thể những ký ức đã là một phần cũ kỹ trong mình. Hay rốt cuộc đây chỉ là mỗi lần đọc du ký, tự truyện thì sẽ có kiểu cảm giác như vậy - một kiểu quy ước đã ẩn sâu trong tiềm thức?

"Rú mọi" (Rừng người Thượng) là một cuốn du ký. "Nhiệt đới buồn" cũng là du ký. Nhưng "Rú mọi" thì bị cắt hết phần cá nhân để chỉ còn lại những thông tin đọc cho biết. "Nhiệt đới buồn" thì còn chưa lội được quá chương 1. Có lẽ cuốn du ký của R.K ăn nhập vào tâm trí tôi là do những ký ức được biểu hiện cùng một cái cách mà tác giả rất tâm đắc trong cách viết "Sử ký" của Herodotus - lối viết như trong phóng sự "xuất phát từ những con người và mối liên hệ tôi - anh ta, tôi - những người khác...". Lịch sử ở đây là lịch sử của một ai đó - một sử lịch theo cách dùng từ của Bùi Giáng.

Giống như cái cách mà R.K diễn đạt về mối nguy sa vào cái bẫy của "chủ nghĩa địa phương của thời gian" (từ T.S.Eliot), tôi nghĩ rằng mỗi khi chúng ta cảm thấy ham thích tìm tòi về quá khứ, trước hết chúng ta bắt đầu từ một ý thức tiềm tàng rằng "hiện thực đã luôn tồn tại", "lịch sử chỉ là một chuỗi không ngừng của hiện tại"; và trong mối cảm khái về kích thước hiện hữu của đời mình, chúng ta gặp lại những nỗi thúc bách tàn dư của niềm tin rằng có thể mô tả được thế giới.

Thực tế cả cuốn sách của R.K là sự kết hợp khéo léo và lỏng lẻo những địa điểm, những câu chuyện theo những bước nhảy thường xuyên vượt thời gian từ ký ức. Những bước nhảy làm nền cho những câu chuyện, làm chúng ta có được cái cảm giác về một tổng thể. Mô tuýp điển hình là: tôi (R.K) rơi vào chỗ đó, hoàn cảnh đó - những hoàn cảnh thời đại đáng ngưỡng mộ đối với người khác - tôi đương đầu với sự bất ổn của thời sự bằng những đào luyện từ lịch sử và chiêm nghiệm từ chính những chiều kích nhỏ bé của một cá nhân phất phơ trong sóng gió thế sự và cả tâm thế bơ vơ giữa 2 bờ văn hoá xa lạ. Tôi ở đó, thấy như vậy và nghĩ rằng...đó là một mô tuýp chân thực và sống động, nhưng làm thế nào R.K đã thoát ra được khỏi lối mòn của sự chân phương? (Lần này, sự thiếu hiểu biết của tôi về tác giả này đem lại sự may mắn thoát ra khỏi những gợi ý của sự nổi tiếng sẵn có).

Sẽ có phần dễ dàng nếu quy kết sức hấp dẫn của cuốn sách cho văn phong của tác giả. Phảng phất xuyên suốt tác phẩm là tâm tính rộng mở kiên nhẫn - của R.K và của Herodotus: trong nhãn quan về một thế giới đa văn hoá, sự khác biệt là để nhấn mạnh tính tổng thể rộng mở. Từ cái nhìn này, những chi tiết được thu xếp, những sự kiện, những nhân vật được ghi nhận và mô tả trong tương quan và chiều kích của chúng; và những câu hỏi để ngỏ bổ khuyết những gì cần thiết của một cảm xúc tổng thể về một thế giới, một lịch sử mà "tính đa văn hoá của thế giới là một mô sống đang đập, không có cái gì của nó được đưa ra và xác định vĩnh viễn, mà thay vào đó nó không ngừng biến hình, thay đổi, tạo ra các mối tương quan và phạm vi mới".

Lựa được cho mình một tâm thế với thế giới và lịch sử, trung thành với chiều kích và tương quan hiện hữu cá nhân của mình và trọn vẹn trong những đào luyện của trải nghiệm xê dịch giữa thời cuộc biến động. Phải chăng đó chính là mấu chốt để trong phạm vi nhỏ bé của một cuộc đời - không - thể - biết - tất - cả - mọi - sự, ta có thể trung thực, tự tin và say mê đối diện với bể kiến thức, thông tin khổng lồ của quá khứ, với sự vô tận đầy bất trắc của các không gian văn hoá?

-------
Nhưng khi nhìn thấy cả Hellespont bị các chiến thuyền phủ kín, cả bờ biển và bình nguyên Abydus đầy ngập quân lính, Xerxes tự gọi mình là một người hạnh phúc rồi sau đó bật khóc.


(...) "Phải, nỗi buồn xâm chiếm ta khi ta nghĩ rằng toàn bộ cuộc sống của con người mới ngắn ngủi làm sao, vì trong số người đông đúc kia sau một trăm năm sẽ không ai còn lại trên đời".


(Du hành cùng Herodotus - R.K).

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

carnets - cử chỉ - nhịp điệu

- Người xa xưa luôn canh chừng những nguy hiểm hay thú vui tiềm ẩn trong môi trường.
- Tính thiếu chính xác của giác quan (thông qua da và sờ mó). (Chính xác: tại sao lại chính xác - chính xác chỉ là khái niệm của trí tuệ!)
- Chúng ta không thể hiểu được bất cứ điều gì nếu điều đó không làm liên tưởng tới một trong những ký ức của chúng ta. -> Mọi cảm giác đều làm nổi lên trên bề mặt của ý thức 1 cấu trúc tâm thức đã bị lãng quên, một dấu hiệu trùng hợp với những ấn tượng đã có.

- Cử chỉ tồn tại song song với cuộc sống và trước lời nói.
 -> Con người diễn đạt bằng cử chỉ.
 -> Sau đó trở thành dấu hiệu với những người xung quanh.
 -> Các cử chỉ tạo cho họ cùng 1 cảm xúc - vì người ta chỉ thực sự hiểu cái mà người ta có thể nhắc lại.

- Cử chỉ/hành động liên quan đến nhịp thở. -> Nhịp độ có trước tiên: Nhịp độ cá nhân quy định hình thức của cá nhân đó.
- Để diễn đạt con người dùng các dấu hiệu bằng cử chỉ. -> Cử chỉ diễn giải thông tin từ thị giác và thính giác thành những thể hiện của trải nghiệm xúc giác.
- (từ khởi điểm xa xưa) cách diễn đạt ý nghĩ trừu tượng nhất được bắt đầu từ một hành động phản xạ.
- Từ chỗ là sự biểu đạt chủ quan, sau nhiều lần lặp đi lặp lại, cử chỉ trở thành dấu hiệu mang tính quy ước, cách trao đổi 1 khái niệm và sau đó là gợi ý về 1 suy nghĩ, bởi vì trong quan hệ nguồn gốc của cử chỉ có sự giống nhau rất rõ ràng giữa việc hình thành thói quen/cách hiểu hiện tượng/và sự ra đời của biểu trưng.

*Ý nghĩa của từ "cử chỉ": đó là cách nhìn nhận chủ yếu, có thể sử dụng nhiều giác quan khác nhau: thính giác, thị giác, khứu giác và xúc giác (R.P.Jousse).
- "Mọi tạo vật đều có xu hướng tái tạo ra cái giống như nó, cái mà nó thể hiện và cái đồng nghĩa với nó".
- Cử chỉ thể hiện quyền lực của cái tôi mà hình ảnh bên trong chính là cuộc sống của ý thức.
- [Cái tôi nội tâm, trung tâm của cử chỉ, chủ thể và đối tượng của nhận thức trực quan] -> Luật phối cảnh thu nhỏ lại tất cả những gì ở xa chúng ta -> nuôi dưỡng ảnh hưởng xu nịnh của lòng tự cao tự tại.
-> Tính tự mê làm chúng ta tiếp thu tất cả những thứ mà ta nhìn thấy như ánh phản cái tôi của chúng ta trong chiếc gương sự vật.
   -> Cho là mọi đối tượng đều phụ thuộc vào mình
   -> Trao cho chúng sự sống và ý thức
   -> Trao tâm hồn mình cho mọi thứ có hình thể.

- Cử chỉ xác định giới hạn của 1 cách đo đạc thể chất và đặt mốc giới cho khả năng biểu đạt của chúng ta.
---------------------------------
(1) Sinh tồn: luôn chú ý đến những dấu hiệu của sự hiện diện của các sinh vật và sự vật xung quanh - thông qua các giác quan. (a) trực tiếp: mù quáng, đa trị, ít chọn lọc; (b) gián tiếp: thông tin ngoài tầm tay.
(2) Trí tuệ: chúng ta hiểu bằng việc liên tưởng tới ký ức - như "in chồng xếp": hình ảnh mới tác động mới nhưng đồng thời làm sống lại cảm nhận cũ.
(3) Phản xạ: hành động/diễn đạt bằng cử chỉ = thể hiện trải nghiệm trước tiên của xúc giác ->diễn giải có hiệu quả những thông tin từ thị giác và thính giác.
- Nhịp độ/sự lặp lại/sự cùng trải nghiệm -> cùng hiểu cử chỉ/thông tin.


(4) dấu hiệu = thông tin từ cử chỉ = trải nghiệm xúc giác -> thông tin thị giác, thính giác <-> trải nghiệm xúc giác => ý nghĩ trừu tượng có khởi nguồn từ 1 hành động phản xạ.
(5) Chúng ta giao tiếp với thực tại không gian 3 chiều bằng ngôn ngữ thân thể. (xây dựng cái tôi trong thời gian bằng tích lũy kinh nghiệm/trải nghiệm).
(6) Luật phối cảnh thu nhỏ thế giới ở xa - lòng tự cao tự đại.
(7) Tính tự mê: nhìn mọi vật là phản ánh cái tôi.
(8) Sự đồng cảm xạ ảnh là nguồn gốc của thuyết vật linh: ngay cả khi con người đã tiến vào lĩnh vực tư duy trừu tượng, cách nhìn thế giới vấn tiếp tục gắn với hệ thống quy tắc vận động của bàn tay, đã được ghi nhận trong khuôn khổ 3 chiều không thể vượt ra của không gian.
---------------------------
Tiếng kêu là nguồn gốc của tiếng hát.
- Tiếng nói sinh ra cùng với con người.
- Tiếng nói được sinh ra khi tiếng kêu và hơi thở tạo thành âm tiết.
- Có mối liên hệ giữa cảm xúc và âm thanh: sự tương đồng huyền bí kết hợp âm nhạc và đời sống nội tâm.
- Chó và mèo vẫn chứng minh cho ta thấy rằng giọng điệu có tác dụng hơn lời nói.
- Tiếng nói được sinh ra từ sự ăn khớp ngẫu nhiên, được công nhận và được chấp nhận, giữa cảm xúc và 1 âm thanh tương ứng từ miệng phát ra, nhờ thanh điệu của giọng nói kết hợp với cảm xúc ấy.
- Tiếng kêu được sinh ra dưới sức ép của 1 cảm xúc mạnh mẽ thể hiện 1 mong muốn, truyền đạt 1 mệnh lệnh, đưa ra 1 cử chỉ cần làm hoặc yêu cầu giúp đỡ, được người nghe hiểu như 1 cách giao tiếp khá dễ hiểu để làm theo; còn tiếng nói được sinh ra cùng lúc với biểu tượng khi cảm xúc kết hợp với nhịp điệu của giọng nói.
   -> vai trò của nhịp điệu - lặp đi lặp lại: có thể làm lại/kết hợp nhịp thở.

Từ tên riêng đến từ chung

- Ở tất cả các sinh vật, động vật cũng như con người, luôn thường trực nhu cầu tụ tập thành nhóm để tránh bị cô đơn, mà cô đơn ở thời xa xưa là rất nguy hiểm, để cùng tham gia vào các hoạt động tập thể cùng làm 1 việc khó, hay chỉ để quây quần với nhau, nhìn thấy nhau theo bản năng gắn bó. (mà các nhà tập tính học đương đại muốn thay thế cho dục năng - libido nổi tiếng của Freud vì nó chỉ là 1 dạng thức khác mà thôi).
- Sự cần thiết phải nói đúng, phải luôn hiểu rõ về ngôn ngữ bảo đảm đem lại cho ngôn ngữ tầm quan trọng của 1 nghi lễ bộ tộc.
-> Lao động tập thể tạo điều kiện cho biến đổi từ riêng - từ chung.

Những biến đổi của cử chỉ
- Khởi đầu từ ấn tượng cảm xúc tác động tức khắc bằng giao cảm.
- Hành động,mang tính tức thì theo định nghĩa, lần lượt gây ra tác động và chỉ thoát ra khỏi tình trạng tạm thời nhờ nhịp của cử động, nghi lễ và các biểu trưng.

Vai trò tối cao của nhịp điệu
- Lời nói được coi như 1 thần khải gắn liền với nhịp điệu, vì chính nhịp điệu đã truyền cho con người sự sống mà họ là 1 biểu hiện, mọi hình thái đều bắt nguồn từ sự lặp lại của 1 cử chỉ.
- Vần điệu của thơ không chỉ giúp ghi nhớ, học thuộc lòng và truyền đạt Kinh Thánh, mà còn điều hòa các yếu tố vô thức và thiếu phối hợp ở người đọc nhờ những rung động đồng thời lan tỏa trong những tiếp nối tâm thân và tâm linh của cá tính.
- Nhịp điệu - cốt lõi thiên nhiên -> con người có khả năng cảm nhận và hiểu được -> hành động thoát khỏi tính tức thì!
- Nhịp điệu điều khiển việc thực hiện công việc -> chuyển nỗ lực thành nhiệm vụ của vô thức và thói quen qua nhịp thở -> sự mã hóa chính xác các cử chỉ.

Ba ngôi của động từ
- Các đại từ thay thế danh từ riêng và biểu thị người là những yếu tố bị đứng riêng rẽ sớm nhất, đặc biệt đại từ sở hữu đã xuất hiện trước cả đại từ nhân xưng.
- Óc sở hữu vốn thuộc bản năng giữ gìn và không phải là kết quả của 1 nền văn minh tiên tiến.
- Mọi cuộc chuyện trò hay mọi thông điệp đều có thể là mối quan hệ giữa 3 thực thể.

36 hành động và động tác
- Mối liên hệ nào đó, quan hệ đồng âm, giữa âm và nghĩa, giữa cử chỉ và cách thể hiện bằng lới nói:
  +Platon: bột phát/dựa trên bản chất sự vật.
  +Aritstote: tùy tiện/ước lệ.
- Khi phải đánh giá 1 cảm giác không thể nhận biết bằng xúc giác như màu sắc, mùi vị, họ phải thông qua các ẩn dụ xúc giác nhờ vốn từ vựng phong phú và nhất là nhờ hệ thống biểu trưng của bàn tay.
- Luật tượng trưng dựa trên nguyên tắc không bám sát sự vật mà từ ngữ chỉ; mà bám vào nền chung gắn với chức năng của từ -> nắm lấy cái người ta muốn = có óc thông minh.
- Động từ và đại từ - sinh ra các bộ phận khác của câu.
- 36 tình huống bi kịch, 36 nhóm động từ.

Sự tương đồng kiểu hình học tô pô
- Để thể hiện ý nghĩ của mình, con người đã dùng đến những cách thể hiện dưới dạng sự vật và các vận động của các sinh vật xung quanh, mà không hề quan tâm đến bản chất nội tại của chúng. -> Con người chỉ chú trọng vào bề ngoài của chúng và hướng di chuyển của chúng vì nó có thể trở thành tham chiếu vào biểu trưng gần đúng đối với anh ta.
---------------------------------------

Chép lại từ mấy trang sổ tay xé rời. Chưa rõ là từ cuốn nào nữa :)

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Nêm

Thức trắng đêm để tìm cách thêm vào 1 ngày bình thường 2 khoảng thời gian cho trống rỗng và màu mè :)

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Thiên nhai vô tửu đối Thanh Minh

Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh...

Tôi luôn ấn tượng với tiết Thanh Minh.
Không phải là lý do nhưng thấy vui vì mình đã sinh ra giữa tiết trong sáng, trong 1 ngày trăng tròn :)